KHOA LUẬT TRƯỜNG ĐH LUẬT
ĐẠI HỌC LUND TP. HỒ CHÍ MINH
PHAN NGỌC TÂM
BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
NGHIÊN CỨU SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT LIÊN MINH
CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế – So sánh
Mã số: 62.38.60.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Năm 2011
1
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH, VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUND, THỤY ĐIỂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Hans-Henrik Lidgard (Thụy Điển)
PGS.TS. Mai Hồng Quỳ
Phản biện 1:
Phản biện 2: …………………………………….
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước,
tại
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2011
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
2
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do lựa chọn đề tài
Nhãn hiệu, cùng với sáng chế, quyền tác giả và những đối tượng khác của quyền
SHTT đang ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm trên bình diện quốc gia lẫn quốc tế.
Trên thực tế, “nhãn hiệu” đã được sử dụng từ khá sớm trong lịch sử phát triển của xã hội
before sending them to Iran. Manufacturers from China sold goods bearing their marks in the
Mediterranean area over 2,000 years ago and at one time about a thousand different Roman pottery
marks were in use, including the FORTIS brand, which became so famous that it was copied and
counterfeited.").
2
See subchapter 2.1.2 infra.
3
See e.g., The Paris Convention for the Protection of Industrial Property 1883, The Madrid Agreement
for The International Registration of Marks 1891, The Agreement on Trade –Related Aspects of
Intellectual Property Rights (TRIPs) concluded as a part of the Uruguay Round on the re-negotiation of
the GATT in 1994, The Arrangement of Nice for the International Classification of Goods and Services
in 1957, First Council Directive 89/104/EEC of 21 December 1988 to approximate the laws of the
Member States relating to trade marks OJ 1989 L40/1; Council Regulation (EC) 40/94 OF 20 December
1993, OJ 1994 L11/1 on the Community Trade mark. And some national laws such as : The Trade
Marks Act 1938 and after that being replaced by the Trade marks Act 1994 of the United Kingdom, The
Lanham Act 1946 of the United States of America, The Federal Trade mark Dilution Act in 1995 (as
revised in 2006).
4
The concept of well-known trade mark was first stated in the 1925 Amendment of the Paris Convention.
3
Rõ ràng là sự thiếu vắng của các quy định pháp luật trong lĩnh vực này đã mang lại
những khó khăn nhất định cho thực tiễn sử dụng và bảo hộ đối với nhiều nhãn hiệu nổi
tiếng. Trong nhiều năm qua đã có không ít những tranh chấp thương mại quốc tế phát
sinh liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng. Việc giải quyết những tranh chấp này chủ yếu
được thực hiện dựa trên án lệ ở các nước theo truyền thống Thông luật hay dựa trên các
quy định pháp luật liên quan ở các nước theo truyền thống Dân luật. Điều này vô hình
chung đã mang lại nhiều thách thức cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính
đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng, đồng thời cản trở quá trình hoàn thiện pháp luật
về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng cũng như tăng
cường và đảm bảo tính thống nhất, tính hiệu quả và sự khả thi của hệ thống pháp luật.
COLA, MICROSOFT, NOKIA… Những nhãn hiệu này không chỉ đại diện cho tài sản
của doanh nghiệp nước ngoài mà còn trở thành yếu tố quan trọng trong toàn bộ nền kinh
tế quốc gia nơi chúng được đầu tư. Chẳng hạn, giá trị thương mại của nhãn hiệu COCA-
COLA được tính toán vào khoảng 33,4 tỉ Đô là Mỹ năm 1993 và lên đến hơn 70,0 tỉ Đô
5
Frederick Mostert, Famous and Well-known Marks – An international Analysis, (Toronto Butterworth’s
1997), page v.
4
là Mỹ vào năm 2010 (trở thành thương hiệu có giá trị cao nhất toàn cầu trong năm)
6
. Điều
này chứng tỏ rằng giá trị kinh tế của quyền SHTT, và đặc biệt là nhãn hiệu, đang đóng
một vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế
thế giới. trong khi đó, nhìn lại thực tế ở Việt Nam, có thể thấy rằng cơ chế bảo hộ và thực
thi quyền SHTT vẫn còn là một bức tranh mờ nhạt. Mặc dù Nhà nước đã có nhiều nỗ lực
trong việc ban hành nhiều văn bản luật và những quy định mới, song hiện tượng xâm
phạm hay vi phạm quyền SHTT vẫn tiếp tục là những thách thức to lớn đối với các cơ
quan có thẩm quyền và đối với các chủ thể quyền SHTT. Pháp luật về nhãn hiệu có vẻ là
lĩnh vực chịu thách thức nhiều hơn cả bởi vì ngày càng có nhiều tranh chấp và khiếu nại
được đưa ra trước cơ quan có thẩm quyền liên quan đến hành vi xâm phạm nhãn hiệu.
Ở Việt Nam, hầu hết mọi người không có nhiều kiến thức và thông tin liên quan đến nhãn
hiệu nổi tiếng. Chẳng hạn, nhãn hiệu HONDA thường được sử dụng một cách thông
dụng để chỉ tất cả các phương tiện xe gắn máy mà không có sự phân biệt nào đối với các
nhãn hiệu mà chúng mang, dù rằng các nhãn hiệu đó không phải là HONDA và cũng
không giống nhau. Điều này có vẻ như là một thực tế phổ biến và nó tồn tại trong một
thời gian khá dài. Và với tình huống xảy ra như thế, chúng ta buộc phải trả lời một số câu
hỏi quan trọng, ví dụ:
(1) Có bất kỳ sự xâm phạm nào đối với quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong
ví dụ liên quan đến nhãn hiệu HONDA này?
