Tiểu luận Tìm hiểu tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh có liên quan đến trào lưu chủ nghĩa xã hội phi mác xít - Pdf 15


Tiểu luận Tìm hiểu tư tưởng cơ bản của Chủ
tịch Hồ Chí Minh
có liên quan đến trào lưu chủ nghĩa
xã hội phi mác xít
Nam và cách mạng thế giới cho nên đã có không ít các nhà khoa học trong và ngoài
nước, các công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp, về tư tưởng của Hồ Chí Minh.
Các công trình nghiên cứu về tư tưởng của Hồ Chí Minh thường tập trung tìm hiểu tư
tưởng của Người về đường lối cách mạng, về CNXH, về xây dựng Đảng, xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc, về văn hóa, đạo đức cách mạng Cho đến nay chưa có một
công trình nào nghiên cứu riêng về tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với các trào lưu
CNXH phi Mác xít, đối với các quan điểm, tư tưởng sai trái, phi Mác xít trong cách
mạng Việt Nam.
Đối với sinh viên chuyên ngành CNXH khoa học, vấn đề tìm hiểu tư tưởng Hồ
Chí Minh về các quan điểm, tư tưởng phi Mác xít trong cách mạng Việt Nam là vấn
đề thiết thực và bổ ích nhằm trước hết nâng cao nhận thức trong quá trình học tập các
môn học thuộc chuyên ngành CNXH. Mặt khác làm rõ hơn các tư tưởng về đấu tranh
chống các quan điểm sai trái, tư tưởng phi Mác xít trong cách mạng Việt Nam của Hồ
Chí Minh.
3. Phạm vi, phương pháp nghiên cứu đề tài
Do hạn chế về khả năng nghiên cứu và tài liệu tham khảo nên trong tiểu luận
này giới hạn của việc nghiên cứu là chỉ " Tỡm hiểu tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ
Chí Minh có liên quan đến trào lưu chủ nghĩa xó hội phi Mỏc xớt ".
Trong tiểu luận này, ngoài phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
tiểu luận còn sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích để nghiên cứu đề tài.
4. Bố cục của tiểu luận
- Mở đầu
- Nội dung
1. Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2. Hồ Chí Minh đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng phi Mác xít trong
cách mạng Việt Nam.
2.1. Hồ Chí Minh đấu tranh chống chủ nghĩa Tờ-rôt-xkít.

hạnh phúc, dân tộc được độc lập, tự do.
Trước sự thất bại của các phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc, tháng 7
năm 1911, tại bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên tàu đi bôn ba thế giới để tìm
cho ra con đường đúng đắn nhất nhằm giải phóng dân tộc mình.
Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều nước trên thế giới từ các nước thuộc địa đến các
nước tư bản chủ nghĩa, từ châu á đến châu Phi, châu Mỹ và châu Âu, ở đâu người
cũng nhận thấy một điều là xã hội luôn chia làm hai hạng người. Một bên là những
người lao động nghèo khổ, bị bóc lột và một bên là những kẻ giàu có, bọn bóc lột,
ngay cả ở những nước tư bản chủ nghĩa được coi là tiến bộ nhất, văn minh nhất thì
cũng như vậy, do đó Người càng quyết tâm tìm cho ra con đường thực sự để giải
phóng dân tộc mình.
Năm 1920, Người bắt gặp bản "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I.Lênin, trong bản sơ thảo đó, Người đã tìm thấy con
đường cách mạng để giải phóng dân tộc mình và từ đó người hướng các tìm hiểu, học tập
chủ nghĩa Lênin, tích cực hoạt động trong phong trào công nhân Pháp và phong trào công
nhân quốc tế.
Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần nhân đạo cao cả cùng với ý chí và nghị lực
phi thường đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với phong trào
cộng sản quốc tế, dần dần Hồ Chí Minh đã chuyển hẳn từ chủ nghĩa yêu nước chân
chính sang lập trường của chủ nghĩa cộng sản.
