1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng và nhân dân ta lựa chọn, tiến
hành cùng với nhiệm vụ phát triển toàn diện các lónh vực kinh tế, chính trò – xã
hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và văn hóa, đặc biệt là đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm “xây dựng nước ta thành một nước công
nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản
xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật
chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc”
( )1
, chúng ta còn có một
nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế –
xã hội. Đó cũng chính là triết lý của sự phát triển xã hội hài hòa và bền vững giúp
chúng ta có thể tiếp nối và phát huy sức mạnh truyền thống của dân tộc trong công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phong phú nhưng không
kém phần phức tạp hiện nay.
Trong tiến trình của công cuộc đổi mới, hơn 20 năm qua đất nước ta đã đạt
được những thành tựu thực sự to lớn và toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trò,
văn hóa, xã hội. Đạt được kết quả đó, văn hóa đóng vai trò rất quan trọng bởi văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh, là động lực, mục tiêu
của sự phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu những giá trò
văn hóa tinh thần của dân tộc ta trong tiến trình lòch sử tư tưởng Việt Nam, trên cơ
sở đó phát huy sức mạnh của những giá trò văn hóa truyền thống tốt đẹp và lâu đời
của dân tộc trong cuộc sống hôm nay là việc làm vừa có ý nghóa lý luận lâu dài
vừa có tính thời sự cấp bách.
Trong lòch sử tư tưởng Việt Nam, Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, trong đó
sử. Tiêu biểu cho chủ đề này phải kể đến các tác phẩm lớn như: Đại Việt sử ký toàn
thư, tập 2, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Đại cương lòch sử Việt Nam, do
Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2005, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần của Viện Sử học, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1980; Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
Cách mạng tháng 8 (3 tập) của Trần Văn Giàu, Nxb Chính trò quốc gia, Hà Nội,
1996… Các công trình khoa học này đã trình bày và phân tích khá khái quát và sâu
sắc điều kiện kinh tế, chính trò, xã hội cũng như cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của
Trần Nhân Tông gắn liền với các biến cố lòch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIII –
XIV, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát hơn về Trần Nhân Tông.
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông dưới góc độ tư
tưởng văn hóa tôn giáo. Liên quan đến chủ đề này phải kể tới các công trình như:
Thơ văn Lý – Trần, do Viện Văn học biên soạn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
1989; Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000;
Lòch sử Phật giáo Việt Nam, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1993; Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII của Trần Văn
Giáp, Ban tu thư, Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1968; Lòch sử Phật giáo Việt Nam
của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1993. Trong các công
trình trên đáng chú ý là tác phẩm lớn như Thơ văn Lý – Trần, do Viện Văn học
biên soạn. Đây là công trình khoa học khá công phu, đồ sộ, giới thiệu, đánh giá và
cung cấp cho người đọc một cách khá đầy đủ, sâu sắc và đáng tin cậy nhất các
bản văn về thơ, văn, triết học, tôn giáo của Trần Nhân Tông; hay như các tác phẩm
Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, Tổng tập văn học Phật giáo Việt
Nam của Lê Mạnh Thát, Lòch sử Phật giáo Việt Nam, do Nguyễn Tài Thư chủ biên,
đã trình bày và phân tích khá sâu sắc tư tưởng của Trần Nhân Tông, vai trò, vò trí
của Trần Nhân Tông trong lòch sử tư tưởng Phật giáo Việt Nam nói chung và Thiền
tông Việt Nam nói riêng…
3
Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông dưới góc độ tư
quan và phương pháp luận của chủ nghóa duy vật biện chứng và chủ nghóa duy vật
lòch sử; đồng thời tác giả luận án còn sử dụng tổng hợp các phương pháp sử học,
hệ thống cấu trúc, lôgic và lòch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dòch, so
sánh và đối chiếu… để nghiên cứu và trình bày luận án. Luận án được tiếp cận
dưới góc độ triết học lòch sử và triết học tôn giáo.
5. Cái mới của luận án
Một là, luận án đã trình bày một cách hệ thống tư tưởng triết học của Trần
Nhân Tông qua phân tích những khái niệm, phạm trù triết học, thiền học của ông
ở những vấn đề về bản thể luận, nhân sinh quan và triết lý đạo đức.
4
Hai là, luận án đã trình bày, phân tích, đánh giá rút ra những đặc điểm chủ
yếu của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông, đó là tính chất kế thừa, dung hợp, tinh
thần thiền hành động nhập thế tích cực và tinh thần nhân văn sâu sắc; đồng thời
luận án cũng nêu lên những giá trò lòch sử của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông;
đó là triết học Trần Nhân Tông góp phần tạo nên hệ thống triết lý thiền đặc sắc
Việt Nam, là nền tảng tinh thần để xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập, thống
nhất, một nền chính trò thân dân.
6. Ý nghóa khoa học và ý nghóa thực tiễn của luận án
Về ý nghóa khoa học, luận án góp phần làm rõ nội dung và những đặc điểm
cơ bản trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông qua các vấn đề bản thể luận,
nhận thức luận, đạo đức nhân sinh, từ đó giúp người đọc tìm hiểu một cách sâu sắc
và hệ thống tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông.
