ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VƢƠNG VĂN TÍN TƢ TƢỞNG CỦA J. P. SARTRE TRONG TÁC PHẨM
“RUỒI” (LES MOUCHES)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH TƢỜNG Hà Nội - 2015 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự
hƣớng dẫn của PGS. TS Nguyễn Đình Tƣờng. Các nhận định nêu ra trong luận
văn là kết quả nghiên cứu nghiêm túc, độc lập của bản thân tác giả luận văn trên
cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu khoa học và bản dịch tác phẩm “Ruồi” đã
đƣợc công bố. Luận văn đảm bảo tính khách quan, trung thực và khoa học
Học viên
1
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU 3
B. NỘI DUNG 11
Chương 1.ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG TRIẾT HỌC . 11
J. P. SARTRE TRONG TÁC PHẨM “RUỒI” 11
1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội – văn hoá cho sự hình thành
tƣ tƣởng triết học của J P. Sartre 11
1.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời tƣ tƣởng triết học J. P. Sartre 15
1.2.1. Triết học đời sống 16
1.2.2. Hiện tượng luận của Husserl 20
1.2.3. Tư tưởng triết học hiện sinh của M. Heidegger và K. Jaspers 25
1.3. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của J. P. Sartre và tác phẩm
“Ruồi” 37
1.3.1. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của J. P. Sartre 37
1.3.2. Tác phẩm “ Ruồi” 40
Kết luận chƣơng 1 42
Chương 2. NHỮNG TƢ TUỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA J. P.
SARTRE TRONG TÁC PHẨM “RUỒI” 44
2.1. Tƣ tƣởng bản thể luận của J. P. Sartre 44
2.1.1. Tồn tại tự nó và tồn tại cho nó 44
2.1.2. Hiện sinh 56
2.2. Tƣ tƣởng đạo đức học của J. P. Sartre 62
lấy con ngƣời làm đối tƣợng trung tâm. Với nhiều trào lƣu mới ra đời nhƣ: Phân
tâm học, chủ nghĩa Tômát mới, trƣờng phái Frankfurt, Hiện tƣợng luận, chủ
nghĩa Hiện sinh Ở đây triết học đi khám phá những góc khuất của con ngƣời
mà triết sử trƣớc đây, triết gia đã vô tình hay hữu ý gác qua một bên để khám
phá cái lý trí mà hiền nhân coi là vạn năng, với tham vọng thông qua đó có thể
thâu tóm đƣợc toàn bộ vũ trụ này. Nhƣng rồi, ngƣời ta dần nhận ra đƣợc cái phần
duy lý ấy của con ngƣời cũng không giúp cho cuộc sống nhân sinh con ngƣời bớt
đi nỗi khổ đau trần thế. Sự khủng hoảng đó bộc lộ rõ trong thế kỷ XX với hai
cuộc chiến tranh tàn khốc là chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai và nhiều cuộc
chiến tranh cục bộ, nội chiến đã diễn ra, đẩy con ngƣời vào cái chết và sự sợ hãi.
Tồn tại của con ngƣời thật mong manh và vô lý, thật đáng “Buồn nôn”, “Phi lý”
nhƣờng nào. Câu hỏi Con ngƣời là gì ? mà Kant đặt ra, bây giờ đƣợc thay bằng:
Tôi là ai ?. Câu hỏi ấy đƣợc đặt ra thành vấn đề căn bản trong tâm thức mỗi một
con ngƣời có lƣơng tâm, đòi hỏi ở triết gia phải đƣợc giải quyết theo những cách
thức nhất định thông qua những kinh nghiệm cụ thể của con ngƣời cụ thể. 4
Những vấn đề lớn của triết học truyền thống nhƣ; bản thể luận, nhận thức
luận, đạo đức học, nghệ thuật…vốn mang trong nó những hạn chế nhất định. Bởi
hậu quả của tham vọng mong muốn giải thích tất cả mọi hiện tƣợng để đi tới một
bản chất minh xác nhƣ toán học, logic hình thức làm, đã không thực hiện đƣợc.
Những công trình nghiên cứu đó đã phác hoạ một bản đồ triết học trải rộng, bao
la, xuyên qua mấy nghìn năm lịch sử. Nhƣng thực tế thì chính thành quả này lại
ngày càng bao la hơn, xa hơn, so với tham vọng ban đầu, thách thức ngày một
lớn hơn đối với tồn tại ngƣời. Yêu cầu bây giờ phải tìm lại cái phần thiếu xót kia
mới mong mơ mộng tới một chân lý hoàn toàn.
Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh vô cùng đồ sộ, những
công trình ấy hầu nhƣ đã bóc trần đƣợc hầu hết các mặt, cạnh, góc của chủ nghĩa
hiện sinh trên phƣơng diện văn bản học. Thực tế thì chủ nghĩa hiện sinh là một:
hình thức dấn thân của tự do mà sự biểu hiện của nó chính là một sự lựa chọn
của riêng mình.
