ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI HUY DU TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số: 6222.80.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.TRỊNH DOÃN CHÍNH
1.1.2. Sự phát triển văn hóa, giáo dục thời kỳ nhà Trần 26
1.2. Những tiền đề lý luận và tôn giáo hình thành tư tưởng triết học
Trần Nhân Tông 33
1.2.1. Giá trò văn hóa Việt Nam truyền thống và tư tưởng của “Tam giáo”
với việc hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông 33
1.2.2. Tư tưởng triết học Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng só – tiền đề
lý luận trực tiếp của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông 56
Kết luận chương 1 83
Chương 2:
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN NHÂN TÔNG….86
2.1. Thế giới quan trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông 86
2.1.1. Quan niệm về bản thể trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông 89
2.1.2. Mối quan hệ giữa bản thể và thế giới hiện tượng trong tư tưởng triết
học Trần Nhân Tông 105
2.2. Nhân sinh quan và triết lý đạo đức trong tư tưởng triết học Trần
Nhân Tông 114
2.2.1. Quan niệm của Trần Nhân Tông về cuộc đời con người và về vai trò
của con người trong cuộc sống 114
2.2.2. Quan niệm của Trần Nhân Tông về vấn đề rèn luyện tinh thần đạo
đức, trí tuệ, giải thoát 122
Kết luận chương 2 129
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
TRẦN NHÂN TÔNG
132
3.1. Những đặc điểm chủ yếu của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông 132
3.1.1.Tính kế thừa, dung hợp trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
132
3.1.2.Tinh thần thiền hành động, nhập thế tích cực trong tư tưởng triết học
Trần Nhân Tông 147
3.1.3. Tính nhân văn trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông 155
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng và nhân dân ta khởi
xướng và tiến hành, cùng với nhiệm vụ phát triển toàn diện các lónh vực
kinh tế, chính trò – xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và văn hóa,
đặc biệt là đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm
“xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ
thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh
thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc” [21, tr. 18], chúng ta còn có
một nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là “xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, tương xứng với sự
phát triển của nền kinh tế – xã hội. Đó cũng chính là triết lý của sự phát
triển xã hội hài hòa và bền vững. Bởi vì, văn hóa nói chung và những
giá trị tinh thần, tư tưởng của dân tộc Việt Nam nói riêng không chỉ là
nền tảng tinh thần và là một trong những động lực phát triển xã hội mà
còn là một trong những nguồn lực nội sinh bền bỉ và mạnh mẽ nhất “hun
đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam” [23, tr. 54], giúp chúng ta
có thể tiếp nối và phát huy sức mạnh truyền thống dân tộc trong công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phong phú nhưng
không kém phần phức tạp hiện nay.
Trong tiến trình của công cuộc đổi mới, hơn 20 năm qua đất nước
ta đã đạt được những thành tựu thực sự to lớn và toàn diện trên các mặt
kinh tế, chính trò, văn hóa, xã hội. Đạt được kết quả đó, văn hóa đóng
2
Trong lòch sử tư tưởng Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm đời Trần,
trong đó tiêu biểu là tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông – “đệ nhất
tổ thiền Trúc Lâm n Tử” nổi lên như một dấu son, góp phần khắc họa
khá đậm nét bản sắc, cốt cách tâm hồn Việt Nam nói chung và đặc
trưng của triết học Phật giáo Việt Nam nói riêng trong quá trình phát
triển. Trần Nhân Tông không chỉ là nhà chính trò – một vò vua anh minh,
“nhân từ, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thû
trước” [85, tr. 44] mà còn là nhà quân sự tài năng; không chỉ là nhà văn,
nhà thơ mà còn là nhà tư tưởng lớn, một bậc thiền sư lỗi lạc – người
sáng lập ra một dòng thiền mang bản sắc Việt Nam. Ông đã biết dung
hợp các nguồn tư tưởng từ quá khứ của dân tộc với triết lý phong phú,
sâu sắc, thâm trầm của Nho, Lão, đặc biệt là triết lý Phật giáo, bằng sự
kế thừa, chọn lọc các dòng thiền trước đây như Tỳ Ni Đa Lưu Chi
(Vinitaruci), Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và tư tưởng triết lý thiền của
Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng só để sáng tạo nên hệ thống tư
tưởng triết học của mình với những nét độc đáo và đặc sắc riêng, ghi
dấu ấn sâu đậm trong lòch sử tư tưởng Việt Nam.
