Tinh thần nhập thế trong tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

……………………………. NGUYỄN THỊ TOAN

TINH THẦN NHẬP THẾ TRONG TƯ TƯỞNG
PHẬT GIÁO CỦA TRẦN NHÂN TÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC



TINH THẦN NHẬP THẾ TRONG TƯ TƯỞNG
PHẬT GIÁO CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS Hoàng Thị Thơ

Hà Nội - 2010

111
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO 10
1.1. Nhập thế - một xu hướng chung của tôn giáo 10
1.2 Tinh thần nhập thế trong tư tưởng phật giáo Ấn Độ 16

văn hóa, giữa các quốc gia. Vì vậy việc nghiên cứu tinh thần nhập thế của
tôn giáo không thể bỏ qua.
Nhân loại hiện nay đang bước vào giai đoạn hậu công nghiệp, hay nền
văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức. Bên cạnh đời sống kinh tế rất phát triển
với một khối lượng của cải vật chất đồ sộ do tiến bộ khoa học kỹ thuật mang
lại, thì đời sống tinh thần của con người trong xã hội hiện đại đang phải đối
mặt với những khổ nạn mới như: sự phân hóa giàu nghèo, cạnh tranh và
xung đột, ô nhiễm môi trường, và sự tha hóa về mặt đạo đức lối sống… Đối
mặt với những khổ nạn ấy, Phật giáo với giá trị nhân bản trong việc giải
thoát cho con người dường như đã đáp ứng được nhu cầu tâm linh, khoảng
trống và nỗi thất vọng trong lòng con người. Bằng khả năng điều chỉnh sự
cân bằng trong nội tâm, Phật giáo có thể giúp con người sống hài hòa trong
thế giới này.
Phật giáo là một tôn giáo lớn, và ngày nay chúng ta không khỏi ngạc
nhiên khi thấy nhân loại, đặc biệt là các nước phương Tây đang có trào lưu
hướng về châu Á, hướng về đạo Phật. Điều này có thể lý giải một phần từ
những giá trị nhân văn của đạo đức Phật giáo. Hơn nữa, Phật giáo đã thực sự

2
nhập thế trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, ngay cả các hoạt động kinh tế
kinh doanh. Phật giáo không dạy con người ta xa rời cuộc sống để làm thần,
làm thánh hoặc xuất gia làm hòa thượng trong chùa chiền, nơi rừng sâu, mà
Phật giáo hướng tới cải tạo xã hội, cải tạo thế giới bằng đạo đức, làm cho
loài người tiến bộ và nhân văn hơn.
Ở Việt Nam, Phật giáo được du nhập vào từ rất sớm và đã nhanh chóng
hòa quyện với tín ngưỡng bản địa của người Việt, trở thành một tôn giáo dân
tộc. Trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam, Phật giáo luôn đồng
hành cùng dân tộc. Các thiền sư Việt Nam, đặc biệt dưới các triều đại Đinh,
Tiền Lê, Lý, Trần đã nhập thế tích cực khi đem tài năng và trí tuệ của mình
phục vụ đất nước, dân tộc; nhưng không hề cầu màng danh lợi, quyền uy mà

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phật giáo là một tôn giáo - triết học lớn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu
của nhiều học giả trong và ngoài nước. Có một khối lượng khá đồ sộ các
công trình nghiên cứu tổng quan về Phật giáo hay các khía cạnh khác nhau
của Phật giáo. Riêng nghiên cứu vấn đề nhập thế của Phật giáo nói chung và
tinh thần nhập thế trong tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông nói riêng
cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt, mà chủ yếu là
rất nhiều các bài viết đề cập tới vấn đề này từ các góc độ khác nhau song
chưa thành một mạch hệ thống.
*Về khái niệm nhập thế và tinh thần nhập thế của Phật giáo cũng đã
có nhiều bài viết nghiên cứu, tiêu biểu là Đỗ Quang Hưng với “Phật giáo
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa” (tạp chí Khoa học xã hội
số 9/2006, tr. 58-66). Trong bài viết này, tác giả đã rất đề cao vai trò của
Phật giáo trong xã hội hiện đại và những thay đổi của Phật giáo nói chung

