Luận án tiến sĩ triết học Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông - Pdf 82


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI HUY DU
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
CỦA TRẦN NHÂN TÔNG

Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số: 6222.80.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:

TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG ..............................
10
1.1. Đặc điểm điều kiện lòch sử, kinh tế, chính trò – xã hội Việt Nam
thời kỳ nhà Trần – cơ sở xã hội hình thành tư tưởng triết học Trần
Nhân Tông .......................................................................................... 10
1.1.1. Khái quát đặc điểm điều kiện lòch sử, kinh tế, chính trò – xã hội thời
kỳ nhà Trần .......................................................................................10
1.1.2. Sự phát triển văn hóa, giáo dục thời kỳ nhà Trần.............................26
1.2. Những tiền đề lý luận và tôn giáo hình thành tư tưởng triết học
Trần Nhân Tông ............................................................................... 33
1.2.1. Giá trò văn hóa Việt Nam truyền thống và tư tưởng của “Tam giáo”
với việc hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông .................. 33
1.2.2. Tư tưởng triết học Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng só – tiền đề
lý luận trực tiếp của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông...................56
Kết luận chương 1.......................................................................................83
Chương 2:
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRẦN NHÂN TÔNG….
86

2.1. Thế giới quan trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông ................86
2.1.1. Quan niệm về bản thể trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông .....89
2.1.2. Mối quan hệ giữa bản thể và thế giới hiện tượng trong tư tưởng triết
học Trần Nhân Tông ......................................................................105
2.2. Nhân sinh quan và triết lý đạo đức trong tư tưởng triết học Trần
Nhân Tông........................................................................................114
2.2.1. Quan niệm của Trần Nhân Tông về cuộc đời con người và về vai trò
của con người trong cuộc sống .......................................................114
2.2.2. Quan niệm của Trần Nhân Tông về vấn đề rèn luyện tinh thần đạo
đức, trí tuệ, giải thoát .....................................................................122
Kết luận chương 2.....................................................................................129 LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu, dưới
sự hướng dẫn của PGS, TS. Doãn Chính. Kết quả nghiên cứu
được công bố trong luận án là trung thực. Các tài liệu sử
dụng trong luận án có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Người thực hiện

BÙI HUY DU 1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng và nhân dân ta khởi
xướng và tiến hành, cùng với nhiệm vụ phát triển toàn diện các lónh vực
kinh tế, chính trò – xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và văn hóa,
đặc biệt là đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm
“xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ
thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp

ta cũng không thể thực sự phát triển nếu như mở cửa không kiểm soát,
đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Do đó, để bảo tồn và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một mặt chúng ta
phải giữ gìn những giá trò truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc; mặt
khác, phải mở rộng giao lưu và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa
nhân loại. Đúng như Văn kiện của Đảng đã khẳng đònh: “Trong điều
kiện kinh tế thò trường và mở cửa giao lưu quốc tế phải đặc biệt giữ gìn
và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và tiếp thu truyền thống
đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa của
các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam.”
[21, tr. 111]
Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu những giá trò văn hóa tinh thần
của dân tộc ta trong tiến trình lòch sử tư tưởng Việt Nam, trên cơ sở đó
phát huy sức mạnh của những giá trò văn hóa truyền thống tốt đẹp và lâu

3
đời của dân tộc trong cuộc sống hôm nay là việc làm vừa có ý nghóa lý
luận lâu dài vừa có tính thời sự cấp bách.
Trong lòch sử tư tưởng Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm đời Trần,
trong đó tiêu biểu là tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông – “đệ nhất
tổ thiền Trúc Lâm n Tử” nổi lên như một dấu son, góp phần khắc họa
khá đậm nét bản sắc, cốt cách tâm hồn Việt Nam nói chung và đặc
trưng của triết học Phật giáo Việt Nam nói riêng trong quá trình phát
triển. Trần Nhân Tông không chỉ là nhà chính trò – một vò vua anh minh,
“nhân từ, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thû
trước” [85, tr. 44] mà còn là nhà quân sự tài năng; không chỉ là nhà văn,
nhà thơ mà còn là nhà tư tưởng lớn, một bậc thiền sư lỗi lạc – người
sáng lập ra một dòng thiền mang bản sắc Việt Nam. Ông đã biết dung
hợp các nguồn tư tưởng từ quá khứ của dân tộc với triết lý phong phú,
sâu sắc, thâm trầm của Nho, Lão, đặc biệt là triết lý Phật giáo, bằng sự

