BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
LÊ THỊ HOÀNG YẾN
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ HỮU TRÁC
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------
LÊ THỊ HOÀNG YẾN
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ HỮU TRÁC
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HÀ
HÀ NỘI - 2017
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài .............................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................. 3
5. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 4
8. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
9. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 4
10. Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn.............. 4
Chương 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT
HỌC CỦA LÊ HỮU TRÁC .............................................................. 6
1.1. Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII............ 6
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội................................................................. 6
1.1.2. Tiền đề văn hóa - tư tưởng ............................................................. 13
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Hữu Trác ............................................. 22
1.2.1. Cuộc đời của Lê Hữu Trác ............................................................ 22
1.2.2. Sự nghiệp của Lê Hữu Trác ........................................................... 26
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA
LÊ HỮU TRÁC ............................................................................. 30
phu yêu nước, các nhà tư tưởng đều đồng lòng góp sức tìm những phương thức
khác nhau để giúp dân, giúp nước. Đầu tiên là việc xác định con đường thống
nhất đất nước, thứ hai là phát triển học thuật, văn hóa, tư tưởng. Nếu Nguyễn
Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất, Quang Trung là những
nhân vật mà sự nghiệp đã tạo điều kiện cho dân tộc sống còn và phát triển, thì
Hương Hải thiền sư, Chân Nguyên thiền sư, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì
Nhậm, Lê Quý Đôn và cả Lê Hữu Trác chọn con đường học thuật để xây dựng
đất nước, góp phần phát triển con người cả hai mặt thể chất và tinh thần.
Lê Hữu Trác được biết đến không chỉ là một danh y với những tác phẩm
đồ sộ, mà còn là một trong số những nhà tư tưởng tiêu biểu đã để lại dấu ấn đặc
biệt trong việc phát triển tư tưởng triết học và y học dân tộc thế kỷ XVIII.
2
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII, Lê Hữu Trác
có ảnh hưởng đến văn hóa của dân tộc đương thời và cả trong xã hội hiện nay.
Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác là một trong vốn tri thức quý báu trong kho
tàng tri thức của nước nhà cần được nghiên cứu, lưu giữ và phát huy.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng triết học của Lê
Hữu Trác” làm luận văn thạc sỹ triết học của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Lê Hữu Trác không chỉ là một đại danh y mà còn là một nhà tư tưởng
lớn ở thế kỷ XVII - XVIII. Tư tưởng của ông đã được nhiều nhà khoa học
nghiên cứu ở những góc độ khác nhau (chủ yếu khai thác trên lĩnh vực y học).
Về lĩnh vực tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác, số lượng các công trình
nghiên cứu còn ít. Có thể khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài bao gồm các tác phẩm tiêu biểu như sau:
Tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam do nhà nghiên cứu Nguyễn Tài
Thư làm chủ biên. Công trình đã dành một chương với tiêu đề “Lê Hữu Trác Nhà tư tưởng lớn trưởng thành từ nghiệp y” để phân tích, đánh giá những tư
tưởng của Lê Hữu Trác. Trong đó các tác giả viết: “Lê Hữu Trác là một hiện
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: các tác phẩm của Lê Hữu Trác
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác
5. Giả thuyết khoa học
- Câu hỏi nghiên cứu: Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác là gì?
- Giả thuyết khoa học: Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác là những tư
tưởng về bản thể và nhân sinh, về chính trị - xã hội
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng triết học của Lê
Hữu Trác.
4
- Làm rõ tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác về bản thể và nhân sinh,
về chính trị - xã hội.
- Phân tích một số giá trị và hạn chế trong tư tưởng triết học của Lê
Hữu Trác.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác trong các tác
phẩm thuộc tập 1 của bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh, bao gồm: Nội kinh
yếu chỉ, Y gia quan niệm, Y hải cầu nguyện, Huyền tẫn phát vi, Khôn hóa thái
chân, Đạo lưu dư vận và tác phẩm Thượng Kinh ký sự.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về con người.
- Phương pháp nghiên cứu: Cùng với các nguyên tắc có ý nghĩa
phương pháp luận trong nghiên cứu lịch sử triết học, luận văn chủ yếu sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với
các phương pháp: logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống
của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản
phẩm tư duy của mình. Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời
sống quyết định ý thức” [19, tr.37-38]. Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng triết
học của Lê Hữu Trác trong các tác phẩm của ông thì cần tìm hiểu điều kiện
lịch sử xã hội và những tiền đề lý luận hình thành nên tư tưởng triết học đó.
