Tư tưởng triết học của lê quý đôn trong vân đài loại ngữ - Pdf 41

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lê Quý Đôn (1726 – 1784), một học giả xuất sắc, một nhà tư tưởng lớn
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam dưới thời phong kiến. Ông sống trong thời kỳ
có nhiều thay đổi lớn lao trong lòng xã hội Việt Nam. Nền kinh tế hàng hóa
đang trên đà khởi sắc, thị trường trong và ngoài nước được mở rộng mạnh
mẽ, sự phát triển của ngoại thương đã đưa tới sự phát triển của thủ công
nghiệp và thương nghiệp. Sự tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản phương Tây làm
cho thị trường của nước ta phồn thịnh và nhất thời hưng khởi. Một loạt thành
thị và nửa thành thị hình thành làm cho tầng lớp thị dân gia tăng nhanh chóng.
Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần,
khoa học của nước ta, xuất hiện những đòi hỏi về sự chuyển biến trong tư
tưởng, ý thức. Chính nhu cầu của tư duy lý luận và những đòi hỏi của thực
tiễn lúc bấy giờ đã đưa đến sự xuất hiện những tư tưởng lớn. Và Lê Quý Đôn
đã thực sự trở thành đỉnh cao tri thức Việt Nam thế kỷ XVIII, và có ảnh
hưởng vĩ đại mãi về sau.
Bình sinh Lê Quý Đôn có hai hoài bão lớn, kinh bang tế thế và trước
thư lập ngôn. Với hoài bão thứ nhất, ông không được viên mãn, đến khi cuối
đời vẫn ôm mối bất đắc chí. Với hoài bão thứ hai, ông thực sự được thỏa chí,
và đã trở thành một nhà bác học lừng danh của Việt Nam.
Không ít người cho rằng, Lê Quý Đôn là người công danh hiển đạt,
hoạn lộ hanh thông, nhưng thực tế không phải như vậy. Cuộc đời ông là một
bi kịch, bi kịch này chứa đựng những mâu thuẫn của thời đại. Bởi ông là một
tài năng lớn, mà tầm vóc đó đã vượt ra khỏi khuôn khổ của xã hội đương thời,
làm quan ở thời loạn, khi mà nền cai trị đã thối nát thì một người chính trực
uyên bác, một người có tư tưởng bác học tiến bộ như ông thì đương nhiên
phải hứng chịu nhiều bi kịch. Song con đường làm quan quả lắm chông gai,
1
1





lĩnh những khối tư liệu đồ sộ ở thư khố, thư viện của nhà nước và biết được
những chuyện “thâm cung bí sử”. Ông thường xuyên có những chuyến điền
dã, khảo sát ở những vùng xa xôi, dưới danh nghĩa liêm phóng hay trị nhậm.
Ông cũng từng đi sứ Trung Hoa để tiếp cận một nền văn hóa lớn và những tri
thức mới về thế giới. Ông là một nhà bác học, một nhà tư tưởng làm quan hơn
là một ông quan có tư tưởng và tư duy bác học. Ông đã thành công khi sử
dụng quyền lực như một phương tiện để đạt mục đích khoa học, mà thực chất
cũng là vì lợi ích quốc gia, dân tộc.
Từ hơn hai thế kỷ nay, nhiều ngành khoa học nước ta, ở những mức độ
khác nhau vẫn phát triển dưới ánh sáng của tư duy bác học Lê Quý Đôn. Bởi
ông là “tập đại thành” của mọi tri thức dân tộc thế kỷ XVIII, là một nhà khoa
học tiêu biểu cho xu hướng bách khoa thư ở phương Đông lúc bấy giờ.
Giới sử học Việt Nam hiện vẫn coi ông là bậc tiền bối đặc biệt tin cậy.
Những bộ sách lớn của ông như Lê triều thông sử, Bắc sứ thông lục, Phủ biên
tạp lục, Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Thư kinh diễn nghĩa
ngoài ý nghĩa là kho sử liệu vô giá, còn mang lại cho người nghiên cứu lịch
sử một phương pháp làm việc khoa học.
Trong tất cả những giá trị lịch sử mà ông để lại cho đời, không thế
không kể đến tác phẩm Vân Đài loại ngữ, một trước tác tiêu biểu nhất của Lê
Quý Đôn, mang tư tưởng tiến bộ và chưa đựng nhiều giá trị. Những tư tưởng
tiến bộ, những hiểu biết trên nhiều lĩnh vực của ông trong tác phẩm đến bây
giờ còn nguyên giá trị.
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình các cấp, các tạp chí, bài
báo nghiên cứu về nhà bác học Lê Quý Đôn nhưng hầu như chưa có một nhà
nghiên cứu, một tác giả nào có công trình nghiên cứu đầy đủ tư tưởng cuả
ông. Xét thấy giá trị cũng như tính hiện đại trong nhiều tư tưởng của Lê Quý
Đôn cộng với những công trình nghiên cứu về ông còn sơ sài, thiếu hệ thống,
3

