ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VĂN THẢO
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ QUÝ ĐÔN TRONG VÂN
ĐÀI LOẠI NGỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2005
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lê Quý Đôn (1726 – 1784), một học giả xuất sắc trong lịch sử dân tộc
Việt Nam, ông được coi là “Bộ bách khoa toàn thư” của dân tộc không chỉ ở
thế kỷ XVIII, mà còn cả trong toàn bộ chiều dài lịch sử dân tộc. Trong sự
nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng về các lĩnh
vực văn hoá khác nhau, trong đó có triết học. Trên cơ sở nghiên cứu thuộc
lĩnh vực tư tưởng triết học tự nhiên và xã hội, v.v., Lê Quý Đôn đã đưa ra một
số quan điểm triết học mà nhiều học giả quan tâm, tuy nhiên việc làm sáng tỏ
những quan điểm đó cho đến nay vẫn chưa được thực hiện cho xứng với tầm
vóc tư tưởng của ông.
Như chúng ta đã biết, từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu ở
những mức độ khác nhau về các tác phẩm của Lê Quý Đôn, song họ mới chỉ
tập trung xung quanh các vấn đề như văn học, lịch sử, địa lý, v.v., của ông,
mà rất ít người tập trung khảo cứu tư tưởng triết học trong các tác phẩm đó.
Khi tìm hiểu tư tưởng của Lê Quý Đôn, chúng tôi thấy Vân đài loại ngữ là
một tác phẩm bao hàm nhiều vấn đề triết học nhất, đồng thời cũng gây cho
chúng tôi nói riêng, và bất kỳ độc giả nào nói chung sự tò mò, rằng trong các
tiêu biểu đại diện cho khuynh hướng tư tưởng của thời đại ông. Công trình đã
nêu lên được những nét cơ bản nhất trong quan niệm của Lê Quý Đôn về
chính trị - xã hội, về một số vấn đề cơ bản của triết học, về ý thức dân tộc tự
lực, tự cường. Điều làm tôi quan tâm nhất là các tác giả của công trình này
trình bày vấn đề về thế giới quan của Lê Quý Đôn. Tuy nhiên, các tác giả
chưa thực sự đi sâu để giải quyết những nội dung đã nêu, mà chỉ khẳng định
rằng, Lê Quý Đôn có khuynh hướng kết hợp đường lối nhân trị với pháp trị,
sử dụng cặp phạm trù lý, khí để giải quyết vấn đề bản thể của thế giới. Tuy
nhiên các tác giả chưa đi sâu phân tích và chỉ rõ nguồn gốc của những quan
điểm đó. Khi trình bày tư tưởng của Lê Quý Đôn trong khuynh hướng “Tam
giáo đồng nguyên” thời bấy giờ ở Việt Nam, các tác giả cũng chưa lý giải
được một điều là, tại sao Lê Quý Đôn là nhà nho, nhưng lại có khuynh hướng
phủ nhận sự độc tôn Nho giáo?
Tuy nhiên, với số trang viết rất ngắn gọn, các tác giả đã làm nổi bật
được Lê Quý Đôn với tư cách một nhà tư tưởng tiêu biểu của dân tộc trên mọi
lĩnh vực, chứ không chỉ có riêng triết học. Điều khẳng định của các tác giả mà
chúng tôi muốn chia sẻ là cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa về Lê Quý Đôn
thì mới thấy hết được những quan niệm triết học của ông. Nói tóm lại, phần
trình bày về Lê Quý Đôn trong công trình này đã giúp người đọc có định
hướng chính xác khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn trên nhiều lĩnh vực khác
nhau mà chính nhà tư tưởng này quan tâm.
Công trình thứ hai là Lê Quý Đôn và học thuyết “lý”, “khí” của GS.