Về ý nghóa thực tiễn, thông qua những đặc điểm của tư tưởng triết học Trần
Nhân Tông được trình bày trong luận án, có thể rút ra những bài học lòch sử bổ ích
góp phần vào việc gìn giữ và phát huy bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc
Việt Nam, trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay. Kết quả nghiên
cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và
giảng dạy về lòch sử tư tưởng Việt Nam cho sinh viên và học viên cao học các
ngành Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Sử học trong các trường Cao đẳng và
lên ngôi hoàng đế. Nhà Trần qua các triều đại đã tiến hành nhiều biện pháp thúc
đẩy xã hội tiến lên một bước đáng kể. Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại,
năm 1240 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ. Dưới lộ, phủ có châu, huyện, xã.
Đặt chức an phủ, trấn phủ. Các xã, sách
thì đặt các chức đại, tiểu xã. Chế độ
quan lại nhà Trần nói chung cũng giống như nhà Lý nhưng quy củ hơn. Các chức
quan trọng yếu trong triều đều giao cho vương hầu quý tộc nắm giữ, nhằm tập
trung mọi quyền lực về dòng họ mình. Để tạo điều kiện cho vương hầu, tôn thất
làm việc, nhà nước cấp cho mỗi người một vùng đất lớn nhỏ tùy theo thứ bậc gọi
là thái ấp. Năm 1226 do yêu cầu mới về kinh tế và chính trò, vua Trần lại ra lệnh
cho các vương hầu, công chúa, phò mã chiêu mộ dân hữu lưu vong đi khai hoang
lập trang trại riêng, tạo thành một mạng lưới tôn thất nhà Trần trấn trò khắp nơi
trong nước.
Về pháp luật, năm 1230 Trần Thái Tông ban hành Quốc triều thông chế (20
quyển), quy đònh về tổ chức chính quyền, sau đó qua vài lần sửa chữa bổ sung nhà
Trần lại ban hành bộ Quốc triều hình luật, nhằm khẳng đònh và củng cố sự phân
chia chế độ đẳng cấp, đồng thời xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản, đặc biệt
là tư hữu ruộng đất của vua chúa và giai cấp quý tộc. Trong quá trình trò vì đất
nước, nhà Trần cũng ra sức củng cố và tăng cường sức mạnh quân sự với chủ
trương “ngụ binh ư nơng”, xây dựng quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ
để đủ sức bảo vệ nền độc lập dân tộc, đặc biệt là ba lần chống quân Nguyên –
Mông xâm lược.
Cũng như thời Lý, các vua Trần chú ý thúc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế,
đặc biệt là chế độ sở hữu ruộng đất. Các hình thức sở hữu ruộng đất cơ bản thời kỳ
nhà Trần là ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước và sở hữu ruộng đất tư nhân. Có hai
bộ phận cấu thành ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước: Một là, ruộng đất do nhà
nước trực tiếp quản lý: nó tồn tại như tài sản của bản thân nhà vua và hoàng cung,
một loại “tư hữu” đặc biệt mà những hoa lợi bóc lột là của riêng chính hoàng đế.
Bộ phận ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý có sơn lăng, tòch điền và quốc
khố. Hai là, ruộng đất công của thôn làng: ruộng công các làng xã thời bấy giờ
ba đẳng cấp chính: Đẳng cấp quý tộc, tôn thất – quan lại trong chính quyền quân
chủ, đẳng cấp những người bình dân, chủ yếu là nông dân các làng xã, thợ thủ
công và thương nhân, đòa chủ và đẳng cấp nô tỳ.
1.1.2. Sự phát triển văn hóa, giáo dục thời kỳ nhà Trần
Trên cơ sở phát triển của kinh tế – xã hội, nền văn hóa giáo dục thời Trần
đã có bước phát triển khá rực rỡ. Dưới sự ảnh hưởng của truyền thống văn hóa dân
tộc cũng như ảnh hưởng của tư tưởng văn hóa Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo,
nền giáo dục, sử học, văn học, kiến trúc và các thành tựu khoa học tự nhiên như
thiên văn, y học… dưới triều đại nhà Trần đã có sự phát triển vượt bậc. Có thể
thấy các thành tựu văn hóa thời Trần qua các tác phẩm nổi tiếng như: Hòch tướng
só, Binh thư yếu lược, Bạch Đằng giang phú; và đặc biệt là các bài thơ Quốc âm
Cư trần lạc đạo ca, Đắc Thú Lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông; các
tác phẩm sử học như Việt sử lược, An Nam chí lược, Việt Điện u linh, Lónh Nam
chích quái và các công trình kiến trúc như tháp Bình Sơn, chùa Phổ Minh… Đặc
biệt trong lónh vực giáo dục, nhà Trần đã xây dựng một chế độ giáo dục khoa cử
khá hệ thống với nội dung giáo dục là tư tưởng chính trò đạo đức của Nho giáo
7
nhưng cũng ảnh hưởng khá sâu sắc triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo do
Phật giáo thời Trần được coi là quốc giáo, để đào tạo và tuyển chọn nhân tài, góp
phần hoàn thiện bộ máy chính quyền từ đòa phương đến trung ương, phát triển nền
văn hóa, tư tưởng Đại Việt, như các kỳ thi Thái học sinh, các khoa thi Tam giáo…
Trong thời gian tồn tại, nhà Trần đã tổ chức được 14 khoa thi để tuyển lựa nhân tài,
bổ vào làm trong các quán, các, sảnh, viện với 273 người đỗ Thái học sinh.