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam thế kỷ XVI - XVIII, thời kỳ nhà Hậu Lê (1533-1802), chế
độ phong kiến rơi vào tình trạng suy tàn và chia cắt đất nước. Đầu thế kỷ
XVI, sau khi vua Lê Hiến Tông mất, cuộc khủng hoảng chính trị xảy ra, kinh
tế sa sút. Đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị, các thế lực phong
kiến tranh giành quyền lực. Sự suy nhược của nhà Lê, cùng với các cuộc nổi
dậy của nông dân liên tiếp xảy ra đã làm cho khủng hoảng xã hội thêm trầm
trọng, làm lung lay nền thống trị của chế độ phong kiến nhà Lê. Các vị vua
nhà Lê lúc này xao nhãng việc triều chính, lo say mê tửu sắc, giết công thần.
Điều này dẫn đến chỗ, triều đình sa vào sự suy thoái, quốc khố cạn kiệt, quân
dân đói nghèo, bệnh tật. Lợi dụng tình cảnh đó, bọn quan lại địa phương mặc
sức tung hoành và tranh chấp. Giữa thế kỷ XVI, nhà Lê thực sự suy tàn, nhân
cơ hội đó, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê. Nhà Lê rút vào Thanh Hóa, sử gọi là
7
Nam triều để phân biệt với Bắc triều của nhà Mạc. Đất nước bị chia cắt, cuộc
“chiến tranh Nam - Bắc triều” làm cho đất nước bị kiệt quệ, gây ra bao đau
thương, chết chóc. Cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều chấm dứt chưa được bao
lâu thì một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ giữa chính quyền Lê - Trịnh ở
Đàng ngoài và chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng trong. Đàng ngoài có chế
độ “vua Lê - chúa Trịnh”, quyền lực trên danh nghĩa nằm trong tay vua nhưng
trên thực tế nằm trong tay chúa.
Ở Đàng ngoài vào năm 1592, nhà Lê - Trịnh chiếm được Thăng Long,
tình hình tạm yên. Chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng ngoài với và bộ máy nhà
trầm trọng. Mâu thuẫn tích chứa lâu ngày bùng phát thành những cuộc khởi
nghĩa nông dân mà những người dân nghèo đói là một lực lượng quan trọng.
Mặc dù các cuộc khởi nghĩa của nông dân hầu như bị dập tắt nhưng với sự
phát triển rầm rộ của phong trào đã làm rung chuyển cả Đàng Ngoài. Cơ đồ
thống trị của Lê - Trịnh bị lung lay đến tận gốc. Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa
thuộc nhiều thành phần khác nhau, có người là nông dân thuần túy, có người
là Nho sĩ bất mãn, lại có người là tôn thất nhà Lê. Điều đó chứng tỏ xã hội đã
bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng.
Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh và sau đó là giai đoạn đất
nước bị chia cắt, kinh tế Đàng Trong phát triển có phần mạnh mẽ hơn Đàng
Ngoài. Với ưu thế đó, những dấu hiệu suy thoái kinh tế ở vùng đất phía Nam
cũng đến chậm hơn. Do ruộng đất Đàng trong mầu mỡ, nhân dân giỏi trồng
trọt (lúa nước, ngô, kê, đậu,…) cho nên nông nghiệp phát triển. Khi phong
trào nông dân Đàng Ngoài bị thất bại thì nông dân Đàng Trong bắt đầu nổi lên
mạnh mẽ. Từ năm 1770, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ và
nhiều người khác tập hợp nông dân, những người buôn bán nhỏ… nổi lên, lật
đổ chính quyền chúa Nguyễn. Thừa thắng xông lên, sau khi lật đổ chính
quyền họ Nguyễn, phong trào Tây Sơn lại tiến quân ra Bắc, lật đổ chính
9
quyền chúa Trịnh, thống nhất đất nước. Lập lên vương triều Tây Sơn. Tuy
nhiên, thế lực nhà Lê đã cầu viện nhà Thanh. Tháng 11 năm 1788, quân
Thanh do sự cầu viện của vua tôi Lê Chiêu Thống đã ồ ạt tiến vào nước ta.
Năm 1789, Quang Trung đại thắng. Tuy nhiên, sự bất hoà của anh em
Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ đã ảnh hưởng đến cục diện đất nước.