thế giới. Tuy nhiên các tác giả đã không đi sâu làm rõ nguồn gốc của những
4

4


quan điểm của ông cũng như chưa giải thích rõ nhiều quan niệm khác của Lê
Quý Đôn. Tóm lại, với những gì đã đóng góp, công trình này đã giúp người
đọc có định hướng chính xác và cái nhìn khái quát khi bắt tay nghiên cứu nhà
bác học Lê Quý Đôn trên nhiều lĩnh vực.
2. Công trình thứ hai là “Lê Quý Đôn và học thuyết lý, khí” của GS
Cao Xuân Huy trong Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham
chiếu do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1995. Bài viết đã trình bày rất cụ
thể quan điểm của Lê Quý Đôn về bản thể của thế giới, vũ trụ, chỉ rõ những
điểm tiến bộ cũng như hạn chế của ông so với các nhà Nho đương thời. Tuy
nhiên do phạm vi và mục đích của bài viết mà tác giả của bài viết này chưa đề
cập tới các vấn đề về con người, chính trị xã hội – những vấn đề rất quan
trọng trong tư tưởng của Lê Quý Đôn.
3. Công trình thứ ba là Lê Quý Đôn, nhà tư tưởng Việt Nam thế kỷ
XVIII của GS Hà Thúc Minh do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1998.
Đây là công trình nghiên cứu khái quát về Lê Quý Đôn trên mọi phương diện
từ thân thế, sự nghiệp, những tác phẩm tiêu biểu cho đến tư tưởng của Lê Quý
Đôn. Tác giả đã trình bày những tư tưởng chính trị xã hội, triết học của Lê
Quý Đôn và đã giúp cho độc giả có cái nhìn khái quát nhất về quan điểm lập
trường, khuynh hướng tư tưởng của ông. Tác giả đã dùng nhiều nguồn tư liệu
khác nhau ở các tác phẩm: Vân Đài loại ngữ, Thư kinh diễn nghĩa, Quần thư
khảo biện… để chứng minh cho những kết quả mà tác giả đã nêu ra.
4. Những bài viết của GS Văn Tân: Vài nét về Lê Quý Đôn, nhà bác
học của Việt Nam dưới thời phong kiến và Lê Quý Đôn, cuộc đời và sự
nghiệp được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử cũng là nguồn tư liệu tham

yếu và lâm vào khủng hoảng. Do vậy để ngăn chặn thực trạng này, khôi phục
địa vị và vai trò của Nho giáo như thời Lê sơ, khuynh hướng “tam giáo đồng
nguyên” trên cơ sở Nho giáo giữ vai trò chủ đạo được các nhà Nho chú trọng
triển khai mà Lê Quý Đôn là đại biểu tiêu biểu. Do vậy, không vì thế mà
khẳng định rằng, quan điểm triết học của Lê Quý Đôn không thể vượt ra
ngoài quan điểm của Tống Nho được. Khẳng định như vậy là chưa thực sự
thỏa đáng.
6