Tóm lại, toàn bộ điều kiện lòch sử, kinh tế, chính trò – xã hội Việt Nam thế
kỷ XIII – XIV đã đặt ra cho vua tôi nhà Trần nói chung và Trần Nhân Tông nói
riêng nhiệm vụ lớn lao; đó là phải xây dựng một thiết chế chính trò và nhà nước
phong kiến trung ương tập quyền vững mạnh, một nước Đại Việt quy mô, bề thế,
có nền văn hóa độc lập nhằm trò nước, an dân và chống lại các cuộc xâm lăng tàn
tảng đạo đức cho toàn xã hội; thiết lập nên một hệ tư tưởng độc lập, thoát khỏi sự lệ
thuộc chặt chẽ vào ý thức hệ bên ngoài.
Cùng với việc kế thừa và phát triển các giá trò của tư tưởng và văn hóa
truyền thống Việt Nam, tư tưởng triết học của ông còn tiếp thu chắt lọc các quan
điểm khác nhau của Nho, Lão, Phật.
Nho giáo truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên vừa bằng
con đường giao lưu văn hóa, vừa bằng con đường xâm lược của các triều đại
phong kiến Trung Quốc. Cho nên ngay từ buổi đầu nó đã gặp sự phản ứng và sự
đón nhận dè chừng của đông đảo nhân dân. Nhưng đến thời Trần nó đã chiếm ưu
thế và trở thành một nhu cầu tư tưởng thiết yếu để xây dựng một chế độ quân chủ
tập quyền. Tư tưởng của Nho giáo, đặc biệt là tư tưởng chính trò đạo đức không chỉ
ảnh hưởng đến Trần Nhân Tông trong việc trò nước an dân mà còn ảnh hưởng đến
nội dung tư tưởng triết học của ông. Điều này được phản ánh rõ nét qua các bài
thơ của Trần Nhân Tông. Ông từng nhiều lần đề cập đến các điển tích Nho giáo,
nhắc đến Nghiêu, Thuấn và sử dụng nhiều quan điểm, khái niệm quan trọng của
Nho giáo khi bàn về vấn đề đạo đức nhân sinh như: “Sống mà không giúp ích gì
cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu”, hay quan điểm “thờ chúa, thờ
cha”, cùng với các trạm phù đạo đức khác của Nho giáo như “đạo nghóa”, “nhân
nghóa”, “trung hiếu”…
Cùng với Nho giáo, Đạo giáo truyền vào nước ta từ những năm đầu Công
nguyên. Không đặc sắc và không ảnh hưởng lớn như Nho giáo nhưng Đạo giáo
cũng giữ vai trò nhất đònh trong nhân dân và là một trong những tiền đề lý luận
của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông. Các đạo só Đạo giáo đã giữ một vai trò
quan trọng cho đời sống tâm linh đời Trần. Những bùa phép, tín ngưỡng ma thuật
của Đạo giáo khá phù hợp với những tín ngưỡng cổ xưa của người Việt. Chính vì
thế, Đạo giáo đã hòa mình vào tín ngưỡng dân gian của nhân dân Việt Nam, tạo
nên sự dung hợp trong tinh thần “Tam giáo đồng nguyên”. Trong tư tưởng triết học
của mình, Trần Nhân Tông cũng ảnh hưởng quan điểm của Đạo giáo, nhưng sự
ảnh hưởng đó trên cơ sở triết lý của Đạo gia chứ không phải là sự ảnh hưởng trên
thiền phái duy nhất đời Trần sau này nói chung và là tiền đề lý luận cho tư tưởng
triết học của Trần Nhân Tông nói riêng, đặc biệt trong quan niệm về cái “tâm”.
1.2.2. Tư tưởng triết học Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng só – tiền
đề lý luận trực tiếp của tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Trần Thái Tông (năm sinh 1218, mất năm 1277) là người đã kết hợp các luồng
tư tưởng trước đó trên tinh thần kế thừa có lựa chọn, nhào nặn chúng thành một hệ
thống triết lý hoàn chỉnh, làm nền tảng cho thiền học Trúc Lâm sau này. Triết học
Trần Thái Tông là tập đại thành đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.
Về bản thể luận, Trần Thái Tông lấy cái tâm làm điểm xuất phát cho tư
tưởng của mình và trên cơ sở luận giải về cái tâm ấy để đào sâu, tìm kiếm lời giải
đáp cho những vấn đề triết học khác như: “ngộ”, “kiến tính”, “sinh tử”, “giải
thoát”, “Niết bàn”… Tâm này là cái tâm ban đầu, Trần Thái Tông gọi là tâm
không, hư. Theo ông bản thể, khởi nguyên cội nguồn của vũ trụ là không (sunya),
hư. Không chính là hư, hư cũng là không. Trong đó, không bao trùm tất cả hướng
đến cái khách quan bên ngoài, tức vũ trụ chưa từng sinh diệt; còn hư là sự thể hiện
của không trong tâm mỗi người tức là hướng đến mặt chủ quan bên trong. Theo
Trần Thái Tông từ không xuất hiện vọng (không khởi vọng), và từ vọng
sinh ra
chúng sắc, tức từ vọng hay vô minh sinh ra thế giới hiện tượng có hình danh, sắc
tướng. Nhưng ở con người vọng còn là niệm. Nếu như ở trên, vọng là nguyên nhân
xuất hiện của thế giới hiện tượng, thì niệm là nguyên nhân xuất hiện cái ngã, tức
con người cá nhân. Theo Trần Thái Tông, phải thủ tiêu vọng niệm để đạt tới cái tâm
10
vô niệm. Bản thể ở Trần Thái Tông còn là Phật tính, cũng được gọi là chân như, tức
là cái tính chân thực, chưa hề biến cải, chẳng sinh chẳng diệt, là mầm thiện, mầm
giác ngộ sẵn có ở mỗi người.
