Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
BÀI TẬP LỚN
M Ô N: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề bài:
“Anh chị hãy làm rõ vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí
Minh. Vấn đề này hiện hay được Đẳng và Nhà Nước chúng ta giải quyết như
thế nào?”
Giáo viên hướng dẫn:
Thạc sỹ: Lê Thị Hoa
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Vân Anh
Mã SV : CQ520173
Lớp : Tư tưởng Hồ Chí Minh
Hà Nội, tháng 10 năm 2011
Cả cuộc đời chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cho nhân dân, đất nước,
cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người, giải phóng nhân loại cần lao
thoát khỏi mọi áp bức, bất công, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc.
Cũng chính vì vậy, vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp và giải quyết các vấn đề dân
tộc, giai cấp đã được Người quan tâm, nghiên cứu suốt cả cuộc đời. Tư tưởng
Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề
cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến
cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển
chủ nghĩa Mác-Lênin và điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh
hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải phóng con người. Tư tưởng của Người chính là kim chỉ nam, là ngọn đuốc
sáng soi đường cho Cách mạng dân tộc ta thắng lợi.
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Thứ nhất, giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam - một nước thuộc địa
nửa phong kiến, trước hết phải tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,
đánh đuổi quân xâm lược, đánh đổ bọn tay sai, giành độc lập cho dân tộc, tự
do cho nhân dân, hoà bình và thống nhất đất nước.
trong nước ta được chung sống bên nhau một cách bình đẳng, hoà thuận và
cùng nhau đi tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Thứ hai, lựa chọn con đường phát triển của dân tộc. Sau khi giành được
độc lập dân tộc phải đưa đất nước tiến lên xây dựng Chủ nghĩa Xã Hội, nhằm
giải phóng con người, giải phóng xã hội, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, vươn
tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người, mọi dân tộc.
Để giải phóng dân tộc, cần xác định con đường phát triển của dân tộc, vì
phương hướng phát triển dân tộc quy định những yêu cầu và nội dung trước mắt
của cuộc đấu tranh giành độc lập. Mỗi phương hướng phát triển đều gắn liền
với một hệ tư tưởng và một giai cấp nhất định. Từ thực tiến phong trào cứu
nước của cha ông và lịch sử nhân loại, Hồ Chí Minh khẳng định phương hướng
phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại mới là chủ nghĩa xã hội.
Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một vấn đề hết
sức mới mẻ. Từ một nước thuộc địa đi lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều
giai đoạn chiến lược khác nhau. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh có viết: “Làm tư sản dân quyền Cách mạng
và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Con đường đó kết hợp cả nội
dung dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; xét về thực chất chính là con đường
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam nếu chỉ dừng lại ở
cuộc đấu tranh để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân thì sự nghiệp
cách mạng đó mới chỉ đi được một chặng đường ngắn mà thôi. Bởi có độc lập,
có tự do mà nhân dân vẫn đói khổ, thì nền độc lập tự do ấy cũng chẳng có ý
nghĩa gì.
Hồ Chí Minh đã thấu hiểu cảnh sống nô lệ, lầm than, đói rét và tủi nhục
của nhân dân các dân tộc Việt Nam trong thời thực dân, phong kiến. Bởi vậy,
một trong những nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định của sự nghiệp giải
phóng xã hội, giải phóng con người, theo Hồ Chí Minh là phải xoá bỏ nghèo
nàn và lạc hậu, vươn tới xây dựng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc thật sự
cho tất cả mọi người. Đó là ước nguyện, là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh
Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh lịnh sử cụ thể ở thuộc địa. Đó cũng
là nét độc đáo, khác biệt với con đường phát triển dân tộc đã phát triển lên chủ
nghĩa tư bản ở phương Tây.
Thứ ba, phải thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc và đoàn kết,
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh chẳng những là người quan tâm đến đoàn kết dân tộc, mà
chính Người là hiện thân của sự đoàn kết đó, là người trực tiếp tổ chức khối đại
đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện gây chia rẽ,
hiềm khích, kỳ thị dân tộc để thực hiện tình đoàn kết trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam. Bài học kinh nghiêm về đoàn kết trong cách mạng Việt Nam
được Người tổng kết thành 14 chữ vàng như sau:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”
Để thực hiện quyền bình đẳng và xây dựng tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn
nhau cùng tiến bộ trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, xuất phát từ hoàn
cảnh và điều kiện sống của các dân tộc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đặc biệt
quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người, sống ở miền núi, vùng sâu và vùng xa
của đất nước. Bởi, theo Người so với đồng bào sống ở miền xuôi, vùng đồng
bằng và đô thị, thì đời sống của đồng bào ở miền núi, xét trên mọi phương diện,
còn thấp và gặp rất nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy, miền núi và vùng sâu,
vùng xa của đất nước ta, là nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, trình độ
sản xuất và văn hoá của nhân dân nơi đây còn rất thấp. Nơi ăn, chốn ở, trường
hợc, cơ sở y tế và giao thông đi lại còn nhiều khó khăn và thiến thốn. Bên cạnh
đó, do trình độ dân trí thấp nên những thủ tục lạc hậu, mê tín, di đoạn còn rất
nặng nề.