Chính vì thế, tôi đã chọn vấn đề “Tư tưởng triết học Trần Nhân
Tông” làm đề tài luận án Tiến só của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Sự nghiệp, cuộc đời của Trần Nhân Tông nói chung, tư tưởng triết
học của Trần Nhân Tông nói riêng từ trước tới nay đã được nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều mặt, qua các chủ đề phong phú
4
và sâu sắc khác nhau. Có thể khái quát kết quả các công trình nghiên
cứu đó trong ba chủ đề chính sau:
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông trên
phương diện lòch sử. Tiêu biểu cho chủ đề này phải kể đến các tác phẩm
lớn như: Tác phẩm Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội,
Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1993; Phật giáo Việt Nam từ
khởi nguyên đến thế kỷ XIII của Trần Văn Giáp, Ban Tu thư, Đại học
Vạn Hạnh, Sài Gòn, xuất bản năm 1968; Lòch sử Phật giáo Việt Nam,
của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, xuất bản
năm 1993; Tam tổ thực lục, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, xuất
bản năm 1995 (Thích Phước Sơn dòch và chú giải); Thiền uyển tập anh,
Nxb. Văn học, Hà Nội, 1993; Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam (3
tập) của Lê Mạnh Thát, Nxb, Tp. Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2002;
Thiền học Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn,
1966; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1999; Thiền luận (quyển thượng,
quyển trung, quyển hạ) của Daisetzteitaro Suzuki, Nxb. Tổng hợp, Tp.
Hồ Chí Minh, xuất bản 2005.
Trong các công trình trên phải kể đến tác phẩm lớn như Thơ văn
Lý – Trần, do Viện Văn học biên soạn. Đây là công trình khoa học công
phu, đồ sộ, cung cấp cho người đọc một cách khá đầy đủ và đáng tin cậy
các bản văn về thơ, văn của Trần Nhân Tông, cùng với sự giới thiệu
đánh giá khái quát về sự nghiệp thơ văn, tư tưởng của Trần Nhân Tông;
hay như các tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang,
Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, Lòch sử Phật
6
giáo Việt Nam, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, đã trình bày và phân tích
khá sâu sắc tư tưởng cũng như vai trò, vò trí của Trần Nhân Tông trong
lòch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam nói chung và Thiền tông Việt Nam
nói riêng… Tất cả các công trình thuộc chủ đề thứ hai này giúp ta thấy rõ
giá trò về văn hóa, tư tưởng, tôn giáo mà Phật hoàng Trần Nhân Tông đã
đóng góp cho lòch sử tư tưởng Việt Nam.
Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông dưới
góc độ tư tưởng triết học, như các tác phẩm: Lòch sử tư tưởng Việt Nam,
Nghiên cứu lòch sử, 1976; và Kỷ yếu 700 năm ngày viên tòch Sư tổ Trúc
Lâm, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, xuất bản năm 2008, v.v… Các công trình
kể trên đã tập trung nghiên cứu tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông
qua các vấn đề lớn về bản thể luận, nhận thức luận và triết lý đạo đức
nhân sinh của ông gắn liền với quá trình phát triển của lòch sử tư tưởng
Việt Nam, tuy vậy tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông mới được các
công trình kể trên nghiên cứu ở mức độ khái quát nhất.
Tuy nhiên các công trình khoa học trên vẫn thực sự là những tài
liệu bổ ích để chúng tôi học tập, kế thừa, phát triển trong đề tài luận án
của mình. Tiếp tục thành quả của các công trình nghiên cứu trên, chúng
tôi cố gắng đi sâu nghiên cứu và trình bày tư tưởng triết học Trần Nhân
Tông qua đề tài luận án Tiến só triết học, có tính chất chuyên sâu và hệ
thống hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án
8
Từ sự trình bày, phân tích làm rõ những nội dung tư tưởng triết học
cơ bản của Trần Nhân Tông, luận án nhằm chỉ ra những đặc điểm và
những giá trò có ý nghóa lòch sử to lớn trong tư tưởng triết học của ông.
Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Trình bày, phân tích cơ sở xã hội và những tiền đề tư tưởng hình
thành tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông.