Về nhận thức luận, đối tượng nhận thức trong triết học Trần Thái Tông là
hướng vào tâm, nhận thức cái tâm trong con người chứ không phải nhận thức sự
vật, hiện tượng của thế giới khách quan bên ngoài. Mục đích của nhận thức theo
đã trở thành “ngọn đuốc sáng nhất của Thiền học đời Trần”, là “ngọn đèn tổ của
Phật Hoàng”.
11
Về bản thể luận, Tuệ Trung Thượng só là người đầu tiên trong lòch sử tư
tưởng Việt Nam đưa ra khái niệm bản thể để giải thích nguồn gốc của vũ trụ vạn
vật, với nội dung hết sức phong phú và sâu sắc. Bản thể ở Tuệ Trung Thượng só
được hiểu là cái ban đầu, gốc rễ, cội nguồn của vạn vật, là cái hàm chứa, tiềm ẩn
sâu khín trong bản thân sự vật, không thể dùng mắt thường mà thấy được, chỉ
những ai đạt đến giác ngộ mới thấu suốt được chân tính của bản thể này. Nó là cái
bản nhiên, trong sáng, không tòch, không được không mất, chưa từng có mê lầm,
vốn có ở trong tâm mỗi người. Bản thể này vượt lên mọi sự phân biệt phải trái, tốt
xấu, còn mất. Nó vô thò vô phi, phi hư phi thực, vô khứ vô lai, vô hậu vô tiền, phi trần
phi cấu
( )4
. Bản thể này không thể dùng “trí” mà biết được, không thể dùng “thức” mà
hiểu được mà phải dùng trực giác, vượt lên trên mọi quan niệm đối đãi, “nhò kiến”.
Về nhận thức luận, ở Tuệ Trung Thượng só từ không hay vô xuất hiện huyễn
hóa (ảo hóa hay vô minh) phân thành nhò kiến. Do vậy, để đạt đến giác ngộ và
giải thoát, Tuệ Trung hướng nhiệm vụ thiền học của mình là làm sao để giúp
chúng sinh phá bỏ mê lầm, thủ tiêu nhò kiến, vượt lên mọi đối đãi thò phi, phàm
thánh để trở về với tâm thể trong sáng, bản nhiên của mình.
Trong quan niệm nhân sinh, Tuệ Trung Thượng só rất quan tâm đến việc lý
giải tận gốc vấn đề sinh tử. Cũng chính vì quan niệm xem sinh tử là thông nhàn,
thảnh thơi mà Thượng só đã có cái nhìn tích cực với cuộc đời. Cuộc đời đối với ông
không chỉ là bể khổ trầm luân mà còn là nơi tốt nhất để hành thiền. Tôn chỉ thiền
của Tuệ Trung không chỉ gói gọn trong tu thiền, tham vấn Phật học, mà quan trọng
hơn đó là sống thiền. Đưa thiền vào gần gũi đời sống hàng ngày để đón nhận cái
hạnh phúc thoải mái, bình dò của chính cuộc sống thường nhật. Đó cũng chính là
quan điểm về thế giới và nhân sinh của ông.
2.1.1. Quan niệm về bản thể trong tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Trong quan điểm về thế giới, Trần Nhân Tông dùng hệ thống những khái
niệm như “bản”, “tâm”, “Bồ đề”, “tính sáng”, “tính gương”, “báu vật”, “Chân
như”, “lòng trong sạch”, “gia hương”… để chỉ bản thể của vạn pháp. Trước hết là
quan điểm về chữ “bản”, Trần Nhân Tông muốn dùng để chỉ cái gốc, cái bản thể
của vũ trụ. “Vậy mới hay! Bụt ở trong nhà; Chẳng phải tìm xa. Nhân khuây bản
nên ta tìm bụt; Đến cốc hay chỉn bụt là ta”
( )5
. Nhưng trong triết học Trần Nhân
Tông, “tâm” cái được coi là nguồn gốc, chân thể của vạn vật và chúng sinh vẫn
là
khái niệm trung tâm, quan trọng nhất, nó chi phối và xuyên suốt mọi vấn đề khác.
Trần Nhân Tông coi “tâm” là thể tính hoàn toàn tónh lặng, vừa bao la vô tận,
không thể ràng buộc và khuôn dấu bằng ngôn ngữ và tư tưởng được, vừa vốn có
sẵn trong mỗi con người, gọi là “Tâm tónh lặng”. Cái “Tâm tónh lặng” ở Trần Nhân
Tơng là sự dứt bỏ, buông xả mọi quan niệm, ý tưởng. Nếu chỉ khuấy lên mảy may
ý niệm thôi thì thể tónh lặng đó bò phá vỡ, bò che lấp bởi thế giới hình tướng. Thể
tính đó giống như trăng đáy nước, khi mặt nước tónh lặng thì trăng trong sáng, tràn
đầy, còn nếu xao động, gợn sóng thì bò phá vỡ tan biến thành từng mảnh. Có thể
thấy cái “Tâm tónh lặng” của Trần Nhân Tông và cái “Tâm không hư” của Trần
Thái Tông là một. Vì cái “vô tâm”, “vô niệm” của tâm “không hư” chính là đạt đến
cái tâm ở trạng thái tónh lặng. Nhưng Trần Nhân Tông chú trọng đến khía cạnh
trạng thái và hình tướng của tâm nhiều hơn. Qua đó ta có thể thấy quan điểm về
“bản” hay “gốc” của Trần Nhân Tơng ở đây chính là lòng trong sạch, là tính sáng
(giác tính), tính gương là bản tính, thể tính. Đó là cái ban đầu vốn có ở mỗi con
người, luôn luôn thanh tònh, không thiện không ác, không sinh không diệt, chẳng đi
( )5
thể dùng màu sắc, âm thanh diễn đạt được, vừa động niệm suy nghó là sai, vừa mở
miệng nói ra là đã lầm, có ý truy tầm lại càng không thấy.