(2) Liệu chủ sở hữu nhãn hiệu HONDA có quyền khiếu nại yêu cầu bảo vệ
những vấn đề pháp lý liên quan đến nhãn hiệu HONDA sau khi đã nghiên cứu và giải
quyết một số vấn đề lý luận cơ bản và những phân tích so sánh ở các phần sau của Luận
án.
Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đã cố gắng tạo ra một hệ thống
những quy định chung về quyền SHTT trong BLDS 1995
8
và quyền SHCN trong Nghị
định số 63/CP năm 1996,
9
như là những nền tảng pháp lý đầu tiên của pháp luật Việt
Nam liên quan đến mảng SHTT. Chúng cũng có thể được coi là nguồn cơ bản của pháp
luật nhãn hiệu Việt Nam ở giai đoạn này. BLDS 1995 sau đó đã được bổ sung, sửa đổi
năm 2005 và được thay thế bởi BLDS 2005.
10
Tiếp theo đó, cuối năm 2005, Việt Nam đã
tiếp tục ban hành một văn bản pháp luật duy nhất và thống nhất điều chỉnh các vấn đề
liên quan đến quyền SHTT.
11
Ngoài ra, những quy định của pháp luật về nhãn hiệu có thể
được tìm thấy ở các văn bản pháp lý khác được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền
như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp…
Năm 2006, đã có khá nhiều sự kiện trọng đại xảy ra có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế
đất nước cũng như quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trong đó, sự
kiện quan trọng nhất có thể kể đến là quá trình đàm phán gia nhập vào Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO) của Việt Nam đã thành công tốt đẹp, Việt Nam đã trở thành thành
viên chính thức thứ 150 của Tổ chức này. Đây chính là một bước ngoặc lớn trong quá
trình phát triển của lịch sử dân tộc. Bên cạnh đó, một số sự kiện khác cũng đã diễn ra và
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ của nước ta, đó là sự
kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Nghị định thư Madrid vào ngày
11/04/2006 và ngày 11/07/2006 thì Nghị định thư đ phát sinh hiệu lực trên lãnh thổ Việt
these rights. However, problems relating to well-known trade marks are merely referred to in a number
of articles.
6
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên, nhãn hiệu nổi tiếng và những vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo
hộ nhãn hiệu nổi tiếng chưa được giải quyết một cách thỏa đáng ở Việt Nam. Vì vậy,
Luận án này hướng đến hai mục đích chính. Thứ nhất, Luận án sẽ là một đóng góp đáng
kể vào hệ thống lý luận về nhãn hiệu nổi tiếng không những trên phương diện toàn cầu
mà, quan trọng hơn, còn tập trung vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.
12
Điều này nhằm
giúp những chủ thể liên quan có thể nhận biết được nhãn hiệu nổi tiếng trong thị trường
để có thể phân biệt chúng với các nhãn hiệu thông thường khác. Thứ hai, thông qua sự
phân tích và đánh giá cơ chế pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong bối cảnh pháp lý
quốc tế
13
nói chung và trong những hệ thống pháp luật quốc gia cụ thể
14
để rút ra những
cách thức phù hợp nhằm củng cố và tăng cường hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ
nhãn hiệu nổi tiếng.
Để có thể đạt được những mục đích nêu trên, Luận án sẽ phải giải quyết được những
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Một là, Luận án phải giới thiệu được một cách khái quát những kiến thức lý luận cơ bản
về nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng. Điều này sẽ giúp mang lại câu
trả lời cơ bản nhất cho câu hỏi thế nảo là nhãn hiệu nổi tiếng trong bối cảnh toàn cầu.
Hai là, Luận án sẽ phải thực hiện được một sự so sánh khá đầy đủ và cơ bản giữa hai hệ
thống pháp luật của EU và Việt Nam về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng.
Ba là, Luận án phải phân tích được tình huống thực tế của Việt Nam liên quan đến bảo hộ
nhãn hiệu, đặc biệt tập trung vào nhãn hiệu nổi tiếng, và đánh giá hiệu quả của hệ thống
án sẽ chỉ tập trung nghiên cứu và so sánh đối với hệ thống pháp luật của EU và Việt
Nam. Theo đó, đối với hệ thống pháp luật EU, Luận án sẽ chỉ dừng lại ở việc tiếp cận và
phân tích các quy định của pháp luật Liên minh cũng như các bản án và quyết định của
Tòa án Công lý châu Âu liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu có danh tiếng.