Hơn nữa, khu vực miền núi nước ta – nơi làm ăn sinh sống chủ yếu của
đồng bào các dân tộc ít người, là nơi giáp biên giới với số nước láng giềng, xa
đồng bằng, địa bàn hiểm trở, dân cư thưa thớt, nhiều vùng vốn là căn cứ địa
cách mạng quan trọng của cách mạng Việt Nam trước đây. Bởi vậy, quan tâm
đến đồng bào dân tộc ít người vừa thể hiện tính nhân văn sâu sắc của Hồ Chí
Độc lập tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa. Hồ Chí
Minh nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả
những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Khát vọng đó được thể
hiện trong ản Yêu sách mà Hồ Chủ Tịch gửi tới hội nghị Véc-xây năm 1919,
bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930. Tháng 8-1945, Người
đúc kết ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân ta trong câu nói bất hủ:
“dù hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên
quyết dành cho được độc lập”. Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh thay mặt
Chính phủ lâm thời đọc tại Quảng trường Ba Đình đã long trọng khẳng định
trước toàn thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tư do và độc lập. Toàn thể
dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải
để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Ý chí và khát vọng của dân tộc Việt Nam, tư tưởng vĩ đại của Hồ Chủ
Tịch luôn được khẳng đinh trong các văn kiện lịch sử. Độc lập, tự do là mục
tiêu phấn đấu, là nguồn sức mạnh tạo nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam
trong thế kỷ XX, một tư tưởng lớn trong thời đại giải phóng dân tộc. “Không có
gì quý hơn độc lập, tự do” là khẩu hiệu hành động của dân tộc Việt Nam, đồng
thời cũng là nguồn cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đang đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân.
Từ những năm 20 của thế ky XX, khi các quốc gia tư bản phương Tây đã
chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, chiến tranh xâm lược thuộc địa và
thiết lập ách thống trị ngày càng hà khắc, tàn bạo, Nguyễn Ái Quốc đã nhận
thấy sự bóc lột của bọn chúng ngày càng nặng nề. Càng nhân nhượng chúng sẽ
càng lấn tới, vì vậy chúng ta càng phải đấu tranh. Không chỉ quần chúng lao
động mà cả các giai cấp và tầng lớp trên trong xã hội đều phải chịu nỗi nhục
của người dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập, tự do.
Cùng với sự lên án chủ nghĩa thực dân và cổ vuc các dân tộc thuộc địa
cùng dậy đấu tranh, Hồ Chí Minh khẳng định: “Đối với các dân tộc thuộc địa ở
phương Đông, chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Vì thế, người ta
sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực
quan trọng nhất khiến cho các phong trào đó thất bại chính là do bế tắc về
đường lối, mặc dù các bậc lãnh tụ của những phong trào yêu nước ấy đã dành
nhiều tâm huyết cho sự nghiệp của mình, nhưng họ không nhận thức được xu
thế của thời đại, nên không thấy được giai cấp trung tâm của thời đại lúc này là
giai cấp công nhân - giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất mới, một
lực lượng tiến bộ xã hội. Do đó, mục tiêu đi tới của những phong trào ấy không
phản ánh đúng xu thế vận động của lịch sử và thời đại, nên không thể đem lại
kết quả và triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội Việt Nam.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã đấu
tranh và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng
giai cấp, bền bỉ chống các quan điểm không đúng về vấn đề dân tộc và thuộc
địa, đã phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay từ khi hoạt
động trong phong trào công nhân ở Pháp, Người đã nhận thấy một hố sâu ngăn
cách giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động ''chính quốc'' với giai cấp
công nhân và nhân dân lao động thuộc địa. Đó là chủ nghĩa sô-vanh nước lớn
của các dân tộc thống trị và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đối với các dân tộc bị
thống trị.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới thành lập, “Chính
cương vắn tắt” do Hồ Chí Minh khởi thảo đã khẳng định: “Chủ trương làm tư
sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Như vậy là, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với Hồ Chí Minh,
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng Xã hội Chủ
nghĩa. Cuộc cách mạng này kết hợp trong bản thân nó tiến trình của hai sự
nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân và giải phóng
giai cấp khỏi ách áp bức bóc lột. Vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập trường
của giai cấp công nhân - điều đó phù hợp với xu thế thời đại và lợi ích của các
giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc. Sức mạnh đi tới thắng lợi của cách
mạng Việt Nam không phải là cái gì khác mà là mục tiêu dân tộc luôn thống
nhất với mục tiêu dân chủ trên cơ sở định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Đặc điểm
nổi bật của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân triệt
này.