Như vậy, để chỉ bản thể hay “Tâm tónh lặng” Trần Nhân Tơng đã diễn đạt
bằng nhiều tên gọi khác nhau như Bồ đề, giác tính, tính sáng, thể tính, lòng trong
sạch yên tónh, Bụt, Chân như, Thực tướng, Chân không, Pháp thân,… Nó chính là
vật báu trong mỗi con người. Nó cũng là khởi nguyên, cội nguồn, là gốc, bản thể
của toàn vũ trụ. Nó thường trụ, bất sinh, bất diệt (phi thiện, phi ác) vượt lên trên
mọi sự đối đãi, mâu thuẫn nhò nguyên. Nhưng do quá trình sống, con người bò
tham, sân, si chi phối nên đã quên đi và xa rời cái gốc, Phật tính vốn có trong tâm
của mình. Cho nên vấn đề là phải trở về gốc, trở về cái mà Trần Nhân Tông gọi là
gia hương (quê hương xứ sở).
14
Về quan niệm giữa “tâm”,”tính”, “Pháp”, “Phật”, Trần Nhân Tông cho rằng
chúng hầu như là như nhau và quan hệ với nhau “như bóng và hình”. Ông viết:
“Những tiếng nói cười, giương mày, nhíu mắt, tay cầm chân đi ấy là tính gì ? Tính
ấy thuộc tâm nào ? Tâm và tính cũng rõ thì cái gì là phải, cái gì là không phải ?
Pháp tức là tính, Phật tức là tâm, vậy tính nào không phải pháp, tâm nào không
phải Phật ? Tâm là Phật mà tâm cũng là pháp. Nhưng vì pháp vốn không pháp nên
nói pháp là tâm, cũng như nói tâm là không tâm, mà tâm là Phật, cũng có nghóa
Phật là không Phật!
( )6
.
2.1.2. Mối quan hệ giữa bản thể và thế giới hiện tượng trong tư tưởng
triết học Trần Nhân Tông
Mối quan hệ giữa bản thể và thế giới hiện tượng trong tư tưởng triết học
Trần Nhân Tông chính là mối quan hệ giữa “hữu” và “vô”ø. Cũng như quan điểm
của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng só, thế giới hiện tượng ở Trần Nhân
Tông là kết quả tạo tác của dòng nhận thức nên vạn pháp đan bện vào nhau, rắc
15
ngói, dúi rùa, trèo non lội nước” thì cũng chẳng ích gì. Như vậy, quan niệm của Trần
Nhân Tông về thế giới hiện tượng chính là quan điểm “vô thường” của triết lý Phật
giáo, bởi lẽ ông cho rằng thế giới này tồn tại đấy, nhưng không thực, chỉ là giả
tướng, như mộng ảo huyễn. Sự xuất hiện nó là do phân biệt kén chọn và suy cho
cùng là do vô minh. Diệt được vô minh thì những thiên sai vạn biệt, những dường
mối cũng biến mất.
2.2. NHÂN SINH QUAN VÀ TRIẾT LÝ ĐẠO ĐỨC TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT
HỌC TRẦN NHÂN TÔNG
Nếu thế giới quan của Trần Nhân Tông chủ yếu là thế giới quan của Phật
giáo thì nhân sinh quan của ông, ngoài Phật giáo còn có yếu tố của Nho giáo, hòa
quyện quan điểm của Đạo giáo và là sự tổng hợp quan điểm của Thiền và Tònh
độ. Có thể nói toàn bộ tư tưởng triết học của Nhân Tông được bắt đầu từ “tâm” và
kết thúc cũng ở “tâm”. Đối tượng là “cái tâm” và mục đích của triết học Nhân
Tông cũng để đạt tới “cái tâm tónh lặng, hư không”. Vì thế, có thể nói trong tư
tưởng triết học thiền của Trần Nhân Tông thì vấn đề nhân sinh quan đã được ông
quan tâm và bàn luận đến một cách đầy đủ và nhất quán hơn cả. Trần Nhân Tông
cho rằng, đây mới là những vấn đề quan yếu cuối cùng của đời sống thiền, bởi
ông hiểu rõ cuộc đời rất ngắn ngủi, vô thường nên ông tích cực “nhập thế” và
mong muốn cống hiến toàn bộ sức lực cho sự nghiệp đời và đạo. Chính tinh thần
nhập thế tích cực này đã đưa thiền phái Trúc Lâm mà người sáng lập là Trần
Nhân Tông đến đỉnh cao của sự phát triển Phật giáo đời Trần và là đại biểu cho
Phật giáo Việt Nam với diện mạo, sắc thái riêng.