Luận án cũng đồng thời tham chiếu một cách hạn chế đến một số hệ thống pháp luật quốc
gia như Vương quốc Anh, Đức và Pháp và một số quốc gia khác. Ngoài ra, hệ thống pháp
luật Hoa kỳ cũng được đề cập một cách hạn chế trong những bối cảnh phù hợp.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp pháp lý truyền thống
Phương pháp pháp lý truyền thống là một trong những phương pháp cơ bản được sử dụng
trong luận án nhằm tìm kiếm câu trả lời thỏa đáng cho các câu hỏi quan trọng như: Pháp
luật quy định những gì về cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng? Tại sao và làm thế nào để
một nhãn hiệu nổi tiếng có thể được bảo hộ theo quy định của pháp luật? Để đạt được
những lợi ích của phương pháp này, một số nhiệm vụ cụ thể quan trọng cần phải được
thực hiện một cách triệt để và khoa học bao gồm công việc tổng hợp, phân tích và thống
kê. Đây cũng chính là những bộ phận cấu thành quan trọng của phương pháp pháp lý
truyền thống.
Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu chính của Luận án, tác giả vận dụng phương pháp pháp
lý truyền thống trong việc tiếp cận và nghiên cứu các quy định liên quan đến việc bảo hộ
nhãn hiệu nổi tiếng được ghi nhận trong các điều ước quốc tế và các văn bản pháp luật
quốc gia bao gồm Công ước Paris, Hiệp định TRIPs, Chỉ thị về thống nhất pháp luật nhãn
hiệu của EU, Quy chế về Nhãn hiệu cộng đồng của EU, Luật SHTT Việt Nam cũng như
pháp luật nhãn hiệu của một số quốc gia châu Âu cụ thể.
15
Ngoài ra, các án lệ cũng là một loại nguồn quan trọng được sử dụng trong Luận án nhằm
giải thích các quy định của pháp luật về nhãn hiệu nổi tiếng cũng như làm rõ cách thức
mà pháp luật được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, ở khía cạnh pháp
luật EU, thông qua việc nghiên cứu các vụ việc cụ thể như vụ General Motors
16
20
,
phương pháp so sánh ngày càng được sử dụng phổ biến trong khoa học pháp lý. Phương
pháp pháp lý so sánh được hiểu là cách thức tiếp cận và phân tích những sự tương đồng
và khác biệt giữa các đối tượng nghiên cứu khác nhau hoặc giữa các phần khác nhau của
cùng một đối tượng nghiên cứu. Công cụ chính của phương pháp này chính là những sự
so sánh được thực hiện cả ở cấp độ vĩ mô lẫn vi mô. Ở cấp độ vĩ mô, sự so sánh được tiến
hành thông qua việc tiếp cận và nghiên cứu các hệ thống pháp luật hoặc các chế định
pháp luật khác nhau để đánh giá sự khác biệt và tương đồng ở góc độ khái quát. Ở cấp độ
vi mô, sự so sánh được thực hiện giữa các quy phạm pháp luật cụ thể liên quan đến
những vấn đề pháp lý cụ thể. Những sự so sánh đó cần phải được thực hiện trong sự liên
hệ tương hỗ với nhau trong quá trình nghiên cứu bởi vì mối quan hệ mật thiết giữa hai
cấp độ so sánh. Những nguồn tài liệu và thông tin cần được kết hợp và so sánh ở cả hai
cấp độ để có thể tìm ra và lý giải một cách chính xác những sự khác biệt và tương đồng
giữa các nguồn dữ liệu cụ thể khác nhau và tiếp đó là giữa cá hệ thống pháp luật khác
nhau. Nhiệm vụ chính của phương pháp pháp lý so sánh trong nghiên cứu khoa học pháp
lý là phải trả lời được các câu hỏi quan trọng, bao gồm: Đâu là sự khác biệt và tương
đồng giữa các vấn đề pháp lý đang được xem xét? Tại sao những khác biệt và tương đồng
đó tồn tại? Ý nghĩa của quá trình so sánh là gi?
Như đã xác định ngay trong tiêu đề và trong mục tiêu nghiên cứu, Luận án được xác định
là một công trình nghiên cứu so sánh. Do đó, phương pháp pháp lý so sánh được sử dụng
như là một phương pháp nghiên cứu chủ đạo xuyên suốt nội dung của Luận án. Tuy
nhiên, tùy thuộc vào phạm vi tiếp cận cụ thể của từng chương, phương pháp này được sử
dụng ở mức độ khát nhau ở những phần khác nhau. Phương pháp pháp lý so sánh đóng
vai trò quan trọng nhất trong nội dung của chương 4 bởi vì đây là chương tập trung chủ
yếu vào việc so sánh giữa hệ thống pháp luật của EU và Việt Nam liên quan đến vấn đề
bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Sau khi đã nghiên cứu cẩn thận hệ thống pháp luật của EU và
Việt Nam ở chương 3, chương 4 sẽ tiếp tục một cách hệ thống bằng việc so sánh các nội
18
McDonald’s Corporation v. an Australian Company relating to the registration of the trade mark
nghiên cứu của Luận án. Ở cấp độ cụ thể hơn, phương pháp pháp lý lịch sử được vận
dụng trong quá trình phân tích các nội dung cụ thể được trình bày trong các chương.
Chẳng hạn, sự xem xét dưới góc độ lịch sử đối với sự ra đời và phát triển của học thuyết
về nhãn hiệu nổi tiếng thông qua các quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật các
quốc gia được trình bày ở chương 2, hay sự tìm hiểu ở khía cạnh lịch sử của học thuyết
về sự lu mờ nhãn hiệu được trình bày ở chương 4 đóng vai trò quan trọng trong việc tìm
hiểu và lý giải cơ chế pháp lý hiện tại về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở cấp độ quốc gia lẫn
quốc tế.