Từ 1925, Hồ Chí Minh đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt
Nam và lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, đến năm 1930, Người đã chủ trì
hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Suốt từ năm 1930, Hồ Chí Minh khi ở trong nước, khi ở nước ngoài đã luôn
luôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh,
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, năm 1954, thực dân Pháp đã phải rút khỏi
Việt Nam sau khi thất bại trước cuộc "kháng chiến kiến quốc" của nhân dân Việt Nam

Trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, có nhiều vấn đề chủ yếu như: tư
tưởng về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; tư tưởng về CNXH và con đường
đi lên CNXH ở Việt Nam; tư tưởng về Đảng Cộng sản, về đoàn kết dân tộc, về xây
dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, về đạo đức, về văn hóa Trong đó không ít
lần Hồ Chí Minh đã đấu tranh, phê phán các quan điểm, tư tưởng sai trái trong cách
mạng Việt Nam, các quan điểm cách mạng có tính chất phi Mác xít.
Tư tưởng của Hồ Chí Minh đã soi sáng con đường cách mạng, đã đưa cách
mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chính vì vậy việc học tập, kế
thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa
nói chung, về các quan điểm sai trái, phi Mác xít trong cách mạng nói riêng là điều tất
yếu để đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2. Hồ Chí Minh đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng phi Mác xít
trong cách mạng Việt Nam
2.1. Hồ Chí Minh đấu tranh chống chủ nghĩa Tờ-rốt-xkít
Chủ nghĩa Tờ-rốt-xkít là một trào lưu tư tưởng chính trị tiểu tư sản cơ hội chủ
nghĩa thù địch với chủ nghĩa Mác - Lênin, che đậy bản chất cơ hội chủ nghĩa bằng
những lời lẽ cấp tiến tả khuynh.
Trào lưu tư tưởng này xuất hiện đầu thế kỷ XX như một biến dạng của chủ
nghĩa Men sê vích trong Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga mà lãnh tụ là nhà tư
tưởng Tờ-rốt-xkít. Chủ nghĩa Tờ-rốt-xkít hình thành như một phản ứng đối với giai
đoạn phát triển Lê-nin-nít của chủ nghĩa Mác, đối với sự ra đời của một đảng cách
mạng chân chính, kiểu mới ở Nga và nó phản ánh tâm trạng của một bộ phận trí thức
tiểu tư sản thành thị ham thích cách mạng đầu lưỡi nhưng lại đứng ngoài những trận
chiến đấu giai cấp và tiến hành tuyên truyền các quan điểm đầu hàng chủ nghĩa trên
tất cả mọi vấn đề cơ bản đấu tranh cách mạng.
Về mặt phương pháp luận và nhận thức luận thì chủ nghĩa Tờ-rốt-xkít có đặc
trưng là chủ nghĩa cực đoan và chủ nghĩa duy ý chí, chủ nghĩa công thức thô bạo và


Thực chất của bọn Tờ-rốt-xkít là cơ hội chủ nghĩa, chống đối với chủ nghĩa
Mác - Lênin, phá hoại cách mạng song trong hàng ngũ của Đảng ta, có một số cán bộ,
đảng viên mất cảnh giác, thỏa hiệp và hợp tác với bọn Tờ-rốt-xkít.
Đối với bọn Tờ-rốt-xkít, Trung ương Đảng lúc đó cũng đã kiên quyết phê
phán chúng, khẳng định lập trường, thái độ của Đảng đối với chúng. "Trung ương
Đảng đã phê phán tư tưởng thỏa hiệp và hợp tác với bọn Tờ-rốt-xkít trong việc xuất
bản báo La Lutte và coi đó là một điều lầm lỗi rất lớn [25, 150].
Không chỉ như vậy mà Trung ương Đảng còn nhấn mạnh: "Trong cuộc vận
động dân chúng, chủ nghĩa Tờ-rốt-xkít là nguy hiểm nhất, không triệt để chống chủ
nghĩa Tờ-rốt-xkít thì khó thi hành được chiến thuật lập Mặt trận nhân dân thống nhất
Đông Dương" [25, 150]. Cần phải đấu tranh chống bọn Tờ-rốt-xkít ở bất cứ đâu, bất
cứ lúc nào: "vô luận chỗ nào, nó thò đầu ra là đập ngay" [25, 150].