2.2.1. Quan niệm của Trần Nhân Tông về cuộc đời con người và vai trò
của con người trong cuộc sống
Trần Nhân Tông cho rằng sống mà không giúp ích gì cho đời là điều đáng
hổ thẹn của kẻ trượng phu (sinh vô bổ thế trượng phu tàm). Chính vì thế, trong
triết lý nhân sinh của mình, Trần Nhân Tông luôn đề cao vai trò, trách nhiệm của
sạch giới lòng, chùi giới tướng, cho vằng vặc tính gương”
( )9
, “ăn rau trái, vận giấy,
vận sồi”. Trần Nhân Tông đã làm nổi bật lên cuộc sống Thiền bằng chính nếp
sống giản dò, trong sáng, đạo hạnh. Với tấm lòng yêu thương chúng sinh vô hạn,
ông đã chỉ ra cái gốc trong mỗi con người, chỉ ra cho họ tại sao bò lạc đường, để
cho họ trở về gốc, trở về với chính bản thân mình. Không chỉ tự mình sống đạo
đức, mà ông còn kêu gọi và chỉ dạy cho dân chúng khắp nơi sống theo nếp sống
"Thập thiện" của Phật giáo.
Trần Nhân Tông thực sự muốn xây dựng xã hội Việt Nam lấy đạo đức Phật
giáo làm nền tảng, chỉ dẫn cho mọi người làm điều thiện, tránh điều ác và thoát
khỏi cảnh sống chết luân hồi. Trần Nhân Tông đã tìm thấy trong đạo Phật nhiều
yếu tố tích cực có thể tăng cường sự đoàn kết toàn dân và đặc biệt là củng cố nền
"đạo đức xã hội". Sáng lập nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông có
ý nguyện phục hồi và phát huy vai trò chủ đạo tư tưởng Phật giáo trong đời sống
tinh thần và xã hội Đại Việt, đồng thời xây dựng một tổ chức giáo hội chặt chẽ
thống nhất, để trở thành trung tâm liên kết toàn xã hội trên lónh vực tư tưởng.
Mong muốn này của ông không chỉ có ý nghóa tôn giáo, mà còn mang ý nghóa
chính trò sâu xa, nhằm khắc phục những hạn chế của Phật giáo thời Lý và đầu thời
Trần, đồng thời nhằm thiết lập hệ tư tưởng độc lập, thống nhất cho xã hội Đại
Việt.
Về vấn đề sống chết và cuộc đời con người, Trần Nhân Tông đã nhìn ra
điều mà Lão Tử cũng đã nhìn thấy là: "làm người ắt phải có thân, có thân tức là
có họa". Ông nói: “Sinh có nhân thân, ấy là họa cả”
( )10
Như thế, Trần Nhân Tông
hiểu một cách sâu sắc tính cách vô thường, ngắn ngủi của cuộc sống con người.
Nó như là “hơi thở qua buồng phổi” mà thôi. Vậy con người có thể thoát ra khỏi
( )9
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ
CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG
3.1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN
NHÂN TÔNG
3.1.1. Tính kế thừa và dung hợp trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông
Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông ra đời, trong quá trình tiến triển nội
tại của Thiền tông Việt Nam, không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà nó có
cội nguồn từ đặc điểm lòch sử xã hội Việt Nam thời kỳ Lý – Trần và là sự kế thừa,
dung hợp, phát triển những yếu tố của các dòng thiền trước đó như thiền phái Tỳ
Ni Đa Lưu Chi, thiền phái Vô Ngôn Thông, thiền phái Thảo Đường thời nhà Lý;
nhưng đặc biệt và trực tiếp nhất là triết lý thiền của Trần Thái Tông và Tuệ Trung
18
Thượng só; là sự dung hợp của Thiền, Tònh, Nho, Lão trên tinh thần truyền thống
Việt Nam, tạo nên bước phát triển mới cho thiền học Việt Nam. Sự dung hợp
sáng tạo ấy trong tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông được thể hiện sâu sắc
nhất trong vấn đề thế giới quan và vấn đề triết lý đạo đức nhân sinh của ông. Vấn
đề quan trọng và cốt yếu nhất trong triết lý của thiền là cái tâm. Do đó, trong vấn
đề bản thể luận, tiếp tục tư tưởng của các dòng thiền trước đây, Trần Nhân Tông
cũng tập trung vào lý giải phạm trù “tâm”. Tư tưởng triết học của ông bắt đầu từ
cái tâm và cũng kết thúc ở cái tâm. Ông coi tâm là thể hoàn toàn tónh lặng, bản
nhiên, vừa bao la vô tận, không thể mô tả bởi ngôn từ, màu sắc, âm thanh… cũng
như không bò ràng buộc bởi tư tưởng, là bản thể của tất cả; vừa có sẵn trong mỗi
con người, gọi là “Tâm tónh lặng”. Về thực chất “Tâm tónh lặng” của Trần Nhân
Tông cũng là “Tâm ấn” của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, “Tâm đòa” của Vô Ngôn Thông,
“Tâm hư không” của Trần Thái Tông và “Tâm thể” của Tuệ Trung Thượng só đã
được Trần Nhân Tông kế thừa, dung hợp, bổ sung, với nội dung và hình thức mới.
( )12
Sđd, tr. 533.