tư tưởng thời Lý – Trần với các vấn đề nghiên cứu khá sâu sắc như: Tư
tưởng chính trò và xã hội thời Lý – Trần, Nho giáo ở Việt Nam, các yếu
tố Phật, Nho, Đạo được tiếp thu và chuyển hóa như thế nào trong thời
đại Lý – Trần, ý nghóa xã hội của phái Trúc Lâm thời Trần… Các công
trình trên cũng đã nghiên cứu khá kỹ về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp
của
Trần Nhân Tông gắn liền với các biến cố lòch sử Việt Nam giai đoạn
thế

kỷ XIII – XIV, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn về Trần Nhân
Tông.5
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông dưới
góc độ lòch sử tư tưởng văn hóa, tôn giáo. Liên quan đến chủ đề này
phải kể tới các công trình như: Thơ văn Lý – Trần, do Viện Văn học biên
soạn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1989; Việt Nam Phật
giáo sử luận của Nguyễn Lang, Nxb. Văn học, Hà Nội, xuất bản năm
2000; Lòch sử Phật giáo Việt Nam, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1993; Phật giáo Việt Nam từ
khởi nguyên đến thế kỷ XIII của Trần Văn Giáp, Ban Tu thư, Đại học
Vạn Hạnh, Sài Gòn, xuất bản năm 1968; Lòch sử Phật giáo Việt Nam,
của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, xuất bản
năm 1993; Tam tổ thực lục, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, xuất
bản năm 1995 (Thích Phước Sơn dòch và chú giải); Thiền uyển tập anh,
Nxb. Văn học, Hà Nội, 1993; Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam (3
tập) của Lê Mạnh Thát, Nxb, Tp. Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2002;
Thiền học Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn,
1966; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb. Khoa

xuất bản năm 2002; Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần, do Doãn Chính –
Trương Văn Chung chủ biên, Nxb. Chính trò quốc gia, Hà Nội, xuất bản
năm 2008; Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Trọng
Chuẩn chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006; và các tác phẩm
khác như Tam tổ Trúc Lâm giảng giải của Thích Thanh Từ, Nxb. Thành
phố Hồ Chí Minh, 1997; Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh Từ, Nxb.
Thành phố Hồ Chí Minh, 1995; Thiền học đời Trần của Thích Thanh Từ
chủ biên, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995; Trần Nhân Tông

7
toàn tập của Lê Mạnh Thát, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2000… Liên
quan đến đề tài luận án còn có các bài báo, công trình khoa học được
các nhà nghiên cứu công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành và
các kỷ yếu hội thảo khoa học, như bài Triết học Phật giáo Trần Thái
Tông, của Nguyễn Hùng Hậu, Nội san nghiên cứu Phật học số 4/1994 và
số 1/1995, bài Tìm hiểu tư tưởng triết học Thiền của Trần Nhân Tông của
Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Triết học, số 3, năm 1995 hay bài Tư tưởng
triết học Trần Thái Tông, của Doãn Chính và Nguyễn Ngọc Phượng,
Tạp chí Triết học số 1 (212) tháng 1 năm 2009; Vài nhận xét về Thiền
tông và phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần của Tạ Ngọc Liễn, Tạp chí
Nghiên cứu lòch sử, 1976; và Kỷ yếu 700 năm ngày viên tòch Sư tổ Trúc
Lâm, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, xuất bản năm 2008, v.v… Các công trình
kể trên đã tập trung nghiên cứu tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông
qua các vấn đề lớn về bản thể luận, nhận thức luận và triết lý đạo đức
nhân sinh của ông gắn liền với quá trình phát triển của lòch sử tư tưởng
Việt Nam, tuy vậy tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông mới được các
công trình kể trên nghiên cứu ở mức độ khái quát nhất.
Tuy nhiên các công trình khoa học trên vẫn thực sự là những tài
liệu bổ ích để chúng tôi học tập, kế thừa, phát triển trong đề tài luận án
của mình. Tiếp tục thành quả của các công trình nghiên cứu trên, chúng

triết lý đạo đức.
Hai là, luận án đã trình bày, phân tích, đánh giá rút ra những đặc
điểm chủ yếu của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông, đó là tính chất kế