Cao Xuân Huy trong “Tư tưởng phương đông gợi những điểm nhìn tham
chiếu” do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1995 cũng là một công trình rất
sâu sắc về những quan điểm triết học tự nhiên của Lê Quý Đôn. Bài viết đã
trình bầy rất cụ thể quan điểm của Lê Quý Đôn về vấn đề bản thể của thế giới,
vũ trụ. Hơn nữa tác giả còn chỉ rõ nguồn gốc xuất phát tư tưởng của Lê Quý
Đôn, chỉ rõ những điểm hạn chế và tiến bộ của ông so với các nhà nho cùng
Theo tác giả, khi bàn về nguồn gốc thế giới, Lê Quý Đôn đã dựa vào
thuyết “lý bản thể”, từ đó khẳng định lý có trước khí. Tác giả nhận định “Tuy
quan niệm rằng lý ở trong khí nhưng theo ông (Lê Quý Đôn), thì lý vẫn là cái
có trước” và tác giả dùng dẫn chứng “Từ xưa đến nay, lý chưa hề không tồn
tại (chữ in nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh – HVT). Xem thế đủ biết trong
chỗ hư không im lặng vẫn tồn tại cái lý ấy” (Vân đài loại ngữ). Nếu dùng
đoạn trích này để chứng minh cho nhận định đó thì rõ ràng không đủ sức
thuyết phục, bởi vì Lê Quý Đôn muốn nhấn mạnh sự tồn tại của lý trong khí
chứ không khẳng định lý có trước khí. Đồng thời, tác giả chỉ khẳng định tư
tưởng của Lê Quý Đôn chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học Tống Nho mà cụ
thể là Chu Hy, mà không thấy rằng, khuynh hướng tư tưởng của Lê Quý Đôn
là hỗn dung đa nguyên trên cơ sở Nho giáo chủ đạo.
Những bài viết của Gs. Văn Tân: “Vài nét về Lê Quý Đôn nhà bác học
lớn của Việt Nam dưới thời phong kiến” và “Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự
nghiệp” được đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử cũng là nguồn tư liệu
tham khảo tốt bởi tác giả cũng có những bàn luận về quan niệm triết học của
Lê Quý Đôn.
Trong bài viết của mình, tác giả luôn khẳng định Lê Quý Đôn là một
học giả lớn trên mọi lĩnh vực từ văn, sử, địa đến triết học. Trong hai bài viết
của mình, tác giả chỉ chủ yếu đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý Đôn
đúng như tên bài viết, đồng thời trình bày khái quát những quan điểm triết học
của Lê Quý Đôn thông qua việc giải quyết mối quan hệ giữa Lý và Khí cũng
như về cuộc đời hoạt động chính trị của ông. Theo Gs Văn Tân, “Quan niệm
triết học của Lê Quý Đôn không thể vượt ra ngoài quan niệm triết học của
Tống Nho”. Điều đó hoàn toàn chính xác, song, theo chúng tôi ngoài sự kế
thừa các tư tưởng đó, Lê Quý Đôn cũng có những quan điểm riêng của mình
về những vấn đề mà ông thu thập được từ triết học Tống Nho. Nói cách khác,
Lê Quý Đôn tuy xuất phát từ triết học Tống Nho, cụ thể là triết học Trình,
giả rất kỳ công sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau như: Việt sử thông
giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Quế Đường tiên sinh
tiểu sử, Duyên Hà phả ký, v.v., để viết về cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý
Đôn. Vì vậy, những tư liệu mà tác giả đưa ra có độ tin cậy khá cao.
2. Công trình Văn tuyển tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII gồm 2 tập của
Viện Triết học hoàn thành năm 1972. Đây là nguồn tư liệu rất quan trọng cho
những người nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam. Trong văn tuyển, các
tác giả đã dành một số lượng trang viết khá lớn để giới thiệu và Lê Quý Đôn
với 8 tác phẩm tiêu biểu của ông. Sở dĩ chúng tôi đề cập đến công trình này ở
đây là vì các tác giả đã trích tuyển và phân loại theo chủ đề tư tưởng cơ bản
của Lê Quý Đôn, đặc biệt là những vấn đề triết học trong Vân đài loại ngữ,
đông thời sơ bộ đặt cho mỗi đoạn một tên gọi riêng mang tính khái quát nội
dung của nó. Điều này giúp cho người đọc rất thuận lợi trong việc tra cứu bởi
phương pháp tuyển những đoạn trích rất ngắn gọn, sâu sắc, súc tích mà không
phải tư liệu nào cũng có được. Công trình tuy tồn tại nhiều năm dưới bản in rô
nê ô, chưa được chỉnh lý và biên soạn lại để nâng cao chất lượng văn tuyển và
đánh giá đúng nội dung tư tưởng của Lê Quý Đôn, chúng tôi vẫn cho đó là
công trình có ý nghĩa khoa học đáng trân trọng, nó thể hiện thái độ nghiêm
túc và đúng đường lối của những người nghiên cứu khoa học nói chung và
lịch sử triết học nói riêng.