6


Bên cạnh một số điều tác giả khẳng định chưa được thuyết phục người
đọc, thì bài viết trên của tác giả cũng cung cấp nhiều tư liệu quý về Lê Quý
Đôn, đặc biệt là về cuộc đời hoạt động chính trị của ông. Tác giả đã sử dụng
nhiều nguồn tài liệu khác nhau như Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều
hiến chương loại chí… để viết về cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý Đôn, vì vậy
những tư liệu mà tác giả sử dụng có độ tin cậy khá cao và rất quý giá.
5. Ngoài ra còn có những bài viết của GS.TS Nguyễn Tài Thư: Tư
tưởng của Lê Quý Đôn và khuynh hướng tư tưởng của thời đại ông, Lê Quý
Đôn trong lĩnh vực tư tưởng của dân tộc ở thế kỉ XVII được đăng tải trên tạp
chí Triết học, cũng là những nguồn tư liệu quan trọng khi nghiên cứu về Lê
Quý Đôn.
Những tài liệu trên đây là nguồn tư liệu quý giá. Trong quá thình thực
hiện luận văn, tôi đã tham khảo và sử dụng những tư liệu đó cho luận văn của
mình hoàn thiện hơn. Tuy vậy, số lượng sách, công trình, bài viết về tác phẩm
Vân Đài loại ngữ còn ít, chưa thực sự xứng với tầm của tác giả và tác phẩm.
Mặt khác, những bài viết đó còn chưa có hệ thống, chưa nêu bật được tư
tưởng của Lê Quý Đôn trong tác phẩm Vân Đài loại ngữ…Do vậy, ngoài việc
kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, khắc phục

Dựa trên phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác – Lênin về
lịch sử triết học, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu là logic – lịch sử,
phân tích tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa, nhằm tái hiện chân thực và đánh
giá một cách khách quan những tư tưởng cơ bản mà Lê Quý Đôn trình bày
trong Vân Đài loại ngữ.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
chia làm 2 chương, 7 tiết.

8

8


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ VÀ TIỀN ĐỀ
TƯ TƯỞNG CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
CỦA LÊ QUÝ ĐÔN TRONG “VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ”
1.1. Tiền đề tư tưởng
1.1.1. Nho, Phật, Thiên Chúa giáo
Nho giáo là một học thuyết về chính trị - xã hội, đạo đức của giai cấp
phong kiến theo khuynh hướng nhập thế, có nhiều tư tưởng triết học sâu sắc
do Khổng Tử sáng lập vào khoảng thế kỉ VI TCN và đã tồn tại, phát triển ở
Trung Quốc hơn hai nghìn năm. Nho giáo đã trải qua nhiều giai đoạn phát
triển: Nho giáo Tiên Tần (Nho giáo nguyên thủy); Hán Nho; Tống Nho. Nho
giáo thời kỳ nhà Tống được gọi với nhiều tên gọi khác nhau: Tống nho, đạo
học, lý học với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo,
Trình Di. Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo”. Các nhà Lý học
thời Tống đã phát hiện ra một số sự thuần khiết bên trong các văn bản kinh

hưởng đến thể chế chính trị và tư tưởng văn hoá hơn năm trăm năm (thời kỳ
1392 - 1910), thậm chí đến cả thời Cận đại của Triều Tiên. Cũng theo hướng
Đông, Tân Nho học truyền sang cả Nhật Bản và có ảnh hưởng to lớn đối với
chính trị, xã hội, văn hoá của Nhật Bản thời đại Đức Xuyên (1600 - 1868). Một
hướng phát triển khác của Tân Nho học là hướng Nam, sang Việt Nam, ảnh
hưởng đến thời đại Hậu Lê (1428-1784) và thời nhà Nguyễn (1802 - 1945) của
Việt Nam, tạo ra thời kỳ hưng thịnh của Nho học Việt Nam. Có thể nói, từ sau
thế kỷ XV, Tân Nho học (đặc biệt là Chu Tử học) đã có ảnh hưởng to lớn đối
với cả Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Xét từ góc độ Nho học Đông Á, việc
phát triển sang phía Đông và phía Nam của Tân Nho học không chỉ ăn sâu vào
văn hoá của Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, mà còn tạo ra nét đặc trưng khu
vực cho Nho học ở cả ba nước.
10