19
thiền nhập thế tích cực như một đặc trưng riêng có của thiền Việt Nam. Điều đó
được biểu hiện ở chỗ thiền không dừng lại ở những hoạt động giới hạn trong việc
tu hành như ăn chay, niệm Phật, tọa thiền, tu thiền… mà nó còn biểu hiện bởi
những hành động thiết thực, thường nhật trong cuộc sống vì chúng sinh, có ý nghóa
và nội dung sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều, đó là “hoạt Phật”, sống thiền. Đây
chính là điểm đặc sắc của thiền Việt Nam. Tinh thần nhập thế tích cực của thiền
Trần Nhân Tông được biểu hiện qua hai nội dung. Thứ nhất, đó việc Trần Nhân
Tông quyết tâm phục hồi và phát huy vai trò chủ đạo của tư tưởng Phật giáo trong
đời sống tinh thần xã hội Đại Việt, đưa triết lý đạo đức Phật giáo thâm nhập sâu
rộng và trở thành nền tảng đạo đức của nhân dân Đại Việt. Thứ hai, đó là đem
triết lý Phật giáo gắn với đời sống xã hội, thể hiện bằng hoạt động, sống tích cực,
không chỉ dừng lại ở những sinh hoạt tôn giáo và việc thực hành các giới luật, lễ
nghi tôn giáo hàng ngày như tụng kinh, niệm Phật cũng không phải chỉ là những
hành động thường nhật mà là những hành động có ý nghóa và mục đích cao cả, lớn
lao hơn nhiều, như lo cho dân cho nước, như đánh giặc cứu dân, cứu nước, lấy triết
lý đạo đức nhân sinh nhân bản Phật giáo, lấy thiền phục vụ cho đời, gắn đạo với
đời, trên tinh thần dung hợp Phật, Nho, Lão và nền tảng tinh thần văn hóa dân tộc,
coi nó là tính chất chỉ đường cho thiền Việt Nam.
Trong suốt cuộc đời mình, dù làm vua hay làm giáo chủ, Trần Nhân Tông lúc
nào cũng hết lòng lo cho dân cho nước, cũng như lúc nào cũng lo học hỏi tham
thiền, nhằm xây dựng một hệ tư tưởng, một tổ chức Phật giáo thống nhất góp phần
làm chỗ dựa tinh thần cho một quốc gia thống nhất, có nền văn hóa văn minh độc
lập, chống lại ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, chống lại hai lần xâm lược của quân
Nguyên – Mông tàn bạo. Bản thân Trần Nhân Tông khi xuất gia đã sống một nếp
sống vô cùng giản dò, trong sáng, thanh bạch, dốc lòng tu thiền để đạt tới giác ngộ.
Ông đã chỉ cho mọi người biết rằng Phật tính nằm ở ngay trong lòng mỗi người,
3.2.1. Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông đã góp phần tạo nên hệ
thống triết lý thiền đặc sắc của Phật giáo Việt Nam
Trên cơ sở nội dung tư tưởng triết học của mình, Trần Nhân Tông đã xây
dựng lên một trường phái thiền mang dấu ấn và bản sắc Việt Nam, đưa văn hóa
Việt Nam thời kỳ Lý – Trần phát triển rực rỡ. Đó là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Chính vì thế tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vừa mang tính chất chung
vừa thể hiện tính chất và sắc thái riêng của thiền. Tính chất, sắc thái riêng của
triết lý thiền Việt Nam do Trần Nhân Tông sáng tạo nên đó là tính chất thiền hành
động, nhập thế tích cực.
Sở dó Trần Nhân Tông sáng tạo nên được một tư tưởng triết học góp phần
tạo nên một dòng thiền độc đáo, đặc sắc Việt Nam ấy là do: Một là, Trần Nhân
Tông đã nắm được cái căn bản và tinh yếu nhất của thiền, đó là đề cao cái tâm
trong sạch, thanh khiết. Hai là, Trần Nhân Tông đã biết kế thừa cái tinh túy của
dòng thiền trước đó cũng như kế thừa các yếu tố đặc sắc của Nho, Lão đem kết
hợp hòa quyện chúng thành một thể thống nhất, tạo nên sắc thái riêng của thiền
Việt; Ba là, đặc biệt Trần Nhân Tông đã biết kết hợp lý luận về thiền với cuộc
sống sinh động, với thực tiễn và sứ mệnh lòch sử Việt Nam thế kỷ XIII – XIV, đem
đạo gắn với đời, gắn với nhiệm vụ xây dựng một nước Đại Việt.
Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông ra đời đã đáp ứng nhu cầu phục hồi và
phát huy vai trò chủ đạo của tư tưởng Phật giáo trong đời sống tinh thần xã hội
Đại Việt, đưa triết lý đạo đức Phật giáo trở thành một trong những nền tảng đạo
đức cho toàn xã hội, xây dựng một tổ chức giáo hội thống nhất để trở thành trung
tâm liên kết thống nhất toàn xã hội.
Không những thế tư tưởng triết học Trần Nhân Tông còn mang một giá trò và
ý nghóa chính trò, xã hội sâu xa, bởi nó đã khắc phục những hạn chế của Phật giáo
thời kỳ nhà Lý đầu nhà Trần ở tính chất tản mạn và còn phụ thuộc vào những yếu
21
tố tư tưởng ngoại lai, chưa hoàn toàn khẳng đònh tính độc lập về nội dung triết lý
và tính chất tôn giáo cũng như ý thức hệ. Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông ra
giặc ngoại xâm thì "cử quốc nghênh đòch"
Về giáo dục, chế độ học tập và thi cử thời ông có tác dụng kích thích độc lập
suy nghó cùng tính năng động sáng tạo của con người. Giáo dục và khoa cử thời
này đã đào tạo một đội ngũ quan lại, trí thức Nho học đông đảo, đáp ứng yêu cầu
kiện toàn nhà nước quân chủ tập quyền từ trung ương tới đòa phương và đóng góp
quan trọng cho sự phát triển nền văn hóa Đại Việt.