4
cho phù hợp với thời đại mới, từ đó chỉ ra nhiệm vụ của Phật giáo trong giai
đoạn hiện nay. Tác giả cũng nhấn mạnh, Phật giáo hiện nay là Phật giáo
nhập thế. Khái niệm “nhập thế” được tác giả phân tích, chứng minh là không
đồng nhất với khái niệm “thế tục hóa” của Phương Tây. Xu hướng nhập thế
của Phật giáo được tác giả khảo cứu qua Phật giáo ở Nhật Bản, Trung Quốc
và Phật giáo Việt Nam. Tác giả Đới Thần Kinh (Trần Nghĩa Phương dịch)
với “Thế tục hóa và thần thánh hóa” (tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 4/2007,
tr. 11-17) đã xuất phát từ phân tích khái niệm thế tục hóa của tôn giáo nói
chung khi các tôn giáo đều có xu hướng chuyển từ lấy thần thánh làm trung
tâm sang lấy con người và xã hội loài người làm trung tâm, từ đó đi đến
khẳng định xu hướng của Phật giáo ở Châu Á là Phật giáo nhập thế. Tác giả
dường như đã đồng nhất khái niệm “nhập thế” với khái niệm “thế tục hóa”
và kết luận “dưới sự chỉ đạo của tinh thần nhập thế, các tôn giáo tích cực
tham gia bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy các công cuộc phát triển xã hội,

hóa” chỉ được nhắc tới khi có nội dụng liên quan trong xu hướng chung của
sự phát triển các tôn giáo hiện đại.
Vấn đề nhập thế của Phật giáo không còn phải là một vấn đề mới mẻ,
mà đã được các học giả bàn nhiều và bóc tách dưới nhiều khía cạnh khác
nhau của nhập thế. Song, nhìn chung, các bài nghiên cứu về vấn đề này còn
nói rất chung chung và chủ yếu nhấn mạnh vai trò, tính đắc dụng của Phật
giáo trong xã hội hiện đại mà chưa chỉ ra cụ thể Phật giáo nhập thế là như thế
nào và cũng chưa thấy được tinh thần nhập thế của Phật giáo là vốn có ngay
từ trong Phật giáo nguyên thủy khi Đức Phật sáng lập tôn giáo này. Tiếp thu
thành tựu của các học giả nghiên cứu đi trước, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu
và sáng tỏ vấn đề, nhưng không chỉ dừng lại ở làm rõ khái niệm mà luận văn
còn chỉ ra logic phát triển của vấn đề - đó là mạch nguồn xuyên suốt trong
tiến trình phát triển của lịch sử Phật giáo. 6
*Vấn đề nhập thế trong tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông là một điển hình nhập thế của Phật giáo Việt Nam nói
chung và Phật giáo đời Trần nói riêng, ông đã kế thừa dòng chảy này từ các
vị tiền bối và ứng dụng linh hoạt tư tưởng thiền Phật giáo làm rạng rỡ triều
đại mình trên tất cả mọi lĩnh vực. Nghiên cứu về Trần Nhân Tông và tư
tưởng Thiền học của ông đã có rất nhiều công trình, riêng về “tinh thần nhập
thế trong tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông” có nhiều công trình hoặc
trực tiếp hoặc có liên quan đã đề cập tới như sau:
Tác giả Lê Mạnh Thát với “toàn tập Trần Nhân Tông” (Nxb TP Hồ
Chí Minh, 2000), qua khái quát tổng hợp toàn bộ tư tưởng và hành động của
Trần Nhân Tông trong công cuộc dựng nước và giữ nước, đã đặc biệt nhấn
mạnh tài ứng dụng đạo Phật vào trị quốc, an dân. Qua đó tác giả đã làm nổi
bật được tinh thần nhập thế thiết thực ở Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
Nguyễn Tài Thư với “Xu hướng nhập thế trong tư tưởng Phật giáo

1967); Nguyễn Duy Hinh với “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” (Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1999) và “Triết học Phật giáo Việt Nam” (Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội, 2006); Nguyễn Hùng Hậu với “tìm hiểu tư tưởng triết
học thiền của Trần Nhân Tông” (Tạp chí Triết học số 3/1995), “Lược khảo
tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, 1997), và “Đại
cương triết học Phật giáo Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002),
Nguyễn Lang với “Việt Nam Phật giáo sử luận” (Nxb Văn học, Hà Nội,
2008); Đặng Ánh Tuyết với “Góp phần tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo
đời Trần” (Luận văn thạc sĩ Triết học, khoa Triết, ĐHKHXH và NV, ĐHQG
Hà Nội), Đỗ Trung Lai “Trần Nhân Tông, nhân vật kiệt xuất nhất trong sơ
đồ Phật giáo Việt Nam” (tạp chí Nghiên cứu Phật học số 1/2008)… và rất
nhiều công trình nghiên cứu, bài viết khác.