10


Xét về lịch sử giao lưu với Việt Nam, ngay từ khi Tần Thủy Hoàng
bình định Lĩnh Nam (năm, Thủy Hoàng thứ 32 năm 214 TCN) Tần Thủy
Hoàng đã thành lập ba quận là Quế Lâm, Tượng, và Nam Hải). Trong đó
quận Tượng chính là Bắc bộ và Trung bộ của Việt Nam. Đây cũng là thời
điểm khởi đầu Trung Quốc thống trị các quận huyện ở Việt Nam. Sau đó thời
kỳ Lưỡng Hán cũng thiết lập sứ bộ Giao Chỉ tại Việt Nam. Thời Tam Quốc,
Đông Tấn, Nam Triều thiết lập Giao Châu, đời đường thiết lập An Nam Đô
hộ phủ. Vì thế cái tên Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam được gọi trong sử sách
Trung Quốc chính là Việt Nam. Nói cách khác, từ thời Tần Hán đến cuối đời
đường, Việt Nam có đến gần một nghìn năm là quận, huyện của Trung Quốc.
Ngày nay người Việt Nam gọi thời kỳ thống trị quận huyện đó là “thời kỳ Bắc
thuộc” hay “thời kỳ đô hộ”.
Từ sau thời nhà Tống, Việt Nam giành được độc lập, tự thành lập

phần lớn mọi việc đều áp dụng theo chế độ của Trung Quốc, như thực hiện
chế độ khoa cử để chọn hiền tài, lấy Tứ thư, Ngũ Kinh làm nội dung thi cử.
Nói chung, sau khi Việt Nam độc lập và lập nên các triều đại thì trong hơn
1000 năm, Nho học cũng đã trải qua quá trình từ thịnh đến suy. Vào thời nhà
Lý, mặc dù đã lập Văn Miếu ở thủ đô Thăng Long (1070), tiến hành thi cử
(1075), lập Quốc Tử Giám (1076), lập Hàn Lâm Viện (1986), nhưng đến cuối
thời Lý, chế độ khoa thi vẫn ở giai đoạn thử nghiệm ban đầu, việc thi cử vẫn
tổ chức theo đúng kỳ hạn. Nói tóm lại, trong thời Lý, mặc dù tam giáo là Nho,
Thích, Đạo đều phát triển, song ý thức chủ đạo của vương triều vẫn là Phật
giáo, đó mới là dòng chảy tư tưởng văn hóa chủ lưu. Tiếp sau đó, nhà Trần đã
lấy tư tưởng Nho gia làm tư tưởng chủ đạo, lập nên một hệ thống giáo dục
hoàn chỉnh, từ trung ương đến địa phương đều thành lập trường học, vừa có
trường quan, trường tư. Chế độ khoa cử của nhà Trần cũng rất chặt chẽ và
hoàn thiện, lấy kinh, nghĩa của Nho gia làm nội dung thi cử. Thậm chí, chế độ
này còn được dùng trong các triều đại sau đó của Việt Nam. Do sự phát triển
của các trường quan, trường tư và chế độ khoa cử, nên tầng lớp Nho sĩ tăng
12