Quan điểm trên của Trung ương Đảng lúc đó cũng đồng thời là tư tưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với bọn Tờ-rốt-xkít.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc đó mang tên Nguyễn ái Quốc đang được "giam
lỏng" ở Liên Xô. Năm 1938, Nguyễn ái Quốc được sự giúp đỡ của một số bạn bè
trong Quốc tế cộng sản đã trở về Trung Quốc, từ đây Người lại tiếp tục chỉ đạo, lãnh
đạo cách mạng Việt Nam. Tuy không trực tiếp vạch ra những quan điểm sai tría của
bọn Tờ-rốt-xkít ở trong nước nhưng trong những ý kiến lãnh đạo đối với Đảng ta,
Nguyễn ái Quốc khẳng định rõ rằng đối với bọn Tờ-rốt-xkít thì "không thể có thỏa
hiệp nào, một nhượng bộ nào. Phải dùng mọi cách để lột mặt nạ chúng làm tay sai cho
chủ nghĩa phát xít, phải tiêu diệt chúng về mặt chính trị" [25, 152].
Bản chất của bọn Tờ-rốt-xkít là cơ hội chủ nghĩa, chống đối chủ nghĩa Mác -
Lênin, các quan điểm và hành động của chúng trong thực tiễn đều nhằm phá hoại cách
mạng. Chính vì vậy Nguyễn ái Quốc khẳng định không thể nhượng bộ cũng như
không thể thỏa hiệp với chúng. Mặt khác cũng như mọi trào lưu chủ nghĩa xã hội phi
Mác xít khác, chủ nghĩa Tờ-rốt-xkít cũng núp dưới bóng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
khoác cái áo cách mạng để hoạt động, tuyên truyền trong phong trào cách mạng. Cho
nên quần chúng cũng như một số cán bộ đảng viên có thể bị chúng qua mặt, do đó

mạng Việt Nam. Họ không hiểu rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành
động, chứ không phải là kinh thánh. Vì vậy họ chỉ học thuộc ít câu của Mác - Lênin,
để loè người ta.
Lại có một số đồng chí khác chỉ bo bo giữ lấy những kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ
không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ
cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc cách mạng" [16, 247].
Trong hai khuynh hướng sai lầm ấy của các đồng chí cách mạng, Hồ Chí Minh
cho rằng khuynh hướng giáo điều là nguy hại hơn cả. "Hai khuynh hướng ấy đều sai lầm.
Sai lầm nhất là khuynh hướng giáo điều, vì nó mượn những lời của Mác, Lênin, dễ làm
cho người ta lầm lẫn" [16, 247].
Đối với Hồ Chí Minh, để sửa chữa những khuynh hướng sai lầm ấy, phương
pháp tốt nhất là không ngừng học tập chủ nghĩa Mác - Lênin gắn liền với hoạt động
thực tiễn của cách mạng.
Học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là học một câu chữ, giáo
điều máy móc, học tập như vậy sẽ lại dẫn đến sai lầm mà theo Hồ Chí Minh, độc lập
lý luận không phải để biến "thành những người lý luận suông" [1, 138] mà học tập lý
luận là để nhằm cho công tác thực tiễn được tốt hơn. Nghĩa là phải "học tập tinh thần
của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ
nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải
quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng" [1, 138].
Nắm vững lý luận rồi lại phải vận dụng lý luận đó vào thực tiễn, đó là cách tốt
để khắc phục khuynh hướng giáo điều. Bản thân lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là lý
luận cách mạng song "lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam
cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính
chất sáng tạo; lý luận luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra trong
thực tiễn sinh động" [1, 137].
Do vậy mà Hồ Chí Minh viết:

theo kịp thì khó mà đưa cách mạng đến thắng lợi.
Thường có khi tư tưởng không theo kịp thực tế. Đó là vì sự hiểu biết của
người bị điều kiện xã hội hạn chế" [16, 255].
Từ sự không theo kịp tình hình thực tế đó mà dẫn đến sai lầm và Hồ Chí Minh
kiên quyết phản đối cả khuynh hướng "tả" và khuynh hướng "hữu" trong cách mạng.