9
thừa, dung hợp, tinh thần thiền hành động nhập thế tích cực và tinh thần
nhân văn sâu sắc; đồng thời luận án cũng nêu lên những giá trò lòch sử
của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông; đó là triết học Trần Nhân Tông
góp phần tạo nên hệ thống triết lý thiền đặc sắc Việt Nam, là nền tảng
tinh thần để xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập, thống nhất, một
nền chính trò thân dân.
6. Ý nghóa khoa học và ý nghóa thực tiễn của luận án
Về ý nghóa khoa học, luận án góp phần làm rõ nội dung và đặc
điểm cơ bản trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông qua các vấn đề
bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức nhân sinh, từ đó giúp người đọc tìm
hiểu một cách sâu sắc và hệ thống tư tưởng triết học của Trần Nhân
Tông.
Về ý nghóa thực tiễn, thông qua những đặc điểm của tư tưởng triết
học Trần Nhân Tông được trình bày trong luận án, có thể rút ra những
bài học lòch sử bổ ích góp phần vào việc gìn giữ và phát huy bản sắc và
truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam trong công cuộc đổi mới và hội
nhập quốc tế hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảng dạy về lòch
sử tư tưởng Việt Nam cho sinh viên và học viên cao học các ngành Triết
học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Sử học trong các trường Cao đẳng và
Đại học.
7. Kết cấu cơ bản của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham
khảo, luận án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết và 13 mục.


ở nhiều đòa phương, các thế lực đòa chủ phong kiến đã tập hợp lực
lượng nổi dậy chống phá triều đình, gây nên tình trạng cát cứ phân
quyền. Nổi bật trong số các thế lực cát cứ thời bấy giờ là tập đoàn
quân sự của anh em họ Trần ở vùng Hải Ấp (Thái Bình). Do có công
giúp nhà Lý dẹp loạn, lập lại trật tự, gia tộc họ Trần được triều đình
trọng dụng đã thao túng quyền bính và dần thâu tóm mọi quyền lực
trong tay. Tập đoàn quý tộc họ Trần rất khôn khéo, dần dần từng
bước vững chắc và cuối cùng chuyển chính quyền từ dòng họ Lý sang
dòng họ Trần một cách êm thấm trong hoàng cung và triều đình mà
hầu như không có tác động gì làm xáo trộn xã hội.
Năm 1225 Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Chiêu
Thánh vừa mới bảy tuổi, rồi lên làm Thái Thượng hoàng và sau đó
xuất gia đi tu ở chùa Chân Giáo, lấy hiệu là Huệ Quang đại sư. Theo
sự dàn xếp của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng đã kết hôn với Trần
Cảnh. “Mùa đông, tháng 12, ngày 12 năm Ất Dậu (1225) nhận thiền
vò của Chiêu Hoàng, lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung”
[85, tr.7] dưới sự giúp đỡ, ủng hộ của Trần Thủ Độ và họ hàng. Nhà
Trần trải qua các triều vua đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm phát
triển các mặt kinh tế, chính trò, xã hội, thúc đẩy xã hội tiến lên một
bước đáng kể. Dưới triều Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông, đất
nước ta trải qua ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông
xâm lược (cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258, cuộc kháng chiến
lần thứ hai năm 1285, cuộc kháng chiến lần thứ ba năm 1288) nâng
cao vò trí nhà Trần trong lòch sử.
Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại, năm 1240 nhà Trần
đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ. Dưới lộ, phủ có châu, huyện, xã. Đại

12
Việt sử ký toàn thư viết: “Nhâm Dần/ Thiên Ứng/ năm thứ 11/ 1242
(Tống Thuần Hựu năm thứ 2). Mùa xuân, tháng 2, chia nước làm 12

quyền lực trong triều vào tay các vương hầu, quý tộc họ Trần, các vua
Trần phải sử dụng một số quan chức không phải họ Trần, giữ chức vụ
quan trọng trong triều Trần như trạng nguyên Mạc Đónh Chi, hoàng
giáp Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Lê Quát sau này…
Tiếp tục những chính sách của thời Lý, nhà Trần mở khoa thi để
chọn quan lại. Ngoài ra, những người không đỗ đạt nhưng có tài vẫn
sử dụng. Phan Huy Chú (sử gia thế kỷ XIX) có nhận xét: “Triều Trần
dùng người thật là công bằng, tuy đã đặt khoa mục mà trong việc kén
dùng chỉ cốt tài là được, cho nên những nho só có chí hướng thường
được trổ tài của mình, không đến nỗi bó buộc hạn chế về tư cách…,
chỉ cần người dùng được chứ không câu nệ ở đường xuất thân. Nhân
tài văn học được thònh cũng nhờ thế chăng?” [9, tr. 22].
Có lẽ trong buổi đầu, quan lại không được cấp ruộng đất, sau
kháng chiến chống giặc Nguyên mới phát triển chế độ này. Quan lại
được phép nuôi người hầu với mức nuôi nhiều nhất là 1.000 người.
Vương hầu được phép nuôi gia nô, gia đồng, khi cần được tổ chức
quân đội riêng. Thời chiến, vương hầu được lệnh thống suất quân lính
ở thái ấp của mình. Năm 1283, chuẩn bò chống ngoại xâm, nhà vua
giao cho Trần Quốc Tuấn đốc suất vương hầu chiêu mộ binh lính, sắm
sửa vũ khí tham gia kháng chiến. Nói chung bộ máy quan lại thời
Trần được tổ chức quy mô hơn thời Lý, bộ máy nhà nước đó đã góp
phần củng cố sức mạnh của nhà nước trung ương.