Vào cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung (1788 - 1792) xây dựng một triều
đại mới. Tháng 9 năm 1792, Quang Trung đột ngột mất, điều đó kéo theo sự
suy tàn của vương triều Tây Sơn. Cuối năm 1802, Nguyễn Ánh vào Thăng
Long, chính thức xưng vương, lập ra nhà Nguyễn, đổi quốc hiệu là Việt Nam.
thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất. Có nhiều làng, phường
lụa nổi tiếng như La Cả, La Khê, Cương Thôn, An Thái, Nghi Tàm.
Thủ công nghiệp khai mỏ rất phát triển và đạt được nhiều thành tựu. Để
kiểm soát việc khai mỏ, chúa Trịnh đặt các chức giám tương trông coi và thường
xuyên cử quan lại đến kiểm tra. Nhưng cuối cùng do chính sách lầm lẫn của các
chúa Trịnh cho rằng việc khai mỏ chẳng có lợi gì, lại phải đào bới nhiều hại đến
mạch đất nên nhà chúa đuổi hết thợ mỏ người Trung Quốc về nước, cấm tập
trung nhiều thợ trong mỗi mỏ... Do vậy, nghề này đã bị tàn lụi dần.
Thương nghiệp cũng phát triển lên một bước đáng kể, cả nội thương và
ngoại thương. Ở các làng hình thành nhiều chợ mới họp theo phiên, xuất hiện
một số chợ có quy mô cấp huyện hay phủ nên có tên gọi là chợ huyện, chợ phủ.
Sự phát triển của công thương nghiệp đã làm xuất hiện một số thành thị
mới và làm hưng thịnh, phồn vinh các trung tâm kinh tế hàng hoá cũ. Kẻ Chợ
và Phố Hiến là hai đô thị nổi tiếng bấy giờ ở Đường ngoài. Kẻ Chợ (hay Kinh
Kỳ) là đất Thăng Long nổi tiếng với 36 phố phường. Kẻ Chợ là một thành
phố vừa buôn bán vừa sản xuất hàng thủ công nghiệp, là trung tâm trao đổi
hàng hoá ở Đường ngoài và buôn bán hàng hoá với thương nhân
11
nước ngoài. Phố Hiến cũng là một thành thị sầm uất của Đường ngoài thời
bấy giờ. Nhiều thương nhân các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Anh,
Pháp đều có mặt và buôn bán ở Phố Hiến.
Ở Đường trong có Hội An là thành phố cảng lớn nhất, từ thế kỷ XVI đã
có thương nhân nước ngoài đến buôn bán, ngoài ra còn có Thanh Hà ở tả
ngạn Huế. Về ngoại thương, ở Đàng trong cũng có bước phát triển mạnh từ
thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Nhiều lái buôn nước ngoài đến buôn bán.
Nhìn chung, quan hệ ngoại thương giữa Đường trong với các nước
phương Tây cũng giống như ở Đường ngoài, chỉ được phát triển khá mạnh mẽ
ở thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII, sau đó thuyền buôn các nước thưa thớt
cho nhu cầu củng cố bộ máy thống trị. Nhìn chung, thời bấy giờ việc thi cử ở
Đường trong không phát triển bằng Đường ngoài và việc thi cử có phần đơn
giản và dễ dãi hơn vì nhu cầu xây dựng chính quyền mới cần nhiều người có
văn học. Điều dễ thấy là dưới thời các chúa Nguyễn chưa tổ chức một cách
chính quy các kỳ thi Hội, thi Đình nào như ở Đường ngoài.
Sự suy thoái của chính quyền kéo theo sự suy sụp nhiều mặt. Các nhà
Nho yêu nước bất mãn với chính quyền đành từ bỏ con đường công danh đi
vào con đường học thuật để góp công xây dựng đất nước. Do đó, nhiều nhà
thơ, nhà văn, nhà y học xuất hiện để đấu tranh cho cuộc sống tự do và phát
triển khoa học. Những nhà Nho nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng
Khắc Khoan, Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Dữ, Ngô Thế Lân, Lê
Quý Đôn... Những tác phẩm danh tiếng phản ánh đời sống nhân dân và niềm
khao khát được tự do như Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều,
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị
Điểm, Truyện Kiều của Nguyễn Du. Triết học, y học cũng có những bước
phát triển, đặc biệt y học đã phát triển lên một bước mới với sự xuất hiện của
các danh y, tiêu biểu nhất là danh y Lê Hữu Trác. Chính tinh thần yêu nước
13
thương dân, thân dân và tinh thần dung thông tam giáo, nhân tố của thời đại là
tiền đề cho sự ra đời của các tác phẩm của Lê Hữu Trác, đặc biệt là Hải
Thượng y tông tâm lĩnh.