Phương pháp pháp lý kinh tế
Phương pháp pháp lý kinh tế được sử dụng một cách phù hợp trong Luận án để làm rõ
những vấn đề liên quan đến giá trị kinh tế, thương mại của những vấn đề pháp lý đang
được xem xét như ở c1c chương 1, 2, 4 và 5. Cụ thể, phương pháp pháp lý kinh tế phải
được xem xét đến khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến sự cần thiết phải mở
rộng phạm vi bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc khi xem xét, đánh giá giá trị
thương mại của nhãn hiệu, hoặc để xác định các hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong các
vu kiện dựa trên thiệt hại về kinh tế.
Phương pháp pháp lý xã hội
Phương pháp pháp lý xã hội có vẻ ít quan trọng hơn so với các phương pháp nghiên cứu
khác. Tuy nhiên, pháp luật luôn tồn tại trong mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố xã hội
khác và dĩ nhiên sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ bởi các yếu tố đó. Do vậy, khi nghiên cứu và
giải quyết các vấn đề pháp lý cụ thể, cách thức thông thường được thực hiện là đặt chúng
trong các mối liên hệ xã hội nhất định để đánh giá sự tương tác giữa chúng với các yếu tố
khác. Cần thừa nhận rằng có nhiều sự khác biệt giữa các cộng đồng khác nhau trong việc
đánh giá một vấn đề pháp lý cụ thể do những điều kiện xã hội khác nhau tác động lên
chúng. Vì thế, nội dung của Luận án được giới hạn và xác định trong mối liên hệ biện
chứng giữa pháp luật và xã hội.
10
Phương pháp pháp lý xã hội được sử dụng trong những phần nhất định của Luận án khi
cần thiết đánh giá những tác động mang tính xã hội của các quy định của pháp luật.
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 4 và 5 khi so sánh hai hệ thống pháp
Tác phẩm của Mostert không chỉ giá trị trong việc
tìm hiểu cách thức nhãn hiệu nổi tiếng được giải quyết ở cấp độ quốc gia trên toàn cầu
mà còn đi sâu vào những vấn đề pháp lý cụ thể hơn về nhãn hiệu nổi tiếng như định nghĩa
về nhãn hiệu nổi tiếng, tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng và rất nổi tiếng, và vấn đề
thực thi bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở cấp độ quốc gia lẫn quốc tế. Nguồn tài liệu quan
trọng tiếp theo có tểh kể đến là tác phẩm của Jeremy Phillips, Trademark Law: A
Practical Anatomy
23
vốn có thể được coi như là nền tảng lý luận quan trọng về pháp luật
nhãn hiệu nói chung. Nguồn tài liệu quan trọng thứ ba là cuốn sách của Christopher
Heath và Kung – Chung Liu, The protection of well-known marks in Asia.
24
Cuốn sách là
một tập hợp những nghiên cứu có giá trị về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được thực
21
See Appendix 1.
22
Frederick Mostert, Famous and Well-known Marks – An international Analysis, (Toronto Butterworth’s
1997). The second edition of the book was published in 2004.
23
Jeremy Phillips, Trade mark Law – A Practical Anatomy, (Oxford University Press 2003.)
11
hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu đến từ các quốc gia châu Âu và châu Á. Cuốn
sách không những giới thiệu hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng của từng
quốc gia châu Á mà đồng thời cung cấp một sự so sánh rất giá trị về cơ chế pháp lý bảo
hộ nhãn hiệu nổi tiếng giữa ba hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới là hệ thống pháp
luật Hoa Kỳ, hệ thống pháp luật châu Âu và hệ thống pháp luật châu Á.
Trong phạm vi của Việt Nam, hiện nay vẫn còn khá ít tài liệu liên quan đến vấn đề nhãn
hiệu nổi tiếng. Khái niệm này được đề cập một cách hạn chế trong cuốn sách của Tiến sĩ
Lê Nết, Quyền Sở hữu trí tuệ (năm 2004). Trong Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Mai
Chương 3 của Luận án giới thiệu về hệ thống các thiết chế pháp lý quốc tế quan trọng
liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, bao gồm Công ước Paris 1883, Thỏa ước
Madrid 1891 và Nghị định thư, Hiệp định TRIPs năm 1994 và một số văn kiện pháp lý
24
Christopher Heath, Kung-Chung Liu, The protection of well-known marks in Asia, Max Planck Series
on Asian Intellectual Property Law, 2000.
25
Master Thesis 2003 – 2004, University of Leuven, Belgium, available at
https://www.law.kuleuven.be/cals/llm/papers/Y0304/PhamThanhTra.pdf.
26
Pham Thanh Tra, Well-known trade marks versus dilutive signs – A trans-Atlantic comparative analysis
of protection schemes, Master Thesis 2003 – 2004, University of Leuven, Belgium, page 5.