Với những lý do trên đây tôi chọn đề tài “Tƣ tƣởng triết học của J. P. Sartre
trong tác phẩm “Ruồi” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. (Kịch “Ruồi” đã
đƣợc dịch giả Châu Diên dịch và năm 2006 đƣợc nhà xuất bản sân khấu phát
hành).
2. Tình hình nghiên cứu
Chủ nghĩa hiện sinh nói chung và triết học hiện sinh của J. P. Sartre nói
riêng đã đƣợc đông đảo các học giả trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam biết tới.
Tuy nhiên ở nƣớc ta do đặc thù chính trị, những tác phẩm của Sartre trong một
thời gian dài của lịch sử chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Gần đây do yêu cầu của
thời ký đổi mới, hội nhập với nền văn hóa thế giới đã đƣợc quan tâm nghiên cứu
rộng hơn, vì vậy các tác phẩm của Sartre hầu nhƣ đã đƣợc dịch hết sang tiếng
Việt.
Trần Thái Đỉnh trong tác phẩm “Triết học hiện sinh”(1967). Nxb Văn học,
2012 đã phân tích nhiều quan điểm về bản thể luận của J. P. Sartre. Với một ngòi
bút sâu sắc, với kinh nghiệm bản thân tác giả. Trần Thái Đỉnh coi J. P. Sartre là 6
một tác gia chƣớng nhất đƣơng thời. Theo tác giả, Sartre đã có một vũ trụ quan
vô thần, tất cả là phi lý. Các tƣ tƣởng căn bản của Sartre nhƣ “ Tha nhân ”, Dự
phóng”, “ Tồn tại tự nó” “Tồn tại cho nó”…đƣợc trình bày cô đọng có sức
cuốn hút trên cơ sở tính ý hƣớng (Dự phóng) nguyên lý căn bản của hiện tƣợng
học. Ngoài ra ông còn làm rõ hơn quan niệm về cái nhìn nhƣ là những vấn đề cơ
bản về tha nhân. Song, những quan niệm ấy đều là những mâu thuẫn không có
sự hoà hợp và kết luận “đời là những đam mê vô ích”.
Lê Thành Trị với: Lược khảo “Hiện tượng luận về hiện sinh” xuất bản năm
1974 đã tập trung vào những vấn đề cơ bản mà triết học J. P. Sartre quan tâm: Ý
thức, tha nhân, thƣợng đế…Lê Thành Trị khẳng định bản thể luận của Sartre đều
Tạp chí triết học số 11/2005 đăng tải bài viết của tác giả Đỗ Minh Hợp “
Tư tưởng đạo đức của J. P. Sartre”. Tác giả tập trung phân tích khái niệm về tự
do trên cơ sở coi hiện sinh là hƣ vô, là lựa chọn trong tình huống cụ thể. Đây là
nguyên lý cần quán triệt khi nghiên cứu tƣ tƣởng đạo đức học của J. P. Sartre.
Theo tác giả tự do là một lựa chọn và tạo nên những khả năng của mình, phân
biệt tồn tại với cái hiện hữu. Ông đã đƣa ra định nghĩa tự do là sự tự chủ lựa
chọn. Trong đó tự do gắn liền với trách nhiệm, phù hợp với lƣơng tâm. Tuy
nhiên trách nhiệm đó gắn với tồn tại của ngƣời là sợ hãi, lo âu trƣớc mỗi tự do
lựa chọn của mình. Tác giả đã phân biệt tự do theo nghĩa triết học và tự do theo
nghĩa luật học. Đây là những tƣ tƣởng cơ bản về đạo đức học của J. P. Sartre.
Đặng Hữu Toàn trong bài viết: “Về chủ nghĩa hiện sinh vô thần của J.
P.Sartre” in trong cuốn “Những vấn đề triết học phương tây thế kỷ XX” ( kỷ yếu
hội thảo quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007). Theo tác giả, J. P. Sartre
lấy tự do của con ngƣời làm trung tâm xuất phát điểm của mọi quan điểm về đạo
đức học, là phạm trù để phân biệt tồn tại ngƣời với cái hiện hữu. Tự do là bản
chất của mọi hành vi con ngƣời, hành vi khởi thuỷ của mọi tồn tại, là khả năng
tồn tại duy nhất của con ngƣời. Với tự do của mình con ngƣời tạo nên bản chất
của chính mình. Lựa chọn là khả năng vinh quang của con ngƣời hiện sinh, bởi 8
nó phân biệt tồn tại ngƣời với mọi cái hiện hữu trong vũ trụ. Nhƣng tự do chỉ là
điểm xuất phát của tồn tại ngƣời thông qua đó tiến hành các hoạt động thực tiễn
vì vậy tự do phải chịu trách nhiệm về hành vi đó.