Ngoài ra còn có những bài viết của GS, TS. Nguyễn Tài Thư “Tư tưởng
Lê Quý Đôn và khuynh hướng tư tưởng của thời đại ông”, “Lê Quý Đôn trong
lĩnh vực tư tưởng của dân tộc ở thế kỷ XVIII”, “Lê Quý Đôn, nhà tư tưởng
Việt Nam thế kỷ XVIII” được đăng tải trên tạp chí Triết học, cũng là những
nguồn tư liệu quan trọng khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn.
Những tài liệu trên đây là nguồn tư liệu rất quý giá. Trong quá trình thực
hiện luận văn, chúng tôi đã tham khảo, sử dụng những tư liệu đó để cho luận
văn của mình hoàn thiện hơn. Tuy vậy, số lượng sách, công trình, bài viết về
- Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác – Lênin về
lịch sử triết học, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu là: logic - lịch sử,
phân tích - tổng hợp, so sánh và hệ thống hoá, nhằm tái hiện chân thực và
đánh giá một cách khách quan những tư tưởng triết học mà Lê Quý Đôn trình
bày trong Vân đài loại ngữ.
5. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Do giới hạn của đề tài nên luận văn chỉ tập trung làm rõ một số quan điểm
triết học cơ bản của Lê Quý Đôn trong một tác phẩm là Vân đài loại ngữ.
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn chỉ ra được một số quan điểm triết học của Lê Quý Đôn trong
Vân đài loại ngữ. Luận văn đã chỉ ra nguồn gốc tư tưởng của Lê Quý Đôn, sự
kế thừa và phát triển của Lê Quý Đôn những tư tưởng triết học cơ bản của
Tống Nho. Ngoài ra, luận văn còn dựa vào phương pháp của triết học và lịch
sử để đánh giá những tích cực cũng như những hạn chế trong tư tưởng của Lê
Quý Đôn và chỉ ra vị trí của ông trong tiến trình lịch sử tư tưởng của dân tộc.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ góp một phần nhỏ cho việc đáp ứng những đòi
hỏi khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn nói riêng, cũng như cho việc nghiên cứu
hiện nay về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
chia làm 2 chương, 4 tiết.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Phương Bình (1976), Tư tưởng tiến bộ của nhà thơ bác học Lê
Quý Đôn, Tạp chí Văn học số 6.
16. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), (2000), Tiến trình lịch sử Việt Nam,
NXB. Giáo Dục.
17. Bùi Văn Nguyên (1976), Lê Quý Đôn nhà bác học có ý thức về một
nền văn hiến dân tộc, Tạp chí Văn học số 6.
18. Mộng Bồi Nguyên (1998), Hệ thống phạm trù Lý học triết học phương
Đông, NXB. Khoa học xã hội Hà nội.
19. Trần Duy Phương (Biên soạn), (2000), Lê Quý Đôn cuộc đời và giai
thoại, NXB. Văn Hoá dân tộc.
20. Sở VHTT Thái Bình (1988), Kỷ yếu hội nghị chuyên đề những cống
hiến khoa học của Lê Quý Đôn.
21. Bùi Duy Tân (1976), Phủ biên tạp lục và quan niệm thống nhất của Lê
Quý Đôn, Tạp chí Văn học số 6.
22. Văn Tân (1963), Vài nét về Lê Quý Đôn nhà bác học lớn của Việt
Nam dưới thời phong kiến, Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 49.
23. Văn Tân (1976), Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự nghiệp, Tạp chí Nghiên
cứu lịch sử số 4.
24. Trần Thị Băng Thanh (1977), Lê Quý Đôn qua nhận xét của người
xưa, Tạp chí Văn học số 1.
25. Trần Thị Băng Thanh (sưu tầm và dịch), (1977), Văn bia về Thái phó
Dĩnh quận công họ Lê, Tạp chí Văn học số 1.
26. Nguyễn Cẩm Thuý – Nguyễn Kim Hưng (1977), Về những sáng tác
Nôm của Lê Quý Đôn, Tạp chí Văn học số 1.
27. Nguyễn Tài Thư (1968), Một vài ý kiến về phương pháp nghiên cứu
lịch sử triết học Việt Nam, Thông báo triết học số 8.
28. Nguyễn Tài Thư (1971), Mấy tư tưởng cơ bản của Lê Quý Đôn trong
“Quần thư khảo biện”, Thông báo triết học số 21.
29. Nguyễn Tài Thư (1976), Lê Quý Đôn, nhà tư tưởng Việt Nam thế kỷ
XVIII, Tạp chí Triết học số 3.