12
quốc tế khác có liên quan đến nhãn hiệu. Chương này đặc biệt chú trọng đến việc cung
cấp cho người đọc một cái nhìn toàn cầu về nhãn hiệu nổi tiếng và cơ chế bảo hộ chúng ở
khía cạnh lý luận lẫn trong công tác lập pháp. Chương 3 cũng tiếp cận và giới thiệu khái
quát hệ thống pháp luật nhãn hiệu nói chung và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói
riêng theo pháp luật của EU và Việt Nam. Theo đó, chương này sẽ giới thiệu sơ lược về
lịch sử phát triển của pháp luật nhãn hiệu trong phạm vi châu Âu cũng như hệ thống pháp
luật nhãn hiệu hiện hành của EU. Trong đó, một số hệ thống pháp luật nhãn hiệu của các
quốc gia điển hình cũng được đề cập đến như Anh, Pháp và Đức. Ngoài ra, chương 3
cũng dành một phần quan trọng để tìm hiểu và phân tích hệ thống pháp luật Việt Nam về
bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Sau khi đã giới thiệu hệ thống pháp luật về nhãn hiệu của
Việt Nam, ở chương này, Luận án tiếp tục đi vào phân tích các quy định pháp luật cụ thể
cũng như các vụ việc điển hình liên quan đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt
Nam theo pháp luật hiện hành.
Ở chương 4, các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng sẽ được tiếp tục
đào sâu dựa trên sự so sánh được thực hiện giữa pháp luật EU và Việt Nam. Chương này
sẽ cung cấp những đánh giá và phân tích chi tiết về những sự tương đồng và khác biệt
giữa hai hệ thống pháp luật liên quan đến định nghĩa nhãn hiệu nổi tiếng, các tiêu chí
chủ thể khác. Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ luôn được xem là
yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu. Vì vậy nó luôn đóng vai trò trung tâm và được đề
cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Nhãn hiệu có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
- Theo Davis Bainbridge, nhãn hiệu thông thường được định nghĩa bởi tòa án là
nhãn mác, dấu hiệu hay biểu tượng, mà chức năng đầu tiên và cơ bản của chúng là
để “xác định nguồn gốc hay quyền sở hữu đối với hàng hóa mang nó được gắn
vào”;
- Theo một định nghĩa được sử dụng trên trang web chính thức của Văn phòng
Nhãn hiệu và Sáng chế Hoa Kỳ (USPTO), nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ từ ngữ,
tên gọi, một biểu tượng hay hình vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào của chúng được sử
dụng, hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để xác định nguồn gốc hàng hóa và
phân biệt những hàng hóa đó với hàng hóa của các nhà sản xuất hoặc nhà phân
phối khác. Nói cách khác, nhãn hiệu có thể được hiểu như tên thương mại;
- Theo pháp luật nhãn hiệu EU, khái niệm nhãn hiệu được sử dụng thống nhất cho
cả hàng hóa và dịch vụ. Theo đó, “nhãn hiệu có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào
có thể được trình bày một cách vật chất và riêng biệt dưới dạng từ ngữ, bao gồm
tên riêng, các thiết kế, chữ cái, con số, hình dáng hay bao bì hàng hóa, có khả
năng phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một chủ thể này với hàng hóa hay dịch
vụ của các chủ thể khác”;
- Theo quan điểm của Việt Nam, nhãn hiệu được định nghĩa một cách khái quát tại
Điều 4 (16) của Luật SHTT năm 2005 (bổ sung, sửa đổi năm 2009) là “dấu hiệu
để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”;
- Ở góc độ chung nhất, nhãn hiệu có thể được hiểu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể
nhận biết được bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình
14
vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào của chúng, và kiểu dáng hay bao bì hàng hóa được
sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng
hóa hay dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác.
2.1.2 Chức năng của nhãn hiệu
2.1.4 Nhãn hiệu và các đối tượng SHTT khác có liên quan
Ở phần này tác giả giới thiệu một cách khái quát những điểm khác biệt giữa nhãn
hiệu với các đối tượng khác liên quan để giúp phân biệt chúng trong từng bối cảnh cụ
thể.
- Nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ
15
- Nhãn hiệu và tên thương mại
- Nhãn hiệu và thương hiệu
- Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
- Nhãn hiệu và tên miền
2.2 Pháp luật về nhãn hiệu
Pháp luật về nhãn hiệu là một trong những hợp phần quan trọng của hệ thống pháp luật
về SHTT nói chung. Trong luận án này, tác giả tiếp cận và nghiên cứu những vấn đề cơ
bản nhất liên quan đến pháp luật về nhãn hiệu với tư cách là nền tảng lý luận trọng yếu để
từ đó đi sâu nghiên cứu các vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng. Tại
phần này, tác giả chỉ tiếp cận pháp luật về nhãn hiệu một cách khái quát nhất, dựa trên hệ
thống lý luận cơ bản về pháp luật nhãn hiệu và đánh giá pháp luật nhãn hiệu trong cách
nhìn đa chiều, bao gồm khía cạnh lịch sử, kinh tế và cả ở góc độ xã hội.
2.2.1 Giới thiệu chung
Một bức tranh tổng thể về pháp luật nhãn hiệu được mô tả một cách khái quát từ lịch sử
hình thành và phát triển của những quy định pháp luật sơ khai có liên quan đến nhãn hiệu
từ thời Trung Cổ, đến sự ra đời của các quy phạm chuyên biệt dành riêng cho việc bảo hộ
nhãn hiệu, và những vụ việc điển hình được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết liên
quan đến tranh chấp nhãn hiệu. Đặc biệt trong phần này tác giả đề cập và lý giải mối
quan hệ hữu cơ giữa pháp luật nhãn hiệu hiện đại với các nền tảng pháp lý quan trọng của
truyền thống Luật chung (Common Law) ở các quốc gia phương Tây.