8
Như vậy, mặc dù vấn đề nhập thế và tinh thần nhập thế trong tư tưởng
Phật giáo của Trần Nhân Tông đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề
cập đến trực tiếp hoặc gián tiếp, song cho đến nay vẫn chưa có một công
trình nghiên cứu thực sự sâu sắc. Luận văn kế thừa và tiếp thu kết quả của
các học giả trước đó, đi nghiên cứu, phân tích làm rõ khái niệm “nhập thế”
và vấn đề nhập thế trong tư tưởng Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam.
Điển hình là “tinh thần nhập thế trong tư tưởng Phật giáo của Trần
Nhân Tông”.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của luận văn là tìm hiểu logic phát triển của tinh thần nhập thế
trong lịch sử Phật giáo từ Ấn Độ, rồi trong lịch sử Việt Nam tới thời Lý
Trần; từ đó làm rõ tư tưởng nhập thế điển hình của Phật giáo Trần Nhân
Tông.
Để hoàn thành mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích quan niệm và tinh thần nhập thế của Phật giáo Ấn Độ
- Phân tích tư tưởng nhập thế của Phật giáo Trần Nhân Tông
10
Chương 1:
TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA PHẬT GIÁO

1.1. Nhập thế - một xu hướng chung của tôn giáo
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập hiện nay, nhiều vấn đề về kinh tế,
văn hoá, tôn giáo, dân tộc… đang được đặt ra, trong đó tôn giáo đang là một
trong những vấn đề nhạy cảm. Trong diễn trình phát triển, không có tôn giáo
nào cố định, bất biến trong giới hạn địa lý, văn hoá, dân tộc… ban đầu của
nó, đồng thời trong quá trình truyền bá, các tôn giáo luôn tạo ra các ranh giới
(chuẩn mực tôn giáo) mới, và do vậy còn vượt các ranh giới mà chính nó
hoặc tôn giáo khác xác lập. Đó không chỉ là quan hệ giữa các tôn giáo mà
còn là quan hệ giữa tôn giáo với xã hội thế tục, và hai vấn đề nổi lên trong xu
hướng mở rộng giới hạn qua quan hệ đa chiều, đa phương của các tôn giáo
hiện nay chính là vấn đề nhập thế và thế tục hóa.
Khái niệm “thế tục hoá” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “seaculum” (the
transfer of power to the secular). Khởi đầu từ này được dùng trong bối cảnh
văn hoá Kitô giáo, để chỉ việc chuyển giao một số quyền lực chính trị, tôn
giáo và lãnh địa vốn thuộc Giáo hội thần thánh cho xã hội thế tục; như việc
tách nhà trường, tòa án ra khỏi nhà thờ Dần dần, khái niệm thế tục hóa
được dùng để mô tả sự tự chủ hóa của các hoạt động, các hình thức tư tưởng
so với nền văn hóa truyền thống mà các giá trị Kitô giáo làm cơ sở. Đó cũng
chính là “quá trình công năng của một bộ phận tôn giáo bị công năng xã hội
có tính chất phi tôn giáo thay thế” [37, tr. 11].
Theo Tác giả Đỗ Quang Hưng, “quá trình thế tục hóa liên quan đến sự
giải phóng hữu hiệu mối quan hệ giữa con người với thế giới mà không bị
các truyền thống tôn giáo kiềm chế. Kéo theo đó là việc thiết lập mối quan
hệ về luật pháp trong đó nhà nước hoàn toàn trung lập về mặt tôn giáo đồng