Qua phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII
trên tất cả các mặt, phương diện, chúng ta nhận thấy rằng có nhiều vấn đề xã
hội cấp bách buộc các nhà chính trị, các nhà tư tưởng phải giải đáp. Và chính
điều kiện ấy là cơ sở hình thành tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác.
1.1.2. Tiền đề văn hóa - tư tưởng
Tư tưởng triết học của Lê Hữu Trác không chỉ phản ánh đặc điểm, nhu
cầu của xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII như đã trình bày ở trên, mà còn là sự
biến đổi để phù hợp với con người và vùng đất Việt Nam.
Sau chiến thắng của Ngô Quyền, nước ta thoát khỏi ách đô hộ, bước
vào con đường tự trị. Các vị vua đầu tiên phải đối đầu với nhiều thách thức
trong việc cải cách đất nước trên mọi phương diện. Mặc dù lúc này các mặt
như hành chính, văn học, tôn giáo, triết học, y học chưa phát triển bao nhiêu,
nhưng đây là giai đoạn đánh dấu sự mở đầu cho thời kỳ tự chủ. Dân Việt Nam
đã tạo được nền văn tự riêng biệt, đó là chữ nôm. Nhiều tác phẩm nổi tiếng ra
đời, những thành tựu về y học cũng được ghi chép đầy đủ hơn xưa. Ở các
triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, các phương thức định bệnh (như lý luận, chẩn
đoán, điều trị, dụng dược) đều dựa vào y học Trung Quốc mà thực hiện. Các
phương pháp chữa bệnh tầm thường, thô sơ, mê tín dị đoan vẫn tồn tại trong
xã hội. Giai đoạn này, Việt Nam không ngừng tiếp thu văn học, triết học, văn
hóa và y học. Tại Việt Nam vào thời nhà Lý (1010-1224) năm 1136, đã có
những danh y kiêm pháp sư như Nguyễn Minh Không, một trong những
người phát triển y học truyền thống Việt Nam ở thời kỳ đầu.
Đến thời nhà Trần (1225-1399), y thuật vào thời kỳ này tiến bộ về nội
khoa cũng như ngoại khoa. Các lương y tuy có những bài thuốc gia truyền,
15
nhưng lý luận và điều trị vẫn dựa trên cơ sở triết học Trung Quốc. Trong đó,
thời nhà Trần (1225- 1399) y học Việt Nam bước sang một giai đoạn phát
triển mới với sự xuất hiện của nhà y học Tuệ Tĩnh. Tuệ Tĩnh sinh ở làng
Nghĩa Phú, Tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải
Dương. Ông đậu đệ nhị giáp Tiến sĩ. Hoàng Giáp Tuệ Tĩnh là một nhà sư
thông minh lỗi lạc, nghiên cứu rộng bí quyết âm dương, tìm hiểu sâu rộng
thuật Hiên Kỳ. Tuệ Tĩnh xây dựng thêm nền móng hệ thống luận trị của y học
truyền thống Việt Nam. Tuệ Tĩnh đã khái quát hóa các tư tưởng về y lý, y
thuật, phát huy nền y học nước nhà. Về sau, Lê Hữu Trác đã kế thừa Tuệ Tĩnh
trong việc biên soạn quyển Lĩnh Nam bản thảo. Các danh y đã vận dụng các
chứng sơ khai về tự nhiên, con người và xã hội của người Trung Quốc cổ đại.
Lý luận Âm dương - Ngũ hành có ảnh hưởng rất sâu sắc đến các trường phái
cũng như cá nhân các nhà tư tưởng Trung Quốc. Học thuyết này không những
là khởi điểm của tư duy triết học Trung Quốc cổ đại, mà còn là tiền đề tư
tưởng chỉ đạo của y học truyền thống. Các nhà nghiên cứu xác định: “Thuyết
Âm dương - Ngũ hành có tác dụng nhất định với các môn học tự nhiên như
thiên văn, lịch pháp, y học, hóa học” [24, tr.314].
Theo thuyết Âm dương - Ngũ hành thì trong thế giới sự vật - hiện
tượng có hai yếu tố luôn luôn đối chọi với nhau nhưng lại thống nhất với nhau
và là khởi nguyên của mọi quá trình hình thành và biến hóa, hai yếu tố đó là
âm và dương.