2.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về nhãn hiệu
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu.
- Đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và lợi ích của nhà
nước liên quan đến việc sử dụng và khai thác nhãn hiệu.
Sự ra đời của học thuyết về nhãn hiệu nổi tiếng đòi hỏi hệ thống pháp luật nhãn hiệu trên
toàn cầu phải có những chuyển đổi phù hợp, đáp ứng yêu cầu bảo hộ một cách hiệu quả
và kịp thời đối với loại nhãn hiệu đặc biệt này.
2.3.2 Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng
Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng được đề cập một cách chính thức tại Điều 6bis Công ước
Paris 1883. Tuy nhiên, Công ước lại không đưa ra bất kỳ định nghĩa chính thức rõ ràng
nào về nhãn hiệu nổi tiếng. Cụm từ “nhãn hiệu nổi tiếng” trong Điều 6bis Công ước Paris
được chuyển ngữ sang các ngôn ngữ khác nhau với những sự khác biệt trong cách thể
hiện nội dung của thuật ngữ này như “marque notoirement connue”, “notorisch bekannte
marke”, “marchio notoriamente conosciuto”, or “marca notoriamente conocida”.
Theo Hiệp định TRIPs, khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” không chỉ được sử dụng cho đối
tượng là hàng hóa mà còn được sử dụng cho cả các đối tượng dịch vụ, và Hiệp định cũng
ghi nhận một số căn cứ chung để xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nổi tiếng
hay không
27
. Ngoài ra, Hiệp định cũng mở rộng phạm vi các nhãn hiệu nổi tiếng được
bảo hộ, bao gồm cả các nhãn hiệu được coi là rất nổi tiếng. Tuy nhiên, cũng giống như
Công ước Paris, Hiệp định TRIPs cũng không đưa ra bất kỳ một định nghĩa chính thức
nào về “nhãn hiệu nổi tiếng”.
Một số điều ước quốc tế khác cũng có đề cập đến nhãn hiệu nổi tiến trong những chừng
mực nhất định nhưng hầu như cũng không có bất kỳ một định nghĩa chính thức nào được
ghi nhận về loại nhãn hiệu này. Do vậy, định nghĩa về nhãn hiệu nổi tiếng thường sẽ
được ghi nhận trong pháp luật nội địa của mỗi quốc gia. Trong khi đó, pháp luật của các
quốc gia vẫn còn khác biệt rất lớn, cho nên cách hiểu về nhãn hiệu nổi tiếng khó có thể
đạt được sự thống nhất.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhãn hiệu nổi tiếng được hiểu là “nhãn hiệu được
người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” (khoản 20 – Điều 4 – Luật
SHTT 2005). Để làm rõ thêm khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng, pháp luật Việt Nam đã đưa
27
Điều 16.2. Hiệp định TRIPS.
tiếng cũng được nhập khẩu đến các thị trường đó. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về sở
hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng ở các quốc gia này thường
còn rất yếu và chưa hoàn thiện. Điều này vô hình chung sẽ mang lại những đe dọa đối với
các nhà đầu tư nước ngoài. Họ có thể sẽ trở thành nạn nhân của nạn đánh cắp nhãn hiệu
của các doanh nghiệp địa phương.
Một khía cạnh khác của toàn cầu hóa thương mại chính là xu hướng chuyên môn hóa.
Theo đó, một sản phẩm hàng hóa có thể được sản xuất từng phần ở nhiều quốc gia khác
nhau, điều này dẫn đến hệ quả là ngay bên trong một sản phẩm có thể chứa đựng cùng
lúc nhiều nhãn hiệu và các nhãn hiệu này tồn tại song song và gắn liền với nhãn hiệu bên
ngoài của sản phẩm. Trong điều kiện như thế, việc bảo hộ đối với từng nhãn hiệu sẽ trở
nên phức tạp và khó khăn hơn.
18
Thêm vào đó, sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, sự phổ biến của mạng
internet toàn cầu, việc khai thác hệ thống vệ tinh nhân tạo cũng như sự gia tăng cả về chất
lẫn về lượng của các kênh thông tin truyền thông giúp kết nối người tiêu dùng với nhãn
hiệu và sản phẩm mang nhãn hiệu ngày càng trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn. Một
nhãn hiệu thông thường vì thế sẽ có nhiều cơ may trở nên nổi tiếng một cách nhanh
chóng. Điều này cũng mang lại thách thức không nhỏ cho việc bảo hộ các nhãn hiệu như
thế bởi vì các nguyên tắc pháp lý truyền thống đôi khi không thể phát huy hết tác dụng
của mình. Do vậy, trong bối cảnh hiện đại, nhu cầu xây dựng và phát triển một cơ chế
pháp lý chung mang tính toàn cầu nhằm bảo hộ hiệu quả nhãn hiệu nói chung và nhãn
hiệu nổi tiếng nói riêng ngày càng trở nên thiết yếu.