"Phải phản đối những người khuynh hữu. Tư tưởng của hệ thống theo kịp sự
biến đổi của tình hình khách quan. Tình hình đã tiến lên mà sự hiểu biết của họ cứ ở
chỗ chủ, vì tư tưởng của họ xa rời thực hành" [16, 255]. Chính họ sẽ là người làm
phương hại đến sự nghiệp của cách mạng. Hồ Chí Minh ví "Họ cũng như những người
không đi trước xe để hướng dẫn, lại chạy sau xe và tránh xe chạy mau quá. Họ muốn
gò xe lại, làm cho xe thụt lùi" [16, 255].
Còn đối với người tả khuynh, Hồ Chí Minh viết: "Lại cần phản đối những
người khuynh tả. Họ chỉ biết nói cho sướng miệng. Tư tưởng của họ nhảy qua những
giai đoạn phát triển nhất định. Họ cho ảo tưởng là sự thật. Họ xa rời thực hành của đại
đa số nhân dân. Họ không thiết thực. Họ hành động một cách liều mạng" [16, 255].
Những người "khuynh hữu" làm lùi lại bánh xe cách mạng, còn những người
"khuynh tả" thì không thực tế, rơi vào "ảo tưởng" và hành động liều mạng. Cả hai
hạng người này, hai khuynh hướng này đều cần phải chống. Hồ Chí Minh viết:
"Chúng ta chống sai lầm tả khuynh và hữu khuynh, vì nó trái với điều kiện lịch sử"
[16, 256] và như thế sẽ làm tổn hại đến tiến trình cách mạng.
Như vậy là trong quá trình cách mạng Việt Nam, khuynh hướng "giáo điều",
"khuynh tả', "khuynh hữu" đều đa xnảy sinh và chúng có ảnh hưởng tiêu cực đến sự
nghiệp cách mạng Việt Nam. Nếu không đấu tranh chống các khuynh hướng này sẽ
rất nguy hiểm vì chúng có thể dẫn tới sự xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, xa rời hệ tư
tưởng của GCCN một cách nhanh chóng hơn. Trong tác phẩm "Làm gì", Lênin viết:
trong xã hội có giai cấp, không có hệ tư tưởng phi giai cấp, hệ tư tưởng trung gian.
Mọi sự xa rời hệ tư tưởng của GCCN đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng của giai

cách mạng.
Hồ Chí Minh viết: "GCCN Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được
cách mạng" [10, 212] và Người cũng trả lời ngay đối với sự nghi ngờ đó: "Nói vậy
không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải
do số người nhiều ít của giai cấp" [10, 212].
Để làm rõ thêm luận điểm này, Hồ Chí Minh đã luận giải thêm về đặc tính
cách mạng, tổ chức cách mạng của GCCN Việt Nam và những đặc điểm của các giai
tầng khác trong xã hội khiến cho chỉ có GCCN chứ không phải là một giai cấp nào
khác có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Về đặc tính cách mạng của GCCN, Hồ Chí Minh viết: "Đặc tính cách mạng
của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ chức, có kỷ luật. Lại vì
giai cấp tiên tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm để chế độ tư bản và đế
quốc, để xây dựng một xã hội mới, GCCN có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng
nhất, tức là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng
và giáo dục các tầng lớp khác, vì vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành
động, GCCN đều giữ vai trò lãnh đạo" [10, 212].
Đó là xét về đặc tính, còn xét về hệ tư tưởng và tổ chức, "GCCN có chủ nghĩa
Mác - Lênin. Trên nền tảng đấu tranh, họ xây dựng nên Đảng theo chủ nghĩa Mác -
Lênin là Đảng lao động Việt Nam. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, khẩu hiệu cách
mạng, lôi cuốn giai cấp nông dân và tiểu tư sản vào đấu tranh, bồi dưỡng họ thành
những phần tử tiên tiến. Lại có những phần tử trí thức tham gia cách mạng và vô sản
hóa. Thành thử đội ngũ chính trị của GCCN ngày càng phát triển" [10, 212].