14
Về tổ chức quân đội, nhà Trần thay nhà Lý, cùng với việc hoàn
thiện bộ máy nhà nước để ổn đònh xã hội, củng cố chính quyền phong
kiến trung ương tập quyền, nhà Trần đã ra sức xây dựng một tổ chức
quân đội hùng mạnh đủ sức bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Quân
chủ lực nhà Trần cũng chia thành hai bộ phận như thời nhà Lý là cấm
quân và quân các lộ (ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là

luật. Cơ quan luật pháp thời Trần cũng được tăng cường và hoàn thiện
hơn. Pháp luật và tổ chức tư pháp thời Trần có mấy đặc điểm sau:
Trước hết pháp luật đời Trần khẳng đònh và củng cố sự phân
chia đẳng cấp. Đại quý tộc trước hết là hoàng gia và vua được pháp
luật bảo vệ các đặc quyền đặc lợi. Riêng với họ hàng nhà Trần nếu
phạm tội thì bò xử nhẹ hơn. Luật bắt buộc các nô tỳ phải thích chữ vào
trán, mang hàm hiệu của chủ, nếu không bò coi là giặc cướp, nhẹ thì
sung làm quan nô, nặng thì tù. Nô tỳ không có quyền kết hôn với quý
tộc. Đáng lưu ý là trong xã hội sự ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu
đậm, còn lễ giáo Nho giáo sự ảnh hưởng trong nông thôn chưa sâu sắc
lắm, ý thức về tông tộc tông pháp trong dân gian hãy còn mờ nhạt,
phong tục tập quán vẫn giữ tính bản đòa.
Pháp luật đời Trần xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản,
đặc biệt là ruộng đất. Quan hệ tiền tệ đã công khai thâm nhập pháp
luật, lệ chuộc tội bằng tiền được quy đònh cụ thể. Việc mua bán,
chuyển nhượng và gán vợ con làm nô tỳ là công khai và hợp pháp.
Tầng lớp nô, nô tỳ đông đảo là tầng lớp thấp hèn trong xã hội, bò coi
như một “vật” sở hữu của quý tộc.

16

Tiếp tục xu hướng pháp luật thời Lý, pháp luật thời Trần cũng
đã chú trọng đến việc bảo vệ sản xuất nông nghiệp trong đó đã có
những điều luật bảo vệ trâu bò và các công trình thủy lợi. Luật nhà
nước coi việc xây dựng và sửa chữa đê điều là công việc của toàn dân
kể cả triều đình [55, tr. 186].
Về ngoại giao, một vấn đề lớn đặt ra cho nhà Trần là việc đối
phó với mưu đồ bành trướng của đế quốc Nguyên – Mông ở phương
Bắc. Từ sớm nhà Trần đã giữ quan hệ hòa hảo với nhà Tống và theo
lệ cũ sang triều cống cho đến khi nhà Tống mất. Năm 1285, nhà Trần

theo diện tích và phải thêm một số tiền nhất đònh. Như vậy số tiền và
số thóc mà nông dân làng xã đóng cho nhà nước đã mang một ý nghóa
tổng hợp: vừa là thuế vừa là đòa tô. Năm Nhâm Dần, [Thiên Ứng
Chính Bình] năm thứ 11/1242 nhà Trần cũng đã ban bố luật tô thuế
cho loại ruộng công của làng xã rằng: “Nhân đinh có ruộng đất thì
nộp tiền thóc, người không có ruộng đất thì miễn cả. Có 1, 2 mẫu thì
nộp 1 quan tiền; có 3, 4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, từ 5 mẫu trở lên thì
nộp 3 quan tiền. Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc.” [85, tr. 19]
Về hình thức sở hữu ruộng đất tư nhân, gồm có: thái ấp, điền
trang của quý tộc nhà Trần, ruộng tư hữu của đòa chủ và ruộng đất sở
hữu của tiểu nông.
Thời Lý các quan trong, quan ngoài đều không được cấp bổng.
Đến thời Trần mới đònh lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong ngoài,
đây là nét khác biệt rất cơ bản về tổ chức nhà nước của hai triều đại.
Có thể thấy thêm chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc của nhà