Ở đây âm, dương không phải là hủy thể của nhau mà là điều kiện tồn
tại của nhau, điều kiện tồn tại của sự vật, là động lực của vận động và phát
triển. Biểu hiện cụ thể của âm dương là các cặp đối lập. Ví dụ: sáng - tối, cao
- thấp, dài - ngắn, nhanh - chậm, nóng - lạnh, lẻ - chẵn, nam - nữ, quân tử tiểu nhân, cha - mẹ, chồng - vợ, thịnh - suy, đẹp - xấu… Trong đó, mặt thứ
nhất thuộc dương, mặt thứ hai thuộc âm, không có cái gì thuần âm hoặc thuần
dương mà trong mỗi sự vật bao giờ cũng có mặt đối lập (trong âm có dương,
17
trong dương có âm, luôn luôn tương tác, chuyển hóa cho nhau). Trong Thái
dương (dương lớn) có Thiếu âm (âm nhỏ), “dương nhỏ” trong “âm lớn” phát
triển đến cùng thì có sự chuyển hóa “âm lớn” thành “dương lớn” và ngược lại.
Quá trình diễn ra ở mặt kia (Thái dương) cũng như vậy. Và cứ như thế sự vật
vận động, phát triển không ngừng.
Trong thuyết Ngũ hành, năm yếu tố là năm đại nguyên tố nguyên thủy
của tự nhiên: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Chúng được xem là các dạng khác
nhau của vận động, là các hình thức tồn tại khác nhau của hai khí âm - dương.
Thuyết Ngũ hành cho rằng: các yếu tố vật chất nguyên thủy nói trên luôn luôn
vận động, có quan hệ mật thiết và chuyển hóa lẫn nhau tạo sự thay đổi. Các
là công trình của nhiều tác giả qua nhiều thế hệ tham gia. Dịch truyện là một
tác phẩm triết học trong đó có nhiều yếu tố duy vật, có tư tưởng biện chứng
trong quan niệm về tự nhiên và xã hội, dù còn ở trình độ chất phác, thô sơ.
Trong Chu dịch có hai bộ phận là Kinh (Dịch Kinh) và Truyện (Dịch truyện).
Trong Dịch Kinh có tám quẻ (khái niệm) bao quát tất cả các hiện tượng tự
nhiên, xã hội và tư duy: Càn, Khôn, Chấn, Cấn, Tốn, Đoài, Khảm, Ly. Tám
quẻ này kết hợp với nhau thành 64 quẻ kép. Mỗi quẻ kép có sáu hào (có hào
âm và hào dương, hào âm là chẵn biểu thị bằng hai nét đứt - -, hào dương là lẻ
biểu thị bằng một nét liền - ), tất cả có 384 hào. Trong mỗi quẻ kép, các hào
tương tác “sinh” “khắc” với nhau, tạo nên muôn sự biến hóa của quẻ.
Về bản thể luận, Dịch truyện cho rằng khởi nguyên của thế giới là do
hai khí âm dương, hai khí đó giao cảm với nhau mà thành vạn vật, mà có sự
hóa sinh của vạn vật. Mở đầu của Dịch truyện (Hạ kinh) bằng quẻ Hàm. Quẻ
Hàm có Cấn (Thiếu nam, Dương) ở dưới, quẻ Đoài (Thiếu nữ, Âm) ở trên.
Cấn - Đoài giao cảm với nhau mà thành vạn vật. Biểu hiện tối cao của hai khí
âm dương (dưới dạng hình thể) là Đất - Trời. Đất - Trời giao cảm là cội nguồn
của mọi hiện tượng trong tự nhiên và xã hội.
19
Các tác giả của Dịch truyện cho rằng, mọi vật luôn trong trạng thái
động, tương tác lẫn nhau, luôn luôn có sự mất đi của vật này và sự xuất hiện
của vật kia, tất cả trong một dòng chảy bất tận, không có vật nào đứng yên. Họ
cũng cho rằng, mỗi vật trong bản thân nó bao giờ cũng có các mặt đối lập, mỗi
sự vật là sự thống nhất của các mặt đối lập đó. Một âm một dương gọi là
“Đạo”. Trong các cặp đối lập, ví dụ như Thiên dương - địa âm, Thiên cao - Địa
thấp, mặt thứ nhất là chủ động, định hướng, mặt thứ hai là bị động, phụ thuộc.
Tóm lại, vạn vật trong vũ trụ luôn tồn tại trong sự tương tác, tác động
qua lại lẫn nhau. Các quy luật tương sinh, tương khắc của ngũ hành tạo cho sự