Tập thể tác giả, Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh. Trong
cuốn sách mang tựa đề “Đại cương lịch sử triết học phương tây hiện đại cuối thế
kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX” (Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm
2008). Ngoài việc lƣợc khảo những quan niệm chính của J. P. Sartre về triết học
có trong các tác phẩm cơ bản nhƣ “ Buồn nôn”, “Tồn tại và thời gian”, “Chủ
nghĩa hiện sinh – đó là chủ nghĩa nhân đạo”, “Phê phán lý trí biện chứng”. Tập
Mục đích: Mục đích của luận văn là phân tích làm rõ những tƣ tƣởng triết
học cơ bản của J. P. Sartre trong tác phẩm “Ruồi”, từ đó đƣa ra đánh giá về
những giá trị và hạn chế của chúng.
Nhiệm vụ: Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn thực hiện nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội –văn hoá và tiền đề
lý luận cho sự hình thành tƣ tƣởng triết học của J. P. Sartre trong tác phẩm
“Ruồi”
Thứ hai, khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của J. P. Sartre và tác phẩm
“Ruồi”.
Thứ ba, làm rõ những nội dung tƣ tƣởng triết học cơ bản của J.P. Sartre
trong tác phẩm “Ruồi”.
Thứ tư, đƣa ra đánh giá những giá trị và hạn chế của tƣ tƣởng triết học J.P.
Sartre trong tác phẩm “Ruồi”.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, dựa trên sự biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội, dựa trên mối quan hệ thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. 10
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phƣơng pháp phân tích và
tổng hợp, phƣơng pháp logic và lịch sử, phƣơng pháp so sánh và một số phƣơng
pháp khác.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những tƣ tƣởng triết học cơ bản của J.
P. Sartre trong tác phẩm “Ruồi”.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, phân tích một số nội dung cơ bản của tƣ tƣởng triết
học J. P. Sartre trong tác phẩm “Ruồi” nhƣ: tƣ tƣởng bản thể luận, tƣ tƣởng đạo
những yếu tố tạo nên sự hình thành, phát triển của các tƣ tƣởng triết học. Tƣ
tƣởng triết học của J. P. Sartre cũng không đƣợc ra đời từ hƣ vô mà nó cũng
đƣợc hình thành trên cơ sở những học thuyết triết học khác của các bậc tiền bối
của ông nhƣ: S. Kierkegaard, M. Heidegger, K. Jaspers, E. Huserl và nhiều
trào lƣu triết học chống chủ nghĩa duy lý khác trong thời kỳ phát triển của triết
học phƣơng Tây hiện đại.
1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội – văn hoá cho sự hình thành tƣ
tƣởng triết học của J P. Sartre
Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội
Sự khủng hoảng của kinh tế - chính trị - xã hội với cuộc cách mạng khoa
học – kỹ thuật. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tƣ bản phƣơng
Tây bƣớc vào thời kỳ huy hoàng của nó. Cuộc cách mạng công nghiệp và sau đó
là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ - viễn thông đã làm thay đổi toàn bộ
nền sản xuất phƣơng Tây. Những thành quả về mặt kinh tế đã gây ảnh hƣởng
mạnh mẽ tới chính trị, văn hóa tƣ tƣởng của thời đại. Con ngƣời cơ hồ đƣợc sống
trong những lợi ích tiện nghi vật chất, không còn tình trạng đói ăn, thiếu mặc đe
doạ thƣờng ngày, cuộc sống đƣợc cải thiện rõ ràng. Nhƣng, những thành quả này
cũng không làm cho con ngƣời bớt khổ mà trái lại càng làm tăng thêm những
mâu thuẫn xã hội. Biểu hiện của những mâu thuẫn này là hai cuộc chiến tranh 12
thế giới thứ nhất và thứ hai. Đấu tranh chính trị, đấu tranh văn hóa cũng rầm rộ
nổ ra ở Mỹ, Pháp Cũng trong điều kiện xã hội nhƣ vậy nhiều trào lƣu triết học
đã ra đời để chống lại chủ nghĩa duy lý đã lâm vào khủng hoảng nhƣ: Triết học