CHƯƠNG 3
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
3.1 Các thiết chế pháp lý quốc tế
3.1.1 Công ước Paris 1883
Điều 6bis Công ước Paris cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng được quyền ngăn
chặn việc đăng ký hoặc sử dụng một nhãn hiệu nếu nhãn hiệu đó “Cấu thành một sự sao
chép, bắt chước, hoặc biên dịch, có khả năng gây nhầm lẫn, về một nhãn hiệu do cơ quan
có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc nhãn hiệu được sử dụng xem xét là nổi tiếng tại
hành vi cạnh tranh không công bằng (ví dụ: lừa dối công chúng).
3.1.2 Hiệp định TRIPs
Các vấn đề liên quan việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được quy định tại Điều 16 TRIPS.
Các quy định này căn cứ theo các quy định của Công Ước Paris dẫn chiếu cụ thể Điều
6bis. Tuy nhiên, TRIPS đã điều chỉnh Điều 6bis Công Ước Paris một cách hiệu quả bằng
cách quy định bổ sung các quy định của Điều 6bis.
- Thứ nhất, việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng có thể được áp dụng cho cả hàng hóa và
dịch vụ.
28
Việc mở rộng này là một trong các quy định quan trọng nhất của TRIPS
được áp dụng theo Công Ước Paris bởi vì các nhãn hiệu dịch vụ ngày càng trở
nên quan trọng trong thương mại quốc tế và đóng góp vào sự phát triển của hệ
thống thương mại toàn cầu.
- Thứ hai, để xác định một nhãn hiệu có nổi tiếng hay không, quốc gia thành viên
phải xem xét đến việc có được sự biết đến của công chúng về nhãn hiệu đó trong
lĩnh vực liên quan, bao gồm việc có được sự biết đến của quốc gia thành viên có
liên quan từ hệ quả của việc quảng bá nhãn hiệu.
29
- Thứ ba, việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng cũng có thể được áp dụng đối với nhãn
hiệu kể cả trường hợp nhãn hiệu áp dụng là hàng hóa hoặc dịch vụ không giống
hoặc tương tự với hàng hóa hoặc dịch vụ đối với nhãn hiệu được đăng ký.
30
Theo
đó, thẩm quyền của các Quốc Gia Thành Viên phải từ chối hoặc hủy bỏ đơn hoặc
đăng ký nhãn hiệu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ nếu việc đăng ký đó có khả
năng gây thiệt hại đến lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng ngay cả trường
hợp không có bất kỳ điểm giống hoặc tương tự giữa hàng hóa hoặc dịch vụ đó.
3.1.3 Các thiết chế pháp lý khác
- Thỏa ước Madrid 1891
- Nghị định thư Madrid
- Quá trình thống nhất hóa pháp luật nhãn hiệu trong phạm vi EU
Với việc thông qua Chỉ thị về thống nhất hóa pháp luật nhãn hiệu của Châu Âu năm
1989
31
, và Quy chế về nhãn hiệu cộng đồng năm 1993
32
, pháp luật nhãn hiệu của EU
đã được thay đổi đáng kể. Cả hai Chỉ thị về thống nhất hóa pháp luật nhãn hiệu của
Châu Âu và Quy chế về nhãn hiệu cộng đồng đã giải quyết nhiều câu hỏi quan trọng
về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Các quy định của Chỉ thị này nêu rõ rằng các quy định
đó là “hoàn toàn phù hợp” với Công ước Paris,
33
bảo đảm toàn bộ các quy đinh của
Công ước Paris được áp dụng trong phạm vi EU.
Sau khi được hài hòa hóa theo Chỉ thị về thống nhất hóa pháp luật nhãn hiệu và được
bổ sung bằng Quy chế về nhãn hiệu cộng đồng, pháp luật của EU hiện nay đã được
tiêu chuẩn hóa và áp dụng thống nhất tại toàn bộ các quốc gia thành viên EU.
31
Directive 89/104 EC of 21 December 1988, OJ L 40/1, 11 February 1989.
32
The Council Regulation (EC) 40/94 of 10 December 1993 on the Community Trade mark, OJ L 011,
14.1.1994.
33
The final recital to the Preamble of Directive 89/104 states:
“Whereas all Member States of the Community are bound by the Paris Convention for the Protection of
Industrial Property; whereas it is necessary that the provisions of this Directive are entirely consistent
with those of the Paris Convention; whereas the obligations of the Member States resulting from this
Convention are not affected by this Directive; whereas, where appropriate, the second subparagraph of
Article 234 of the Treaty is applicable”.
21
which are not similar to those for which the earlier Community trademark is registered, where the earlier
Community trademark has a reputation in the Community and where the use of the later trademark
without due cause would take unfair advantage of, or be detrimental to, the distinctive character or the
repute of the earlier Community trademark.
The meaning of “earlier trademark” should be understood as provided in Article 4(2): … (d) trade marks
which, on the date of application for registration of the trade mark, or, where appropriate, of the priority
claimed in respect of the application for registration of the trade mark, are well known in a Member
State, in the sense in which the words 'well known' are used in Article 6 bis of the Paris Convention.
35
Article 4(4)(a) states: The trade mark is identical with, or similar to, an earlier national trade mark within
the meaning of paragraph 2 and is to be, or has been, registered for goods or services which are not
similar to those for which the earlier trade mark is registered, where the earlier trade mark has a
reputation in the Member State concerned and where the use of the later trade mark without due cause
would take unfair advantage of, or be detrimental to, the distinctive character or the repute of the earlier
trade mark.