Phân tích về giai cấp nông dân, Người nhận xét: "Vì hoàn cảnh kinh tế mà
nông dân thường có tính thủ cựu, rời rạc, tư hữu. Cho nên giai cấp công nhân phải
đoàn kết họ, giúp tổ chức họ và lãnh đạo họ, thì họ là một lực lượng rất to lớn vững
chắc" [10, 213].
Còn giai cấp tiểu tư sản, theo Hồ Chí Minh, họ có những nhược điểm như: "tự

Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, từ đó Đảng luôn luôn giữ vai trò
tiên phong và lãnh đạo trong phong trào cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn như cách
mạng tháng Tám 1945, kháng chiến thắng lợi năm 1954, miền Bắc được giải phóng.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển tổ chức và lãnh đạo cách mạng, Đảng cũng gặp
không ít khó khăn và mắc phải một số sai lầm khuyết điểm. Đảng đã phải đổi tên mấy
lần, Đảng đã có lúc phải tuyên bố giải tán mà thực chất là rút vào hoạt động bí mật,
Đảng đã mắc sai lầm trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc năm 1954 từ những điều
đó mà trong Đảng cũng như trong quần chúng nhân dân, nảy sinh sự nghi ngờ về vai
trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng. Sự hoài nghi đó là chính đáng.
Trước vấn đề "có người hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, có đúng không?" [1,
143], Hồ Chí Minh để giải đáp một cách đơn giản và khoa học.
Trước hết Hồ Chí Minh đã đặt thêm một số câu hỏi để người nghi ngờ tự trả
lời và tự khẳng định về sự lãnh đạo của Đảng. "Nếu Đảng lãnh đạo không đúng thì
cách mạng tháng Tám có thành công không? kháng chiến có thắng lợi không? hơn 8
triệu nông dân miền bắc có ruộng cày không? 3 năm khôi phục kinh tế có hoàn thành
được không? Và ngày nay, đang vào thời kỳ quá độ lên CNXH có được không? [1,
143].
Về vai trò và tính tất yếu lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng, trong nhiều
bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh đã luận giải rất rõ ràng.
Hồ Chí Minh viết: "Có Đảng lãnh đạo, cách mạng và kháng chiến mới thắng
lợi, kiến quốc mới thành công. Vì sao? "[10, 228].
Người trả lời, dù trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong xây dựng đất
nước cũng đều phải cần có sự lãnh đạo của Đảng. Không có Đảng, các cuộc đấu tranh
của nhân dân chỉ là tự phát và sẽ thất bại. "Kinh nghiệm thế giới và trong nước chứng
tỏ rằng: Những cuộc đấu tranh "tự phát" của nhân dân, thường không có mục đích rõ

là cán bộ, là đảng viên, tất nhiên có sai lầm" [1, 143]. Nhưng sai lầm của Đảng là có
thể khắc phục, sửa chữa được và do vậy vai trò lãnh đạo của Đảng không thay đổi.
Hồ Chí Minh viết: "Nhưng sai lầm của Đảng và của chúng ta khác hẳn với sai
lầm của những bọn khác. Đảng thấy sai thì quyết tâm sửa chữa. Thời đế quốc, tư bản
có bao giờ nói có sai lầm, xin sửa chữa đâu. Đảng là người, nên có sai lầm nhưng vì
có chủ nghĩa Mác - Lênin, có mục đích phục vụ nhân dân, có phê bình và tự phê bình,
cho nên kiên quyết sửa chữa" [1, 144].
Khi Đảng đã kiên quyết sửa chữa và đã sửa chữa được những sai lầm và
khuyết điểm của mình thì Đảng nhất định sẽ lãnh đạo thành công cách mạng Việt
Nam. Đó là lời giải thích của Hồ Chí Minh đối với sự nghi ngờ về vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng.
2.5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa văn nghệ gián tiếp phủ nhận bọn
"Nhân văn - giai phẩm"
"Nhân văn - giai phẩm" là tên gọi được viết tất cả tờ báo "nhân văn" và các
tác phẩm "Giai phẩm mùa thu", "giai phẩm mùa đông", "giai phẩm mùa xuân" dùng
để chỉ một liên minh những phần tử phản động, có tư tưởng chống Đảng, chống chủ
nghĩa xã hội trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ.