lại quyền lực chính trị cho Nhà nước, tức là Nhà nước thế tục hóa quyền lực

12
điều hành chính trị mà trước đó quyền lực cao nhất này thuộc về Giáo hội
(như ở Bà La Môn giáo (Ấn Độ) và Thiên chúa giáo (châu Âu thời Cổ đại và
Trung cổ). Hay tương tự như việc tách toà án và nhà trường ra khỏi nhà thờ
ở châu Âu thời Khai sáng… Thuật ngữ “nhập thế” lại chỉ sự chủ động tham
gia của các lực lượng tôn giáo vào các vấn đề thế tục như chính trị, kinh tế,
văn hoá, thậm chí cả quân sự… Đặc biệt Phật giáo là một tôn giáo xuất thế,
trong quá trình du nhập, truyền giáo và hòa nhập với các nền văn hoá, văn
minh bản địa, nó đã phải không ngừng nhập thế. Tuy nhiên khi nhập thế, các
tôn giáo cũng có khi tiếm quyền của các tổ chức xã hội, song riêng Phật giáo
Việt Nam trong lịch sử đã không tiếm quyền của lực lượng thế tục mà chỉ
góp phần làm cho đời sống thế tục nhân hậu hơn, tình người hơn. Đây là
điểm độc đáo của Phật giáo mà luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu vào
trường hợp tư tưởng Phật giáo Trần Nhân Tông như một điển hình đẹp của
Phật giáo Việt Nam.
Trong xu hướng hội nhập, nhất là khi đời sống tôn giáo thế giới đang
đứng trước xu thế đa nguyên tôn giáo như hiện nay, “nhập thế” và “thế tục
hoá” lại có phần bổ trợ và cộng hưởng nhau. Quá trình thế tục hóa có thể góp
phần làm cho các tôn giáo chủ động nhập thế hơn, và ngược lại, nhập thế
cũng làm cho quá trình thế tục hóa diễn ra mau chóng hơn. Cùng với sự biến
động của lịch sử, các tôn giáo liên tục thay đổi và hội nhập cùng đời sống,
chính vì vậy, hai vấn đề nhập thế và thế tục hóa nhiều khi còn được hiểu
theo nghĩa tương đồng, thậm chí có học giả coi chúng như là đồng nghĩa [37,
tr. 17].
Như vậy, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thời đại mới, các tôn giáo đã
không ngừng thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với sự biến đổi của xã hội. Ở
Việt Nam, các tôn giáo cũng đều chủ trương hòa hợp, tích cực hội nhập vào
cuộc sống, tạo phúc cho xã hội, thể hiện tinh thần nhập thế tích cực. Chẳng

14
niệm Phật giáo nhập thế được nhìn nhận từ góc độ chức năng, nhiệm vụ của
tăng sĩ. Theo đó, tăng, ni có hai nhiệm vụ cơ bản là học tập giáo pháp (thông
Tam tạng kinh điển) và thiền định. Hội thảo cũng đã đưa ra các dạng thức
của Phật giáo nhập thế: nhập thế xuất phát từ pháp môn thiền định về lòng từ
ái, phát khởi tâm từ bi, đi vào cuộc đời để giúp cuộc đời; đem giáo pháp của
đức Phật đi vào cuộc đời. Phật giáo nhập thế còn quan tâm đến vấn đề chính
trị, văn hóa, đạo đức lối sống…
Như vậy, Phật giáo định nghĩa nhập thế là Phật giáo từ bi, Phật giáo đáp
ứng, đối mặt với đau khổ của con người và giải thoát con người khỏi mọi
khổ đau. Điều đó thể hiện ngay trong quan niệm “Tứ vô lượng tâm” (gồm
Từ, Bi, Hỉ, Xả) của Phật giáo. Từ là tâm yêu thương luôn đem lại niềm vui
cho tất cả chúng sinh. Bi là tâm thương xót, san xẻ bớt niềm đau của muôn
loài. Hỉ là tâm vui mừng khi thấy người khác hết đau khổ. Xả là tâm không
còn chấp cả những hành vi tốt đẹp đã làm vì tha nhân.
Phật giáo nhập thế, ngoài nghĩa từ bi hỉ xả, còn có nghĩa là Phật giáo áp
dụng. Tức là áp dụng những gì đã có trong giáo lý, trong thực hành thiền
định, trong trí tuệ đã đạt giác ngộ của thiền định… vào điều kiện cụ thể của
cuộc sống hiện tại. Như vậy, hai nội dung hành động cơ bản của tinh thần
nhập thế của Phật giáo chính là: - đem tư tưởng từ bi của nhà Phật vào giúp
đời và, - bằng trí tuệ bát nhã áp dụng các tư tưởng đắc dụng của Phật giáo
vào giải quyết các vấn đề xã hội.
Phật giáo thường được coi là một tôn giáo xuất thế, lánh đời, song xem
xét kĩ thì ngay trong nền tảng triết học của toàn giáo lý thì nhập thế đã là một
yếu tố có sẵn trong giáo lý nguyên thuỷ. Đó là triết lý Vô ngã trên cơ sở học
thuyết Duyên khởi, Vô thường được luận chứng trên tinh thần bình đẳng tôn
giáo về bản chất “khổ” của cuộc đời, bác bỏ vị trí thần thánh tối thượng của
đẳng cấp Bà La Môn trong Bà La Môn giáo ở Ấn Độ lúc đó. Và tinh thần