12


lên, giữ vị trí quan trọng trong triều đình. Điều đó càng thúc đẩy sự lan truyền
của Nho học. Thậm chí, vào năm 1370, nhà Trần còn lập bàn thờ Chu Văn An
(tự là Linh Triệt, hiệu là Tiểu Ẩn) tại Văn Miếu. Điều này đủ cho thấy Nho
học khi đó đã chiếm một vị trí tương đối cao. Vì thế, dưới thời nhà Trần, Nho
học đã dần giành lấy vị trí chủ đạo.
Trên nền tảng Nho học thời Trần nhà Hậu Lê không chỉ là triều đại dài
nhất của Việt Nam, mà còn là thời kỳ Nho học phát triển rực rỡ nhất, giống
như thời nhà Minh, Thanh của Trung Quốc. Các vị vua đều tôn sùng Nho học,
lấy Nho học làm tư tưởng chủ đạo để trị dân kiến quốc, lấy Nho học làm cơ

hành “24 lời giáo huấn”, làm cho luân lý, đạo đức Nho gia đi vào mọi ngõ
ngách của xã hội. Hơn nữa, tính thực tiễn đạo đức của Tân Nho học Tống
Minh cũng được đưa vào hoạt động giáo hóa, phổ cập đến dân gian, thẩm
thấu vào mọi giai tầng trong xã hội nhất là những nhà trí thức Nho học.
Trong số các nhà Nho Việt Nam, Lê Quý Đôn là nhà Nho quan trọng
nhất cuối thời Hậu Lê, ông đã lớn lên trong môi trường học thuật của thời kỳ
Nho học thịnh vượng đó. Bởi vậy mà ông đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ tư
tưởng của các nhà Nho Trung Quốc nhất là Chu Hy, Nhị Trình.... Lê Quý
Đôn đã xuất phát từ chính cặp phạm trù lý, khí của Tống Nho để giải quyết
vấn đề bản thể của thế giới. Chính việc giải quyết mối quan hệ giữa phạm trù
này mà toàn bộ quan niệm triết học tự nhiên của ông được thể hiện ra. Phạm
trù lý, khí trong triết học Tống Nho đã tạo nên linh hồn cho các quan niệm về
triết học tự nhiên của ông. Không những thế khi trình bày các vấn đề về chính
trị xã hội ông còn thông qua nhiều sự kiện lịch sử của Trung Quốc có liên
quan đến vấn đề trị nước. Lê Quý Đôn đã xuất phát từ lập trường Nho giáo,
ông nêu lên mục đích của sự học là ra làm quan, lưu lại danh tích muôn đời
cũng như cách cai trị một đất nước, con đường nắm quyền lực. Như vậy có
thể khẳng định rằng Nho giáo (nhất là Tống nho) đã có những ảnh hưởng rất
14

14


lớn đối với sự hình thành và phát triển các tư tưởng triết học về tự nhiên, xã
hội của Lê Quý Đôn.
Phật giáo
Đạo Phật là một trong những triết thuyết, tôn giáo lớn trên thế giới, tồn
tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo phân
bố ở khắp mọi nơi trên thế giới. Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng
thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh

Phật giáo thâm nhập vào nước ta một cách êm thấm, không có sự chống
đối của tín ngưỡng dân gian. Tuy Phật giáo cũng phải có một ít nỗ lực trước giới
cai trị Hán tộc, nhưng không bằng sự phản kháng, mà bằng sự hòa đồng. Điều
này xuất phát từ tinh thần cởi mở của Phật học, và Phật tử thì sẵn sàng học hỏi,
đối thoại với những tư tưởng khác. Kết quả của tinh thần này là, giới tăng sĩ
không những đã sử dụng từ ngữ Nho, Lão để truyền bá Phật giáo, mà còn làm
cho những người theo Khổng, Lão thấy được tư tưởng của Phật học.
Từ thế kỷ III, Phật giáo tại Giao Châu vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ.
Thế kỷ III, Phật giáo từ phương Bắc, cho dù có hình thành những trung tâm
muộn hơn, cũng đã bắt đầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật giáo Giao Chỉ. Sự thâm
nhập của Phật giáo phương Bắc sau đó còn được thể hiện ở việc các thiền sư lớn,
những người sáng lập ra những thiền phái có vị trí lớn trong lịch sử Phật giáo
Việt Nam, đều ít nhiều có liên hệ và tiếp thu Phật giáo Trung Hoa.
Như vậy sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam đã cơ bản hoàn tất
trước thế kỷ X, khi mà một mặt có sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sự
ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa từ phương Bắc sau đó, mặt khác là sự sản
sinh, hình thành thiền học Việt Nam với những thiền phái đầu tiên nhưng lại
rất lớn mạnh. Từ đây đã tạo một tiền đề vững vàng cho sự phát triển của Phật
giáo Việt Nam về sau, nhất là giai đoạn từ thế kỷ X đến đầu thế kỉ XIV.
Dười thời Đinh, Tiền Lê, do vốn đã thâm nhập sâu trong đời sống dân
gian, một cách tự nhiên, trách nhiệm xã hội được đặt lên vai giới tăng sĩ
16

16


Phật giáo. Họ, ngoài việc thâm nhập vào đời sống tinh thần, đời sống tâm
linh và giáo dục đạo đức, còn trực tiếp lo toan những công việc thuộc nhu
cầu thực tế của dân chúng. Họ mở lớp dạy chữ ở chùa cho mọi con em, như
trường hợp của Lý Công Uẩn đã từng nhận được sự giáo dục nơi cửa chùa.

Tuy can dự vào chính sự nhưng tăng sư Phật giáo không hề chủ trương tham
gia chính quyền, nên sau đó, khi triều đình đã vững mạnh hơn, có thể tự mình
gánh vác tất cả, thì họ lại tự nhiên lui về với chức năng vốn có của mình, lui
về với việc tu đạo của mình khi nhiệm vụ đối với quốc gia, với quảng đại
quần chúng đã hoàn thành.
Sự ảnh hưởng của Phật giáo dưới đời nhà Lý vẫn được tiếp tục dưới đời
Trần. Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) lại là một chân truyền chính thức đời
thứ sáu của Yên Tử. Ông là người có công đầu trong việc xây dựng một giáo
hội hoàn toàn thống nhất, chính thức dựng nên thiền phái Trúc Lâm chủ
trương nhập thế. Trong buổi đầu nhà Lý, các thiền sư còn can dự trực tiếp vào
công việc chính sự. Triều đình cần đến sức học, tài ngoại giao, khả năng giáo
dục, sự liên kết nhân tâm của họ. Nhưng đến đời Trần, tình hình đã khác đi.
Các vua Trần là những người có tri thức, lại uyên bác Phật học. Nhưng dù vị
trí trực tiếp trong công việc chính sự của các tăng sĩ không còn nữa, Phật giáo
lại vẫn phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết, ảnh hưởng trực tiếp lên chính trị,
kinh tế văn hóa, xã hội đời Trần, trở thành một tinh thần dân tộc thời bấy giờ.
Với sự việc vua Trần Thái Tông chuyên tâm học Phật, vua Trần Nhân
Tông xuất gia, xây dựng thiền phái Trúc Lâm, Phật giáo thật sự trở thành một
thế lực tinh thần ủng hộ cho chính trị, và ngược lại, triều đình là một quyền lực
củng cố cho Phật giáo. Có thể nói, giai đoạn vua Trần Nhân Tông là giai đoạn
Phật giáo hưng thịnh cực độ ở nước ta. Phật giáo Trúc Lâm chủ trương nhập
thế, đạo Phật phụng sự đời sống, đời sống tâm linh coi trọng giải thoát, Phật
giáo đời Trần thật sự tạo nên một sự thống nhất chính trị, thống nhất tinh thần
dân tộc trên phương diện quốc gia một cách rộng khắp. Yếu tố liên kết nhân
tâm của Phật giáo Trúc Lâm đã khiến thời kỳ này có một nền tảng chính trị
18