18
Trần dưới một hình thức tiêu biểu nhất là thái ấp. Ban cấp thái ấp là
chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính
quyền nhà Trần. Nguồn đất ban đầu của thái ấp thuộc quyền sở hữu
nhà nước, nhưng khi ban cấp thành thái ấp thì thái ấp thuộc chiếm hữu
tư nhân các quý tộc. Thái ấp thời Trần cũng là nơi ở bền vững của
quý tộc và mãi mãi được lưu truyền, như lời Trần Hưng Đạo đã nói
trong Hòch tướng só rằng: “thái ấp của ta mãi mãi bền vững mà bổng
lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng.” [95, tr. 392]
Ngoài thái ấp thì năm 1266, do nhu cầu khẩn trương mở rộng
diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, củng cố thêm thế
lực của quý tộc Trần, nhà Trần đã cho các vương hầu công chúa, phò
mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp
làm nô tỳ để khai khẩn đất hoang lập điền trang. Vương hầu có điền

Trần vẫn tiếp tục xây dựng quan xưởng thủ công nghiệp nhà nước.
Thủ công nghiệp nhà nước gồm có nhiều ngành nghề sau: nghề sản
xuất đồ gốm là bộ phận quan trọng trong xưởng; nghề dệt cũng được
nhà nước chú ý, đặt ngay trong cung đình; và đặc biệt trong thủ công
nghiệp nhà nước là xưởng chế tạo vũ khí. Thủ công nghiệp nhân dân
cũng là bộ phận quan trọng và phổ biến của tiểu thủ công, của tiểu
nông chợ, phố, lò, sở, phủ lộ và kinh thành Thăng Long là địa điểm
trao đổi sản phẩm. Các nghề thiết yếu của thủ công nghiệp nhân dân
thời Trần là nghề gốm, nghề rèn, nghề đúc đồng, nghề làm giấy và
khắc bản in, nghề mộc, nghề xây dựng và nghề khai khoáng.

20
Mạng lưới thương nghiệp và thành thò ngay từ đầu đã được nhà
Trần quan tâm, qua việc xây dựng nên một hệ thống giao thông thủy
bộ trong cả nước. Hệ thống giao thông, biển và trên bộ thời Trần phục
vụ cho yêu cầu quân sự nhưng cũng có nhiều tác dụng tốt cho thương
nghiệp. Đường bộ, đường thủy cho yêu cầu quân sự không còn do các
đòa phương và nhân dân tự phát xây dựng mà là công tác của chính
quyền đòa phương, của triều đình trực tiếp tổ chức, xây dựng; đây là
bước tiến lớn so với thời Lý.
Để phát triển lưu thông hàng hóa các vua Đại Việt thời Lý –
Trần đều có đúc tiền. Ngoài ra trên thò trường còn sử dụng nhiều tiền
Trung Quốc. Nhà Trần đã mở rộng việc mua bán đất bằng tiền, nộp
tiền để lấy quan chức, việc đúc tiền do quan xưởng đảm nhiệm. Quan
hệ tiền tệ đã thâm nhập vào đời sống chính trò và tín ngưỡng. Nhà
nước thu tô thuế bằng tiền, cũng đã thể hiện chức năng thanh toán của
tiền tệ thời Trần đã phát triển rộng lớn.
Tiêu biểu nhất cho mạng lưới nội thương là hệ thống chợ ở
đồng bằng sông Hồng, ngoài chợ ra còn có phố. Các trung tâm phủ lò
bên sông lớn, đầu mối giao thông thủy bộ đều có phố; phố Luy Lâu

cung cấp một số đồ dùng thiết yếu như: vải, lụa, giấy, gạo, vũ khí.
Kết cấu cư dân và nghề nghiệp của Thăng Long là công, nông,
thương, só và quan chức. Các phường Thăng Long không hoàn toàn
đơn thuần là của thợ thủ công và thương nhân mà có nhiều nông dân.
Kết cấu này là sự phát triển của Thăng Long từ một trung tâm chính
trò mở rộng thành một trung tâm kinh tế – văn hóa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status