15

giáo dục, nghệ thuật …
Như vây, nhập thế là xu hướng đã có của Phật giáo nói chung mà điển
hình ở Phật giáo Việt Nam là thời Trần, và cá nhân điển hình là Trần Nhân
Tông. Ông là một vị vua Phật đã ứng dụng linh hoạt lời Phật dạy trong các
hoạt động chính trị, ngoại giao, đạo đức, văn hóa, giáo dục… tạo ra một
vương triều thịnh trị trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam.
Trong quá trình hiện đại hóa, Phật giáo Việt Nam không ngừng phát
huy các giá trị nhập thế, đặc biệt “xu hướng nhập thế của Phật giáo Việt Nam
từ giữa thế kỷ XX là hướng tới một đạo Phật dấn thân vì xã hội” [32, tr. 65].
Đạo Phật ở Việt Nam cũng như trên thế giới hôm nay vẫn đang tiếp tục xu
hướng chung của các tôn giáo nhằm khẳng định vị trí của mình trong thời đại
mới, và tích cực nhập thế trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mang lại
một xã hội đạo đức, nhân văn, tiến bộ và tình người hơn.
1.2 Tinh thần nhập thế trong tư tưởng phật giáo Ấn Độ
1.2.1 Tinh thần nhập thế trong tư tưởng Đức Phật
Phật giáo là tinh hoa của văn hóa Ấn Độ cổ, ra đời trên cơ sở kế thừa và
phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa Ấn Độ lúc bấy giờ, đặc biệt
là những tư tưởng triết học và đạo đức nhân văn trong Vêda và Upanisad.
Cùng thời với Phật giáo còn có 8 trường phái triết học khác (Samkhya,
Nyaya, Vaisesika, Yoga, Mimamsa, Vedanta, Lokayata, Jaina). Phật giáo với
những triết thuyết sâu sắc, với tư tưởng từ bi, bác ái, đặc biệt là bình đẳng
tôn giáo đã mang một hơi thở mới, sức sống mới tới xã hội Ấn Độ cổ đại.
Đức Phật đản sinh vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, thành đạo năm
35 tuổi, 45 năm thuyết pháp độ đời và nhập Niết bàn năm 80 tuổi. Ngay từ
khởi đầu, Phật giáo đã là một cuộc cách mạng chống lại tôn giáo thần quyền

17
của Bà La Môn giáo. Phật giáo đã mang nội dung tinh thần bình đẳng - phi
thần quyền tiến bộ khi công nhận quyền bình đẳng tôn giáo giữa con người,

đã khuyến khích, động viên nhiều tầng lớp người Ấn Độ lúc đó không ngừng
tu tập thiện tâm để tiến đến giải thoát.
Đức Phật đã chỉ ra chân tướng của Ngã, đó chẳng qua chỉ là quá trình
sinh diệt biến hoá liên tục, không có thực thể bất biến. Như vậy nếu tưởng
Ngã là thực thể bất biến thì chỉ là sự mê vọng. Cho nên gọi là chư hành vô
ngã. Chúng sinh vì không biết (vô minh) mà cho rằng thế giới là thường trụ,
và có ngã đích thực, do vậy chấp trước thành Ngã tưởng, rồi sinh ra mọi
hoặc (mê lầm, sai trái), tạo ra mọi nghiệp, tự mình chuốc lấy khổ nghiệp. Đó
gọi là nhất thiết giai khổ. Nếu biết được “chư hành vô thường, chư pháp vô
ngã, nhất thiết giai khổ”, tức là đoạn diệt được mọi “hoặc”, “nghiệp”, “khổ”,
là đạt tới chỗ niết bàn tịch tĩnh.
Phật giáo không như phần đông các tôn giáo khác, bắt tín đồ phải tin
tưởng một cách mù quáng, mà đức tin sẽ được khẳng định khi đã tự mình
nhận thức thấu đáo giáo lý. Cho nên, trong các lời kinh, bao giờ Đức Phật
cũng nhấn mạnh nơi chữ “kiến” (thấy) hơn chữ “tín” (tin). Phật dạy: “Này
Anan! Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính
mình, chớ y tựa người khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh
pháp làm chỗ tựa” [9, tr. 276]. Lời dạy này, cho chúng ta ý nghĩa rất rõ ràng
về tinh thần bình đẳng và tự do có từ đạo Phật nguyên thuỷ, không những chỉ
đề cao bổn phận và trách nhiệm của từng cá nhân mà còn nói lên tinh thần tự
do tư tưởng, tôn trọng quyền tự do chọn lựa của mỗi người, vấn đề giác ngộ
và giải thoát thuộc về tự giác của mỗi cá nhân.
Phật giáo coi trọng việc chuyển “mê” thành “ngộ”. Để tự mình đoạn trừ
những phiền não trong tâm của mình, không phải ngồi chờ đợi, hoặc cầu xin