- Trình bày và phân tích nội dung tư tưởng triết học cơ bản của
Trần Nhân Tông qua các vấn đề triết học về bản thể luận, đạo đức nhân
sinh; từ đó rút ra những đặc điểm và giá trò lòch sử trong tư tưởng triết
học của Trần Nhân Tông.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ trên, luận án dựa trên cơ sở
truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam trong công cuộc đổi mới và hội
nhập quốc tế hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảng dạy về lòch
sử tư tưởng Việt Nam cho sinh viên và học viên cao học các ngành Triết
học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Sử học trong các trường Cao đẳng và
Đại học.
7. Kết cấu cơ bản của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham
khảo, luận án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết và 13 mục.
10
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG
1.1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ –
XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ NHÀ TRẦN – CƠ SỞ XÃ HỘI HÌNH
THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG
1.1.1. Khái quát đặc điểm điều kiện lòch sử, kinh tế, chính trò
– xã hội Việt Nam thời kỳ nhà Trần
Là hình thái ý thức xã hội, tư tưởng triết học của Trần Nhân
Tông một mặt phản ánh và bò chi phối bởi đặc điểm, nhu cầu của xã
hội Việt Nam thời kỳ nhà Trần; mặt khác, là sự kế thừa những tiền đề
tư tưởng, tôn giáo trước đó. Đúng như C. Mác đã nói: “Các triết gia
không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình,
của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được
tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [41, tr. 156]. Do đó,
nghiên cứu tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông không thể không
nước ta trải qua ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông
xâm lược (cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258, cuộc kháng chiến
lần thứ hai năm 1285, cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1288) nâng
cao vò trí nhà Trần trong lòch sử.
Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại, năm 1240 nhà Trần
đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ. Dưới lộ, phủ có châu, huyện, xã. Đại
12
Việt sử ký toàn thư viết: “Nhâm Dần/ Thiên Ứng/ năm thứ 11/ 1242
(Tống Thuần Hựu năm thứ 2). Mùa xuân, tháng 2, chia nước làm 12
lộ. Đặt chức an phủ, trấn phủ, có 2 viên chánh, phó để cai trò. Các xã,
sách thì đặt chức đại, tiểu tư xã. Từ ngũ phẩm trở lên là đại tư xã, từ
lục phẩm trở xuống là tiểu tư xã. Có người làm kiêm cả 2, 3, 4 xã
cùng xã chính, xã sử, xã giám gọi là xã quan” [85, tr. 19]. Nhà vua
nắm quyền lực tối cao quyết đònh tất cả, nhưng để tránh tình trạng vua
còn nhỏ tuổi, nhà Trần đặt ra chế độ Thái Thượng hoàng. Các vua
thường truyền ngôi sớm cho con nhưng vẫn trông coi chính sự. Chế độ
quan lại nhà Trần nói chung cũng giống như của nhà Lý nhưng có quy
củ và đầy đủ hơn. Các chức quan trọng yếu trong triều đều giao cho
vương hầu quý tộc nắm giữ, nhằm tập trung mọi quyền lực về dòng
họ mình. Ở đòa phương buổi đầu nhà Trần cũng phong cho một số
vương hầu đi trấn trò các vùng quan trọng (ví như Trần Quốc Khang
coi Diễn Châu, Trần Nhuật Duật coi Thanh Hóa, Trần Khánh Dư coi
Vân Đồn…).
Để tạo điều kiện cho vương hầu, tôn thất làm việc, nhà nước
cấp cho mỗi người một vùng đất lớn nhỏ tùy theo thứ bậc gọi là thái
ấp. Nhà nước cũng cho phép các quan lại tôn thất cao cấp được xây
dựng dinh thự, phủ đệ riêng, khi có việc mới phải vào chầu và làm
việc ở kinh sư. Năm 1266, do yêu cầu mới về kinh tế và chính trò, vua
Trần lại ra lệnh cho các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu mộ dân
Trần được tổ chức quy mô hơn thời Lý, bộ máy nhà nước đó đã góp
phần củng cố sức mạnh của nhà nước trung ương.
14
Về tổ chức quân đội, nhà Trần thay nhà Lý, cùng với việc hoàn
thiện bộ máy nhà nước để ổn đònh xã hội, củng cố chính quyền phong
kiến trung ương tập quyền, nhà Trần đã ra sức xây dựng một tổ chức
quân đội hùng mạnh đủ sức bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Quân
chủ lực nhà Trần cũng chia thành hai bộ phận như thời nhà Lý là cấm
quân và quân các lộ (ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là
thiên binh). Quân đội nhà Trần là một đội quân thiện chiến, được
trang bò, tổ chức và huấn luyện tốt, có nhiều kinh nghiệm bởi đã trải
qua các cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông. Lực lượng
quân sự thời Trần bao gồm các thành phần chủ yếu: 1). Quân chủ lực
của triều đình; 2). Quân của lộ phủ, châu; 3). Quân của quý tộc tôn
thất; 4). Lực lượng dân binh (hương binh) trong làng xã, động, bản.