36
Article 5(2) – of the Trade mark Directive provides: Any Member State may also provide that the
proprietor shall be entitled to prevent all third parties not having his consent from using in the course of
trade any sign which is identical with, or similar to, the trade mark in relation to goods or services which
are not similar to those for which the trade mark is registered, where the latter has a reputation in the
Member State and where use of that sign without due cause takes unfair advantage of, or is detrimental
to, the distinctive character or the repute of the trade mark.
37
Article 8 of the Community Trade mark Regulation provides the relative grounds of refusal of
Community Trade mark registrations, while the Article 52 states the grounds applied for invalidating or
22
Nhìn chung, pháp luật nhãn hiệu Châu Âu có rất ít quy định cụ thể về việc bảo hộ
nhãn hiệu rất nổi tiếng hoặc nhãn hiệu nổi tiếng xem như một mục riêng về vấn đề
pháp lý.
38
Tại các văn bản pháp luật trong nước cũng không có thuật ngữ “nhãn hiệu nổi
cancelling the registered community trade marks. More details of the issue will be made clear in the next
chapter.
38
Pier Luigi Ronaglia, “Should we use guns and missiles to protect famous trade marks in Europe?”
(1998) TMR 551, page 88. Also see: Jeremy Phillips, Trade mark Law – A Practical Anatomy, (Oxford
University Press 2003), page 403, paragraph 12.31.
23
tiếng”. Dường như hiện nay không có sự phân biệt giữa khái niệm nhãn hiệu “nổi
tiếng” và khái niệm nhãn hiệu “rất nổi tiếng”. Tuy nhiên, việc phân biệt giữa hai
khái niệm này đã được thực hiện. Dưới sự phân biệt đó, nhãn hiệu nổi tiếng được
xem là có thứ tự cao hơn so với nhãn hiệu được biết đến rộng rãi. Điều này có
nghĩa là thuật ngữ “rất nổi tiếng” có thể được hiểu là “nổi tiếng”. Tuy nhiên, thuật
ngữ này ít khi được đề cập trong tiền lệ. Ngoài ra, tại Việt Nam, thuật ngữ “nhãn
hiệu được công nhận và sử dụng rộng rãi” cũng đã được sử dụng trong những
trường hợp nhất định để chỉ các nhãn hiệu có uy tín hoặc được biết đến rộng rãi là
không đủ nổi tiếng để được xem là nhãn hiệu nổi tiếng hoặc rất nổi tiếng.
- Tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng: (Điều 75 – Luật SHTT 2005 và Mục 5 –
Thông tư 01/2007).
- Căn cứ bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng: Việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam
được thực hiện dựa trên các căn cứ pháp lý cơ bản bao gồm: sự tương tự đến mức
gây nhầm lẫn giữa dấu hiệu đăng ký với nhãn hiệu nổi tiếng, sự sử dụng các dấu
hiệu tương tự có khả năng làm phai mờ các dấu hiệu riêng biệt hoặc làm giảm
hoặc gây tổn hại đến uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng, nguyên tắc về sự gian dối hay
có dụng ý xấu.
- Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng:
• Trước đây: vô thời hạn (Nghị định 63/CP 1996 được bổ sung sửa đổi bởi Nghị
định 06/2001/NĐ-CP)
• Hiện nay: không quy định.
3.3.3 Thực thi bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
45
Vụ kiện “CAMEL” năm 2009
46
Vụ kiện “COVERSYL”
47
CHƯƠNG 4
PHÂN TÍCH SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT EU VÀ VIỆT
NAM VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
4.1 Vấn đề xác định nhãn hiệu nổi tiếng
4.1.1 Định nghĩa nhãn hiệu nổi tiếng
- Giống nhau:
• Cả pháp luật Việt Nam và EU đều xác định cách hiểu về khái niệm nhãn hiệu nổi
tiếng dựa trên quy định của Điều 6bis Công ước Paris.
• Phạm vi nổi tiếng của nhãn hiệu được công nhận trong giới hạn lãnh thổ quốc gia
(Việt Nam) hay trong phạm vi lãnh thổ các quốc gia thuộc Liên minh (EU). Nếu
nhãn hiệu nổi tiếng ở ngoài giới hạn đó, về nguyên tắc sự nổi tiếng đó sẽ không
được công nhận và bảo hộ.
42
Reynolds Tobacco Co. (US) v. Viet Cuong Co. (Vietnam) concerning the use of the trademark
“CAMEL” for tyres by Viet Cuong Co., in 1997.
43
BIOFARMA Co. v. SANOFI VN Co. as regards the request of the plaintiff to cancel the certification of
registration No. 21780 granted for the trademark “DEXYL” (confusingly similar to the wide used and
recognized trademark “DUXIL” of BIOFARMA CO.) of the SANOFI VN Co., Decision No. 405/QĐ-
BKHCNMT dated April 5, 2001.
44
Imperial Chemical Industries Plc (ICI) (UK) v. The Nippon Paint Vietnam concerning the registration
and use of the trademark ”SUPER MAXILITEX” of the Nippon Paint Vietnam which was considered as
confusingly similar to the trademark ”SUPER MAXILITE” of the ICI. Decision No. 2178/QĐ-
BKHCNMT dated October 12, 2001.