19
để được giảm tội lỗi cho mình, hay được ban cho phước lành, hạnh phúc.
Nguồn cội của nỗi khổ là từ vô minh mà sinh ra. Vô minh ở ngay trong mỗi
chúng ta, không phải là một vật có thể xin và cho, vậy mỗi người phải tự tu
tập, khai mở trí tuệ, tự đoạn trừ vô minh và đau khổ. Muốn “chuyển mê khai

Thể nhập vào bất tử,
Ta gọi Bà La Môn”.
“Như nước trên lá sen,
Như hột cải đầu kim,
Người không nhiễm ái dục,
Ta gọi Bà La Môn”.
“Thân thiện giữa thù địch,
Ôn hoà giữa hung hăng,
Không nhiễm, giữa nhiễm trước,
Ta gọi Bà la Môn”.
“Ai quá, hiện, vị lai,
Không một sở hữu gì,
Không sở hữu, không nắm,
Ta gọi Bà La Môn”.
“Bỏ trói buộc loài người,
Vượt trói buộc cõi trời,
Giải thoát mọi buộc ràng,
Ta gọi Bà La Môn” [9, tr. 282-283]

21
Khái niệm Bà La Môn trong giáo lý Phật giáo đã mang nội dung mới.
Địa vị cao quý của Bà La Môn không còn do xuất thân, dòng tộc quy định,
mà do những phẩm hạnh cao quý đạt được nhờ tu dưỡng và thực hành. Sự
mở rộng nội hàm khái niệm Bà La Môn này thực sự là một cuộc cách mạng
tư tưởng, mở rộng con đường tôn giáo cho cả những tầng lớp trước đó không
được quyền hưởng dịch vụ tôn giáo, như đẳng cấp Sudra và phụ nữ, đều có
thể có niềm tin tôn giáo và hy vọng tu dưỡng để vươn tới giải thoát. Đức
Phật phản đối sự độc quyền tôn giáo của đẳng cấp Bà La Môn, nhất là sự
truyền thừa đẳng cấp tôn giáo theo dòng tộc. Nội hàm mới của khái niệm
Bà La Môn đã đáp ứng kịp thời nhu cầu tâm linh, văn hoá của xã hội Ấn

là chân lý đúng đắn để tất cả mọi người có thể tinh tấn trên con đường giải thoát. Đế
thứ 1: Khẳng định cuộc đời là bể khổ. Đế thứ 2: Có nhiều nguyên nhân của
khổ. Đế thứ 3: Có thể chấm dứt được sự khổ, và Đế thứ 4: Con đường để tự
chấm dứt đau khổ. Toàn bộ Tứ diệu đế là con đường nhận thức và tu dưỡng
để tới Niết bàn, giải thoát. Trên cơ sở thuyết vô thường, vô ngã, Phật giáo
muốn xây dựng một triết lý sống vị tha, nhân bản. Khi đã thấu suốt được triết
lý vô ngã, vô thường con người sẽ vươn lên khỏi cuộc sống vị kỷ, sẽ tự giác
đoạn diệt tham, sân, si, và sống theo tinh thần: “từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị
tha”, yêu thương mọi người, thông cảm sâu sắc với những nỗi đau khổ của
người khác như nỗi đau của chính mình, tìm mọi cách giảm nhẹ nỗi đau khổ
cho họ.
Trên con đường tu tập, Phật giáo yêu cầu có sự kết hợp hài hoà của cả
hai nhân tố trí tuệ và hành động: học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với
thực tiễn. Đó chính là nội dung của con đường Bát Chánh Đạo, là sự kết hợp
Tam học (Giới-Định-Tuệ). Sự hài hoà đó là con đường Trung đạo, không sa
vào hai thái cực: không theo con đường tự hành xác mà cũng không theo con

Trích đoạn Điển hình nhập thế của Phật giáo thời vua Asoka Trần Nhân Tông và một số biểu hiện tinh thần nhập thế của ông Nhập thế của Phật giáo trong chính trị, ngoại giao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status