Trong chiến tranh, nhà Trần có thể tập hợp được lực lượng quân
đội lớn mạnh, đông đảo chủ yếu còn do thực hiện chế độ nghóa vụ
quân sự theo chính sách “ngụ binh ư nông”. Quân số thời bình theo
Phan Huy Chú thì cả “cấm vệ và các lộ khoảng mười vạn người”. Có
thể xem đây là chủ trương kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và tổ
chức vũ trang khá sáng tạo và độc đáo của thời đại đó.
Nhìn chung, do đặc điểm và yêu cầu của điều kiện lòch sử nên
nhà Trần là triều đại rất coi trọng binh pháp và kỹ thuật quân sự.
Luôn chú ý nâng cao chất lượng binh lính bằng các biện pháp tuyển
quân, tuyển tướng, huấn luyện binh pháp, rèn luyện tư tưởng và việc
coi trọng võ thuật đã trở thành lối sống của trai tráng trong các tầng
lớp xã hội từ quý tộc đến nô tỳ thời kỳ nhà Trần. Thực tiễn cuộc
kháng chiến chống Nguyên – Mông đã thể hiện tổ chức quân đội và
chính sách xây dựng lực lượng vũ trang của nhà Trần trong thế kỷ
Tiếp tục xu hướng pháp luật thời Lý, pháp luật thời Trần cũng
đã chú trọng đến việc bảo vệ sản xuất nông nghiệp trong đó đã có
những điều luật bảo vệ trâu bò và các công trình thủy lợi. Luật nhà
nước coi việc xây dựng và sửa chữa đê điều là công việc của toàn dân
kể cả triều đình [55, tr. 186].
Về ngoại giao, một vấn đề lớn đặt ra cho nhà Trần là việc đối
phó với mưu đồ bành trướng của đế quốc Nguyên – Mông ở phương
Bắc. Từ sớm nhà Trần đã giữ quan hệ hòa hảo với nhà Tống và theo
lệ cũ sang triều cống cho đến khi nhà Tống mất. Năm 1285, nhà Trần
bắt đầu cử sứ giả sang sứ Mông Cổ và đinh lệ ba năm cống một lần.
Nhưng do mưu đồ bành trướng của nhà nước Nguyên – Mông, mối
quan hệ giữa hai nước ngày càng căng thẳng cho đến khi bùng nổ
cuộc chiến tranh xâm lược vào nửa cuối thế kỷ XII. Sau kháng chiến
chống Nguyên – Mông thắng lợi quan hệ Trần – Nguyên trở lại hòa
hảo. Nhà Trần tìm mọi cách giữ vững đòa vò độc lập tự chủ của mình,
khi nhà Trần suy thì nhà Nguyên cũng đang suy thoái, tiếp đó lại bò
nhân dân Trung Hoa lật đổ nên không còn điều kiện dòm ngó nước ta
nữa.
Cũng như thời Lý, các vua Trần chú ý thúc đẩy mạnh sự phát
triển kinh tế, đặc biệt là chế độ sở hữu ruộng đất. Các hình thức sở hữu
ruộng đất cơ bản thời kỳ nhà Trần là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước
thông qua công xã nông thôn và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân. Sự
thống trò của chính quyền nhà Trần trong phạm vi cả nước và uy
quyền chuyên chế của hoàng đế đã tạo thành một quan niệm “đất của
vua, chùa của bụt”, một quan niệm đã xác nhận sự tồn tại tự nhiên:
chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất rất phổ biến. Có hai bộ phận
17
cấu thành ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: Một là, ruộng đất do nhà
nước trực tiếp quản lý, nó tồn tại như tài sản của bản thân nhà vua và
tư nhân các quý tộc. Thái ấp thời Trần cũng là nơi ở bền vững của
quý tộc và mãi mãi được lưu truyền, như lời Trần Hưng Đạo đã nói
trong Hòch tướng só rằng: “thái ấp của ta mãi mãi bền vững mà bổng
lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng.” [95, tr. 392]
Ngoài thái ấp thì năm 1266, do nhu cầu khẩn trương mở rộng
diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, củng cố thêm thế
lực của quý tộc Trần, nhà Trần đã cho các vương hầu công chúa, phò
mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp
làm nô tỳ để khai khẩn đất hoang lập điền trang. Vương hầu có điền
trang thực sự từ đấy. Từ năm 1266 trở đi, bản thân tầng lớp quý tộc đã
dựa vào hai tổ chức kinh tế cơ bản: thái ấp và điền trang là hai bộ
phận quan trọng có ý nghóa quyết đònh tính chất loại hình sở hữu
ruộng đất của quý tộc. Ngoài ra còn có ruộng đất sở hữu tư nhân của
đòa chủ và tiểu nông.