Nhóm "nhân văn - giai phẩm", chúng là ai?
"Nhân văn - giai phẩm" là một thứ liên minh gồm những phần tử phức tạp,
những phần tử đó hoặc đã có lịch sử làm tay sai cho đế quốc và phong kiến, hoặc do
quyền lợi giai cấp mà thù địch với địch (xuất thân từ tầng lớp trên trong xã hội), hoặc
là những phần tử phản cách mạng Tờ-rốt-xkít, lại cũng bao gồm cả một số phần tử
phản động trong giai cấp tư sản, một số văn nghệ sĩ bị nhiễm sâu tư tưởng của các giai
cấp bóc lột. Khi tờ báo "Nhân văn" ra đời, tờ báo này chỉ ra được 5 số và bị đóng cửa
ngày 15-12-1956, các phần tử này đã tập hợp, hình thành một nhóm chính trị phản
động, hoạt động có kế hoạch, có chỉ đạo.
Xuất hiện từ đầu năm 1956, tồn tại đến giữa năm 1958, hoạt động của bọn

văn nghệ, trả văn nghệ cho văn nghệ sĩ mà chính xác là chúng đòi đưa quyền lãnh đạo
vào tay bọn phản cách mạng.
Đối với sự kiện nổi lên chống phá của nhóm "nhân văn - giai phẩm", Đảng ta
đã kịp thời đấu tranh, phê phán các quan điểm, hành động phản cách mạng của chúng.
Đã tự chấn chỉnh sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn nghệ, giáo dục chủ nghĩa
Mác - Lênin, đường lối cách mạng của Đảng nhằm nâng cao tính Đảng trong các văn
nghệ sĩ.
Hồ Chí Minh mặc dù không có một tác phẩm nào, hoặc không trực tiếp đưa ra
các quan điểm phê phán trực diện những luận điệu của bọn "nhân văn - giai phẩm" (có
thể người viết chưa tìm thấy, hay chưa nghiên cứu kỹ) nhưng thông qua những tư
tưởng của Người về văn hóa văn nghệ, có thể thấy Hồ Chí Minh đã hoàn toàn phủ
nhận các quan điểm của bọn "nhân văn - giai phẩm".
Bọn "nhân văn giai phẩm" phản đối văn nghệ phục vụ chính trị, phản đốivăn
nghệ phục vụ công, nông binh. Nhưng theo Hồ Chí Minh, văn nghệ là một mặt trận,
nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng,
trong xây dựng xã hội mới, con người mới.
Hồ Chí Minh viết:
"Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong" [2, 437].
Đối với các văn nghệ sĩ, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Ngòi bút của các bạn cũng là
những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ từ" [2, 437].
Hoặc có lúc người viết: "Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có
nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân
dân, trước hết là công, nông binh" [2, 437].
Bọn "nhân văn - giai phẩm" cho rằng văn nghệ sĩ là tự thân cách mạng, là đã
có sẵn cái gốc thiện, trong người đã sẵn khuynh hướng về cái tốt, cái đẹp, cái thật. Chỉ
cần người văn nghệ sĩ tự do và chân thành nghe nội tâm của mình thì sẽ thấy hết được
cái tốt, cái đẹp, cái thật ở đời. Còn ở Hồ Chí Minh lại hoàn toàn ngược lại. Chỉ có
thực tiễn cuộc sống của nhân dân mới đem lại nguồn sinh khí vô tận cho văn nghệ. Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong
mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại hoặc dịp thắng lợi - để ngóc
đầu dậy. Nó là bạn đồng minh của hai kẻ địch kia [17, 287].
Nguồn gốc của chủ nghĩa cá nhân là do những tàn tích, ảnh hưởng của xã hội
cũ, Hồ Chí Minh viết: "Sinh trưởng trong xã hội cũ, chúng ta ai cũng mang trong
mình hoặc nhiều hoặc ít vết tích xấu xa của xã hội đó về tư tưởng, về thói quen vết
tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân" [17, 283].
Theo Người, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là một tất yếu trong cách
mạng XHCN trong thời đại quá độ lên CNXH. Hồ Chí Minh viết:
"Thời đại của chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc
càng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng
riêng lẻ mà càng phải hòa bình trong tập thể, trong xã hội.