18





mọi”. Và sau đó, ông đã có những phản kháng lối dùng từ ấy lên bọn quan lại
Trung Hoa, đòi họ đổi lại không gọi là “di” nữa, các quan đầu tỉnh của Trung
Quốc đã đổi lại và gọi là “An Nam cống sứ”. Đây chính là minh chứng cho
lòng yêu nước, lòng tự hào của người dân đất An Nam, được kế thừa, xây
dựng từ những tư tưởng lớn lao trong đạo Phật.
Không những thế, những giá trị nhân, nghĩa, trong đạo Phật đã có ảnh
hưởng nhất định đến tư tưởng của Lê Quý Đôn về chính trị xã hội, mà vấn đề
căn bản chính là đường lối chính trị (cách trị nước). Khi nghiên cứu và đề ra
tư tưởng trị nước, Lê Quý Đôn đã cho rằng, cần phải kết hợp Đức trị với Pháp
trị. Thiên quá về bên nào cũng là điều không hay. Những tư tưởng Đức trị ở
đây chính là tư tưởng Nhân kết hợp giữa Phật và Nho giáo. Nhân là đạo đức,
nhân nghĩa, là sự yêu thương lẫn nhau, và đó cũng chính là tinh hoa trong tư
tưởng Phật giáo. Như vậy ta thấy rằng, Phật giáo đã có những ảnh hưởng
không nhỏ, đã góp phần hun đúc lên một Lê Quý Đôn, nhà bách khoa toàn
thư cho dân tộc Việt.
Thiên chúa giáo
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, có cả tôn giáo nội sinh và ngoại
lai. Việc tiếp nhận các tôn giáo ngoại lai trong đó có Công giáo gắn với hoàn
cảnh chính trị - xã hội của Việt Nam. Trong mấy thế kỷ Việt Nam tiếp xúc và
giao lưu với phương Tây, bên cạnh Công giáo, ảnh hưởng của văn hóa
phương Tây đã tác động một cách khá sâu rộng vào nhiều lĩnh vực văn hóa
vật chất và tinh thần Việt Nam.
Cũng như các tôn giáo khác, Công giáo xem việc truyền đạo là sứ
mạng thiêng liêng và thường trực. Với những phát kiến địa lý thời kỳ cận đại
đã mở ra những triển vọng lớn lao cho việc mở rộng nước Chúa đến những
miền đất ngoại trong đó có Việt Nam.
20


21

21


phức tạp càng tạo điều kiện cho sự bành trướng của Hội Thừa sai Paris. Thời kỳ
này thực dân Pháp âm mưu xâm lược Việt Nam, đe dọa nền độc lập dân tộc.
Đây là lý do chính trị chủ yếu và trực tiếp, bên cạnh các lý do tư tưởng, tôn giáo
và văn hóa để dẫn đến việc các vua chúa phong kiến Việt Nam nghi ngại cấm
đạo, bức đạo quyết liệt. Tuy nhiên, với tầm ảnh hưởng mạnh mẽ cả về Thiên
chúa giáo và sức mạnh quân sự của mình, thực dân Pháp đã nhanh chóng chiếm
được Việt Nam.
Công giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của một tầng lớp dân
cư trong xã hội, nhất là những người có trí thức trong xã hội thời bấy giờ.
Nhiều nhà trí thức thời bấy giờ đề cập đến Thiên chúa giáo trong bài viết,
trong văn thơ, sách của mình, và Lê Quý Đôn là một ví dụ.
Thông qua những nhà truyền giáo và đạo Công giáo, người Việt Nam
có thêm những kỹ thuật mới như dệt vải mịn, khổ rộng, kỹ thuật in với con
chữ đúc rời, lối làm báo “nói viết như thường”, những giống cây, con mới …
Năm 1627, Alexandre de Rhodes và Marquez đã đem chiếc đồng hồ chạy
bằng bánh xe và cuốn hình học của Ơcơlit vào biếu chúa Trịnh Tráng và
giảng giải cho chúa nghe. Các ông còn tiên đoán nguyệt thực xảy ra một cách
chính xác và cam đoan chẳng cần gõ chiêng trống, bắn súng vẫn “cứu” được
mặt trăng gây ngạc nhiên cho dân chúng lúc bấy giờ.
Ngay cả các bậc thức giả thời đó như Lê Quý Đôn (1726-1784) cũng
phải thốt lên lời thán phục. Ông viết trong Vân Đài loại ngữ như sau: “Các
giáo sĩ Âu, Ba La đàm luận về trời đất mới lạ vô cùng. Lý luận về chính trị và
luật pháp có nhiều điều suất sắc mà tiền nho chưa tìm ra được. Họ bàn về địa
lý, địa cầu, núi non, sông biển, thuỷ triều lên xuống, gió mưa phần nhiều hợp
lý. Họ nói thiên hạ có 4 châu là Á, Âu, Phi, Mỹ. Châu Á lớn nhất gầm trời