Tuy thế, trong những năm gần đây, ở nước ta đã nảy sinh một ý kiến cho
rằng: mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp luận chứng trong chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ đúng với một số nước khác nào
đó, còn ở Việt Nam vốn là nước thuộc địa, nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao
giờ cũng chi phối, khi nào Đảng nhấn mạnh vấn đề giai cấp thì đều dẫn đến sai
lầm. Từ đó, họ đề xuất ý kiến theo hướng nhấn mạnh một chiều vấn đề dân tộc,
tách vấn đề dân tộc khỏi vấn đề giai cấp, hạ thấp ý nghĩa quan trọng, bức thiết
của vấn đề giai cấp, không lấy quan điểm giai cấp làm quan điểm cơ sở lập
trường để xem xét, giải quyết vấn đề dân tộc. Theo họ, nước ta hiện nay chỉ nên
đề ra và giải quyết những vấn đề dân tộc, còn vấn đề giai cấp không nên đặt ra.
Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được
họ đồng tình, nhưng giải thích theo hướng phi giai cấp, nghĩa là không nhất
thiết phải theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Thực chất là họ bác bỏ đường lối
giải quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp công nhân. Quan điểm
nêu trên đi ngược với con đường mà Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã
lựa chọn, và rõ ràng là không phù hợp với thực tiễn của lịch sử cách mạng Việt
Nam. Thực tiễn đó đã chỉ ra rằng, trong bất cứ giai đoạn nào, sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta đều phải kết hợp nhuần nhuyễn lợi ích giai cấp với lợi ích
dân tộc; trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam luôn luôn gắn bó hữu cơ với lý
tưởng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nền độc lập thật sự của dân tộc; tự do,
sự giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể đạt được một
cách bền vững trong sự nghiệp cách mạng theo mục tiêu, lý tưởng của giai cấp
công nhân. Bởi vậy, ngay từ khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới,
Đảng ta đã xác định rõ: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ
nghĩa mà là quan niệm đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội và thực hiện mục tiêu
ấy bằng những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp. Nói cách khác, giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản của quá trình đổi mới.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến
nay, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn
nhận công lao của các dân tộc miền núi đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống xâm lược. Truyền thống quý báu đó của dân tộc Việt Nam
như Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,
Giarai hay Êđê, Xơđăng hay Bana… đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em
ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.”.
Bên cạnh việc lên án thủ đoạn đê hèn của bọn thực dân, phong kiến dùng chính
sách “chia để trị” nhằm chia rẽ các dân tộc Việt Nam và để kìm hãm các dân
tộc trong vòng nghèo nàn và dốt nát, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tính ưu việt của chế
độ mới để nhằm giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở Việt Nam: “Chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: Các dân tộc đều bình đẳng và phải đoàn
kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra
sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt.”
- Đoàn kết, thương yêu người Việt Nam sống ở nước ngoài và thân thiện
với người nước ngoài sống ở Việt Nam. Vì nhiều lý do khác nhau, dẫn đến một
thực tế của đời sống thế giới, là người dân của nước này đến cư trú và làm ăn
sinh sống ở nước khác và ngược lại. Giải quyết thực trạng đó ở mỗi quốc gia,
dân tộc và mỗi chính đảng, thậm chí với từng nhà lãnh đạo có những quan điểm
và chủ trương chính sách khác nhau. Đối với người Việt Nam sống xa Tổ quốc,
học tập theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà Nước ta đã chủ trương
đoàn kết, thương yêu họ, kêu gọi họ hướng về quê hương đất nước, nơi quê cha,
đất tổ của mình, vì tất cả bà con đều là “con Lạc cháu Hồng” của đất Việt.
Đồng thời, cũng kêu gọi và khuyên nhủ bà con phải giữ mối quan hệ thân thiện
với nhân dân các nước và thực hiện tốt luật pháp của họ.
- Trong công tác đền ơn, đáp nghĩa Hồ Chủ Tịch chỉ thị, các cấp bộ Đảng
phải thi hành đúng chính sách dân tộc, thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương
trợ giữa các dân tộc sao cho đạt mục tiêu: nhân dân no ấm hơn, mạnh khỏe hơn.
Văn hóa sẽ cao hơn. Giao thông thuận tiện hơn. Bản làng vui tươi hơn. Quốc
phòng vững vàng hơn.
Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát
triển mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng đắn,