TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA RÚTXÔ - Pdf 18

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA RÚTXÔ
NHÓM 13
SV.Đinh Thị Lan Anh
SV.Nguyễn Thị Kim NgọcA. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
Jean Jacques Rouseau là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà biện chứng lỗi lạc của triết học Khai
sáng Pháp. Các tư tưởng của ông đã trở thành khẩu hiệu và phương châm hoạt động của giai cấp
Tư sản Pháp trong cách mạng. Rouseau sinh năm 1712, trong một gia đình thợ thủ công làm đồng
hồ ở Geneva. Ông nội của ông là người Pháp. Mẹ mất sớm, trong khi bố lại ít quan tâm giáo dục
con trai, cho nên khi 16 tuổi Rouseau đã rời Geneva đi phiêu bạt khắp Thụy Sĩ, Italia, Pháp, làm
nhiều nghề khác nhau để kiếm sống, thậm chí có thời gian ông phải làm hầu bàn. Nhưng cũng
1
chính trong thời gian này ông đặc biệt say mê nghiên cứu các vấn đề triết học và nghệ thuật, kết
bạn với Diderot, tham gia với nhóm cộng tác biên soạn Bách khoa toàn thư với các bài về âm
nhạc và quan trọng nhất là bài về Kinh tế Chính trị viết năm 1755.
Ông về Pháp năm 1767 và cưới Thérèse năm 1768, đến 1770 ông trở về Paris. Ông tiếp
tục viết nhưng các tác phẩm chỉ được xuất bản sau khi ông mất vì xuất huyết não vào ngày 2
tháng 7 năm 1778.
Rouseau có các tác phẩm nổi tiếng như: “Tân Helido” (1761) và “Êmilo” (1762), “Suy
diễn về nguồn gốc và cơ sở của sự bất bình đẳng” (1775) và đặc biệt là “Khế ước xã hội” (1762)
– đây được xem là tác phẩm quan trọng nhất của ông.
B. NỘI DUNG
1. Quan điểm về xã hội
Rousseau nhận thấy có sự phân chia về bản chất giữa xã hội và bản chất tự nhiên của con
người. Ông cho rằng loài người là tốt về bản chất nếu sống ở trạng thái tự nhiên và rằng con
người bị tha hóa bởi chính xã hội. Ông cho xã hội là nhân tạo và sự phát triển phụ thuộc lẫn nhau
trong xã hội là cản trở đối với chất lượng cuộc sống của loài người.
Mặc dù cũng đứng trên lập trường tự nhiên thần luận như nhiều nhà Khai Sáng khác,
nhưng Rouseau coi lịch sử của nhân loại là kết quả của hoạt động con người, chứ không phải do

biệt, sự xuất hiện của sở hữu tư nhân đã dẫn đến phá vỡ “trạng thái tự nhiên” của xã hội, dẫn đến
xuất hiện xã hội công dân. Nếu như ở giai đoạn “trạng thái tự nhiên” của xã hội thì tất cả mọi
người đều bình đẳng tự do, thì ở giai đoạn xã hội công dân đầy rẫy những bất công và áp bức.
Các mối quan hệ xã hội hoàn toàn biến chất, đối lập với bản chất tự nhiên của con người. Và theo
Rouseau, cũng trong giai đoạn này, nhà nước xuất hiện trên cơ sở khế ước xã hội do nhân dân lập
ra một cách thầm lặng. Ông nêu ra 3 đặc điểm của nhà nước là:
1) Chủ quyền thống nhất của nhân dân.
2) Nhân dân.
3) Chính quyền lập pháp.
Mọi nhà nước quản lý xã hội bằng các pháp luật thì được ông gọi là nhà nước cộng hòa.
Trạng thái thứ ba là thông qua cách mạng, xã hội trở về với trạng thái tự nhiên ban đầu
của nó, nhưng trên cơ sở cao hơn. Mọi bất công và tệ nạn xã hội công dân bị xóa bỏ. Các kỷ
cương xã hội được lập lại, tự do bình đẳng được khôi phục. Đây là mô hình nhà nước và xã hội lý
tưởng của Rouseau được xây dựng trên cơ sở công lý và lý tính. Đó là chế độ dân chủ cộng hòa,
trong đó chính quyền lập pháp thuộc về nhân dân và phục vụ toàn dân.
Tuy coi sở hữu tư nhân là cơ sở để xuất hiện mọi bất công xã hội công dân, nhưng
Rouseau khẳng định cần duy trì sở hữu tư nhân ở mức độ nhất định sao cho vừa xây dựng được
các mối quan hệ xã hội dựa trên công lý, vừa không cho phép xuất hiện các đẳng cấp đối địch
nhau để nhờ đó xã hội mới không cạnh tranh, phát triển được.
2. Học thuyết chính trị
“Khế ước Xã hội” là tác phẩm phác họa trật tự chính trị hợp lý của ông. Xuất bản năm
1762, tác phẩm đã có nhiều ảnh hưởng tới triết học phương Tây. Rousseau cho rằng trạng thái tự
nhiên bị tha hóa trở thành một tình trạng dã man không còn luật pháp hay đạo đức, nên loài người
cần một thể chế để tồn tại, vì bên cạnh đó, sự cạnh tranh lẫn nhau loài người cũng phụ thuộc vào
nhau. Theo Rousseau, bằng cách sát cánh bên nhau thông qua một khế ước xã hội và từ bỏ các
quyền tự nhiên, cá nhân sẽ giải thoát cả hai áp lực nói trên, tức là vẫn tồn tại và vẫn tự do. Bởi vì
3
khi đã trao quyền lực cho những người đại diện cho nguyện vọng và ý chí chung của quảng đại
quần chúng, thì chính điều này đảm bảo cho cá nhân khỏi bị lệ thuộc vào ý chí của các cá nhân
khác. Tuy nhiên, ở xã hội công dân do bối cảnh xuất hiện đầy rẫy những bất công, thì nhà nước