22
Tiếp thu truyền thống thân dân, khoan thư sức dân trong lòch sử dân tộc nói
chung và của Trần Nhân Tông nói riêng, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn quan tâm đến nhân dân cũng như lợi ích của toàn dân tộc, trong tư tưởng
của Người về xây dựng nhà nước kiểu mới – nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Nhà nước của dân là nhà nước do dân là chủ, người dân được hưởng mọi quyền
dân chủ, nghóa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có
nghóa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước do dân là nhà nước do dân lựa chọn, do
dân ủng hộ, giúp đỡ, nhà nước đó lại do dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ. Về
nhà
nước vì dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ có một nhà nước thực sự của
dân, do dân
tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới có thể là nhà nước vì dân.Kết luận chương 3
Trong lòch sử tư tưởng Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những nhà tư
tưởng lớn và có vò trí đặc biệt. Tính chất vó đại và đặc biệt của Trần Nhân Tông
không chỉ ở chỗ ông được mệnh danh là Phật hoàng hay là người sáng lập ra thiền
phái lớn nhất Việt Nam – Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, mà còn là trong chính nội
dung tư tưởng triết học của ông. Tư tưởng triết học của ông thể hiện những đặc
điểm riêng biệt của thiền Việt Nam và mang những giá trò lòch sử sâu sắc, đó là
tính kế thừa, dung hợp sáng tạo và tinh thần thiền hành động, nhập thế tích cực với
“tâm” được hình thành từ các thế hệ trước như thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô
Ngôn Thông, Thảo Đường cũng như quan điểm về “tâm hư không” của Trần Thái
Tông và “tâm thể” của Tuệ Trung Thượng só, Trần Nhân Tông đã coi “tâm vô
niệm” hay “Tâm tónh lặng” là bản thể của thế giới. Chữ “bản”, theo Trần Nhân
Tông nghóa là cái gốc, là bản nguyên của vũ trụ, vạn vật. Cái “Tâm tónh lặng”,
“vô niệm” là gốc của thế giới, theo Trần Nhân Tông là cái ban đầu, vốn có trong
con người. Nó là cái bản thiên, thanh tònh, trong sáng, viên đồng tất cả, không
hình, không tướng, thường trụ bất biến, vượt lên mọi đối đãi, nhò nguyên, không
sinh không diệt, không thiện không ác, không thò không phi… Nhưng trong cuộc
sống do vọng niệm, tham dục chi phối, nên con người đã làm nó lu mờ đi, quên
mất cái gốc là của báu trong mỗi con người ấy (khuây bản). Vì thế mới chạy
Đông, chạy Tây tìm bụt, chứ thực ra bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm đâu xa cả.
Bởi vậy, theo ông để trở về với cái gốc như trở về quê hương xứ sở (gia hương),
người ta phải tu tập, thiền đònh.
Trong tư tưởng triết học của mình, Trần Nhân Tông cũng đã đưa ra nhiều cái
tên khác nhau, để chỉ bản thể, chỉ cái “Tâm tónh lặng” như tính sáng, tính gương,
giác tính, thể tính, lòng trong sạch, Bụt, thực tướng, Pháp thân, chân như… Tuy
nhiên, trong quan điểm về “tâm”, Trần Nhân Tông đã chú trọng đến khía cạnh
hình tướng, trạng thái của tâm, và nó đã được ông diễn đạt một cách bình dò, gần
gũi hơn với cuộc sống đời thường. Ông cũng cho rằng Phật tính, Pháp thân, tâm,
tính có quan hệ với nhau “như hình với bóng, khi ẩn khi hiện”, “không dính không
rời”
( )13
, “Pháp tức là tính, Phật tức là tâm… Tâm là Phật mà tâm cũng là Pháp”.
Trần Nhân Tông cũng cho rằng, thế giới hiện tượng là biến ảo vô thường. Vạn
pháp là do duyên khởi y tha nên tồn tại đan bện vào nhau, rắc rối như sắn bìm bụi
cỏ, chúng sinh sinh, hóa hóa biến đổi vô thường. Thế giới hiện tượng ấy chỉ là giả
tưởng, nó có đấy nhưng không thật, giống như giấc chiêm bao, vừa hư vừa thực; sự
xuất hiện của nó là do phân biệt kén chọn, hay vọng niệm của con người mà ra,
nếu diệt được vọng niệm, trở về với cái “Tâm tónh lặng” thì những thiên sai, vạn
bằng chính những hành động sống bình dò thường nhật để giữ giới luật đến ăn
chay, niệm Phật, sống hòa vào thiên nhiên, ung dung, tự tại…; và, cao hơn, đó còn
là những hành động mang ý nghóa đạo đức, luân lý và ý nghĩa chính trò xã hội lớn
lao như dạy Mười điều thiện (Thập thiện), giáo dục lòng nhân nghóa để diệt trừ
gian tà cho dân; thương yêu dân và lo cho nước (ưu quốc), đánh giặc cứu dân, cứu
nước. Cuộc đời và tư tưởng của Trần Nhân Tông có thể được nghiên cứu và tiếp
cận trên nhiều bình diện khác nhau như nhà chính trò, nhà thơ, nhà tư tưởng. Và, ở
bình diện nào chúng ta cũng phát hiện ra những điều thú vò và mới lạ về ông. Là
một vò vua, một vò tướng ông là người có một bản lónh và quyết đoán; là một nhà
chính trò, ông có cái nhìn sắc bén, bình tónh, tự tại; là một thiền sư, ông có một trí
huệ thâm trầm sâu sắc mà dung dò, và cao hơn cả là tấm lòng yêu nước thương dân
của ông. Triết lý ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho quân dân Đại Việt trong
công cuộc chấn hưng đất nước, chống giặc Nguyên – Mông thời bấy giờ. ( )14
Sđd, tr. 507.