làng), hay những vị vua trị vì đất nước..... hay thờ những ông, bà tổ nghề người có công khai sinh và truyền bá một nghề nào đó. Là một học giả đất
Việt, Lê Quý Đôn cũng như bao người khác đã chịu những ảnh hưởng sâu sắc
từ tín ngưỡng truyền thống của dân tộc, điều đó thể hiện qua tác phẩm của
23

23


ông. Ta có thể nhận thấy rõ nét qua mục Vựng điển trong cuốn Vân Đài loại
ngữ. Trong phần Vựng điển, Lê Quý Đôn trình bày về phong tục tập quán, tín
ngưỡng truyền thống do thế hệ trước để lại. Trong mục Lục dẫn ông đã viết
rằng, lập pháp quý ở việc phỏng theo đời trước. Do vậy ông đã trình bày phần
này để những nhà lập pháp sau này nhân theo điển cũ mà lập pháp cho phù
hợp. Trong đó, ông trình bày mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ những việc
thường ngày trong dân gian như việc thờ cúng, tế tự, nghi lễ đốt hương, tục
đốt vàng mã, những kiêng kị trong đời sống hàng ngày…. cho đến những quy
định về triều phục, nghênh giá, chế độ khoa cử, tuyển dụng quan lại, cống vật,
tô thuế, quân đội, vũ khí…
Lê Quý Đôn còn bàn về nguồn gốc, ý nghĩa của nhiều phong tục cho đến
nay vẫn tồn tại phổ biến như tục đốt hương, đốt vàng mã, thờ cúng… Bên cạnh
đó là những nghi lễ, quy định trong triều đình... Bên cạnh những tín ngưỡng
truyền thống đa dạng phong phú, Lê Quý Đôn còn tiếp thu những truyền thống
văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc.
Nước ta là một quốc gia có nền tảng văn hóa đa dạng và có một bề dày
truyền thống bốn ngàn năm. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước,
truyền thống văn hóa nước ta đã được hun đúc và có giá trị rất lớn đối với sự
lớn mạnh của đất nước cũng như đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc.
Trước tiên, phải kể đến đó là truyền thống yêu nước. Tinh thần yêu nước
nồng nàn đó đã biến thành động lực để dân tộc Việt Nam ta có thể đánh thắng
những cường quốc hàng đầu như quân Nam Hán, Mông – Nguyên... thời

Đôn đúng là một nhà bác học của dân tộc, những người như ông ở Việt Nam
không phải là nhiều, chỉ có những người như ông mới có thể cất công tìm
hiểu, khám phá và cho ra đời những tác phẩm giá trị như vậy.
Việt Nam là một quốc gia có bề dày truyền thống, có nhiều loại hình tín
ngưỡng lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng
văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn
giáo, tín ngưỡng. Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị
25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status