Về công cuộc trò thủy nhà Trần đã cho xây dựng hệ thống đê
đỉnh nhó và các dòng kênh tiêu úng. Ở thời Lý, công việc trò thủy vẫn
do các đòa phương tự lo liệu, tự góp tiền của, nhà nước đóng vai trò
chỉ đạo và quản lý một số đê, chủ yếu là xung quanh Thăng Long.
Mấy chục năm đầu thế kỷ XIII thì hầu như việc trò thủy bò bỏ bê,
không được lưu tâm thích đáng.
Nhà Trần vừa nắm chính quyền đã có biện pháp nhanh chóng
phục hồi sản xuất nông nghiệp, mở rộng thêm diện tích canh tác.
19
Triều đình đã áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp,
trong đó có tổ chức làm thủy lợi trong phạm vi cả nước. Năm 1248,
Trần Thái Tông đặt cơ quan hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách việc
đê điều ở các lộ phủ. Đây là công việc quan trọng, một bước ngoặt to
lớn trong lịch sử thủy lợi nước ta. Đắp đê ngăn mặn cũng là công cuộc
mới mẻ ở thời Trần, các nhà quý tộc thường cho nô tỳ đắp đê ở bãi
Trần đều có đúc tiền. Ngoài ra trên thò trường còn sử dụng nhiều tiền
Trung Quốc. Nhà Trần đã mở rộng việc mua bán đất bằng tiền, nộp
tiền để lấy quan chức, việc đúc tiền do quan xưởng đảm nhiệm. Quan
hệ tiền tệ đã thâm nhập vào đời sống chính trò và tín ngưỡng. Nhà
nước thu tô thuế bằng tiền, cũng đã thể hiện chức năng thanh toán của
tiền tệ thời Trần đã phát triển rộng lớn.
Tiêu biểu nhất cho mạng lưới nội thương là hệ thống chợ ở
đồng bằng sông Hồng, ngoài chợ ra còn có phố. Các trung tâm phủ lò
bên sông lớn, đầu mối giao thông thủy bộ đều có phố; phố Luy Lâu
(Thuận Thành, Bắc Ninh) bên bờ sông Dâu là nơi buôn bán cố đònh;
phố Lố bên bờ sông Nghóa Trụ (Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng Yên)
cũng được hình thành vào thời này. Chợ và phố kết hợp là thò trường
đòa phương của hương, phú nhằm giải quyết nhu cầu của các tầng lớp
nhân dân trong vùng, của tiểu nông và các tầng lớp khác. Cảng Vân
Đồn, nay là các vùng đảo Vân Hải, Ngọc Vừng, Cống Đông thuộc
Vònh Hạ Long (Quảng Ninh) là quân cảng và thương cảng có dáng vẻ
của quốc tế của nước Đại Việt thời Lý – Trần. Biển cả vốn là con
21
đường giao thông quốc tế quan trọng nhất của nước ta, là mạch nối
giữa Đại Việt và các nước xung quanh. Các cửa biển Hội Thống, Cần
Hải (đều thuộc Nghệ – Tónh), Hội Triều (Thanh Hóa) và đặc biệt là
Vân Đồn là những trung tâm buôn bán lớn với nước ngoài, là những
điểm quy tụ đường biển thời Lý – Trần.
Đô thành Thăng Long là trung tâm chính trò, văn hóa đồng thời
cũng là một trung tâm kinh tế lớn nhất của Đại Việt thời bấy giờ.
Thăng Long đến thời Trần căn bản vẫn giữ cấu trúc như đời Lý, cả La
thành, Hoàng thành, Cấm thành và nhiều cung điện vẫn giữ nguyên.
Sự chuyển triều đại từ Lý sang Trần một cách hòa bình không làm
cho Thăng Long thay đổi nhiều; nhà Trần tận dụng những cơ sở đã