Do đó, chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa tập
thể, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt" [17,
282].
"Muốn đánh thắng kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, muốn xây dựng thắng lợi
CNXH thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa
cá nhân" [3, 260].
Hồ Chí Minh giải thích rất rõ tác hại của chủ nghĩa cá nhân đối với cán bộ,
đảng viên, đối với cách mạng. Người phân tích, cán bộ đảng viên có đạo đức, phẩm
chất còn thấp kém là do:
"Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của
mình trước hết. Họ "không lo" mình vì mọi người mà chỉ muốn "mọi người vì mình".
Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng
phí, xa hóa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi
thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đáon, chuyên quyền. Họ xa rời quần
chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh cụ thể. Họ không có tinh thân cố

575-576].
Bên cạnh đó, để chữa căn bệnh chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh chú ý hơn cả
đến việc phải "nâng cao trình độ giác ngộ" của cán bộ, cán bộ, đảng viên "phải học
theo tinh thần tiên quyết, dũng cảm, hy sinh của nhân dân và chiến sĩ" [20, 509].
Chủ nghĩa cá nhân khiến cho cán bộ, đảng viên xa rời với quần chúng, xa rời
tổ chức, xa rời đường lối, chính sách của Đảng, không chịu học tập nâng cao trình độ
lý luận và năng lực hoạt động thực tiễn, trau dồi phẩm chất đạo đức cá nhân. Tất cả
những điều đó đều có thể dẫn tới những quan điểm, hành động sai trái với lý tưởng
cộng sản, với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ nghĩa cá nhân là miếng đất màu mỡ có thể làm nảy sinh những tư tưởng,
quan điểm phi Mác - xít. Là điểm yếu mà kẻ thù rất dễ lợi dụng nhằm mua chuộc, lôi
kéo cán bộ, đảng viên đi tới chỗ phản lại cách mạng. Chính vì vậy cần phải tẩy trừ,
phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Theo Hồ Chí Minh "chủ nghĩa cá nhân là kẻ
thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết
tiêu diệt" [4, 29].
3. ý nghĩa của việc nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh có liên
quan đến CNXH phi Mác xít
3.1. ý nghĩa về lý luận
Đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng XHCN phi Mác xít là một trong những
quy luật tất yếu khách quan của cách mạng XHCN. Bởi vì theo Lênin: Trong xã hội
có giai cấp, không có hệ tư tưởng trung gian, hệ tư tưởng phi giai cấp mà chỉ có thể là
hoặc hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, hoặc hệ tư tưởng của giai cấp tư sản. Chính
vì vậy, mọi sự xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân tức là xa rời chủ nghĩa Mác
đều đồng nghĩa với việc tăng cường hệ tư tưởng của giai cấp tư sản (tác phẩm "Làm
gì?").
Trong quá trình cách mạng Việt Nam, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời năm 1930 đến nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã không ngừng được giáo dục, tuyên

bệnh trong cách mạng mà khoảng cách từ chủ nghĩa cá nhân đến chủ nghĩa cơ hội, xét
lại là rất mong manh. Phương pháp đấu tranh, phê phán của Chủ tịch Hồ Chí Minh là
một điểm quan trọng mà chúng ta cần phải học tập. Thái độ phê phán, đấu tranh của
Hồ Chí Minh rất rõ ràng, khôn khéo và phù hợp. Đối với kẻ địch, đối với những người
không thể cải tạo được, Hồ Chí Minh luôn dứt khoát và kiên quyết. Chẳng hạn đối với
bọn Tờ-rốt-xkít, đối với kẻ địch thái độ của Hồ Chí Minh là cần phải "tiêu diệt"
chúng. Đối với những đồng chí của mình, Hồ Chí Minh cũng chia ra ba loại thái độ.
Những người giác ngộ nhưng mắc sai lầm và kiên quyết sửa chữa sai lầm thì phải học
tập họ. Nhưng lo chậm mà mắc sai lầm thì cần gần gũi, giúp đỡ để họ tiến bộ. Còn đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status