con người nhạy cảm, hay con người chỉ biết hưởng thụ nhạy cảm của mình một cách ích kỷ.
Lấy tình cảm để xác lập cơ sở của ý thức đạo đức, Rouseau đã chỉ ra được động cơ của
những hành động đạo đức. Nhưng trong việc lý giải cái tình thương, ông không thể thoát ra khỏi
4
tình yêu bản thân mình để đến với sự vị tha của đạo đức. Ngược lại, lấy lý trí để xác lập cơ sở của
ý thức đạo đức, coi nó như một loại nghĩa vụ thiên nhiên.
5. Quan điểm về tôn giáo
Rouseau cho rằng con người sinh ra về bản chất tự nhiên là tốt, và như vậy là hoàn toàn
trái ngược với niềm tin về tội tổ tông của cả giáo phái Calvin ở Geneva và Công giáo ở Paris.
Trong “Khế ước xã hội”, ông cũng viết rằng những người tin vào Chúa Giê-su sẽ không phải là những
công dân tốt.
C. KẾT LUẬN
Rousseau có ảnh hưởng lớn đến cuộc Cách mạng Pháp, mặc dù ý tưởng chủ quyền thuộc
về toàn thể nhân dân được thực hiện qua hình thức đại diện thay vì trực tiếp. Ông là một trong
những tác giả đầu tiên phê phán thể chế tư hữu và được xem là bậc tiền bối của chủ nghĩa xã hội
hiện đại và chủ nghĩa Cộng sản khoa học. Ông cũng là người sớm đặt câu hỏi liệu ý chí nguyện
vọng của đa số liệu có phải lúc nào cũng đúng và mục tiêu của chính quyền theo ông là phải đảm
bảo tự do, bình đẳng và công bằng cho tất cả cho dù có phải là ý chí của đa số hay không. So với
các nhà khai sáng đương thời như Voltaire và Montesquieu, tư tưởng chính trị của Rousseau cấp
tiến hơn.
Ông cũng cho rằng nguyên tắc cơ bản của triết học chính trị là chính trị và đạo đức không
được tách rời. Khi nhà nước không thực hiện đúng theo giá trị đạo đức thì cũng không thể thực
hiện đúng các chức năng của mình và cũng không thể có quyền lực đối với một cá nhân được
nữa. Nguyên tắc quan trọng thứ hai là tự do mà nhà nước được lập ra để gìn giữ.
Các tác phẩm của Rousseau đều thể hiện rằng thiên nhiên giúp con người hình thành nên bản chất
của mình, giúp con người thống nhất để vượt qua sự tù đày và giam cầm của xã hội. Chính vì
vậy, ông khẳng định sự cần thiết của việc con người về với tự nhiên, sự cần thiết đặt con người ở
nơi nằm ngoài những ràng buộc của xã hội và những định kiến của văn minh. Và như vậy, ý
tưởng của ông chính là Chủ nghĩa Lãng mạn, mặc dầu chính bản thân ông xem mình là người của
phong trào Khai sáng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status