hiện sinh tin lành của S. Kierkegaard, triết học đời sống của Bergson, Nietzsche,
chủ nghĩa nhân vị, phân tâm học Freud. Nhƣ một lời phản kháng mạnh mẽ về
tồn tại xã hội đƣơng thời, chủ nghĩa hiện sinh đi vào cuộc sống con ngƣời thành
một quy luật tất yếu. Con ngƣời nhận ra tính phi nhân tính của lịch sử khi mà
những mâu thuẫn xã hội không thể nào điều hoà đƣợc. Cơ cấu xã hội bị đảo lộn,
Cùng với chức năng cơ bản của nhà nƣớc là duy trì sự ổn định bình thƣờng cho
cá nhân và xã hội thì nay cái mà nhà nƣớc quan tâm hơn cả là tập trung sự đàn
áp mạnh mẽ hơn. Các tƣ tƣởng bị thu hẹp trong một bầu không khí u uất và lệ
thuộc vào chính trị độc tài để biến hầu hết các triết gia phải quan tâm tới vấn đề
chính trị. Ở triết gia lúc này đều nhấn mạnh tới việc cần thiết phải xây dựng một
nhà nƣớc mở rộng và gia tăng sức mạnh. Nhà nƣớc ngày càng có một bộ máy
quan lại chuyên nghiệp đƣợc trang bị hiện đại bằng công nghệ. Tạo thành một hệ
thống thông tin – tuyên truyền cực mạnh và hậu quả là một làn sóng phong trào
sùng bái thần tƣợng ngày càng lên cao. Nhà nƣớc có cảm tƣởng nhƣ là nuốt chọn
con ngƣời. Dân chủ và tự do trở thành một sự lố lăng, vô nghĩa. Khẩu hiệu đặt ra
bây giờ là phải phá bỏ những thành trì bao quanh con ngƣời biến con ngƣời
thành những bức tƣợng vô tri, mọi luân lý phải đƣợc suy tƣ lại để hợp với thời
đại, cần phải thiết lập lại một trật tự mới.
J. P. Sartre viết Vở kịch „„Ruồi‟‟ trong lúc quân Pháp bị quân đội Đức đánh
bại năm 1940, quân Đức tràn sang lãnh thổ Pháp bắt chính phủ Pháp phải ký
hiệp định ngừng chiến, chia nƣớc Pháp thành hai miền: miền bắc nằm dƣới sự
kiểm soát của chính phủ Đức, miền nam( tự do) do chính phủ Pháp bại trận lúc
đó quản lý. Nhƣng đến tháng mƣời một năm 1942 khi quân đội đồng minh đổ bộ
lên đất châu Phi, thì quân đội Đức bao vây và xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Pháp,
chính phủ Philippe Petain chịu làm bù nhìn cho quân đội ngoại xâm Đức. Cuộc
chính biến này dẫn tới hậu quả vô cùng thảm hại cho nhân dân Pháp: 220 000 14
ngƣời bị bắt đi trại tập trung, 750 000 ngƣời bị cƣỡng bức làm thợ không công
cho nền kỹ nghệ Đức, 10 000 ngƣời bị xử bắn. Tất cả nền kinh tế Pháp bị chi
phối, hoàn toàn phục vụ cho chính quyền Đức. Đứng trƣớc hoàn cảnh ấy nƣớc
Pháp sống trong một không khí vô cùng sôi sục. Lòng căm thù với thế lực ngoại
xâm lên cao. Phong trào chống Đức diễn ra sôi động với nhiều loại hình khác
nhau trong đó có lĩnh vực văn hóa, tƣ tƣởng
Các khoa học nhân văn ra đời đều hƣớng nhãn quan của mình vào con
ngƣời. Coi con ngƣời là một kho tài nguyên vô tận không bao giờ cạn. Khoa học
xã hội và nhân văn đã phát hiện nên nhiều hạng ngƣời khác nhau trong xã hội
nhƣ: Ngƣời tự do, ngƣời nổi loạn…việc đi vào những con ngƣời này không phải
là một việc làm dễ dàng bởi bản thân con ngƣời đã mang bản tính phức tạp. Một
chiều hƣớng mới đƣợc thiết lập, đó là lấy chính mình làm đối tƣợng tƣ duy của
chính mình, làm nhƣ một việc khôn ngoan mà không phải con ngƣời bình
thƣờng nào cũng làm đƣợc. Cái tinh thần trong con ngƣời đƣợc đem ra truy vấn
dƣới những miền ƣu tƣ của chính mình. Đối tƣợng đã đƣợc Sorates khuyến
khích từ thời cổ đại “ Hãy tự nhận thức bản thân mình” đã có đất sống trong thời
kỳ hiện đại này.
Những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và văn hoá trên đây đã làm cho
ý thức xã hội của con ngƣời phƣơng Tây hiện đại phản tƣ theo nhiều hƣớng khác
nhau. Trong đó, triết học đời sống, hiện tƣợng học và triết học hiện sinh của M.
Heidegger và K. Jasper đóng vai trò là những nguần gốc trực tiếp cho sự ra đời
và phát triển của tƣ tƣởng triết học J. P. Sartre.
1.2. Tiền đề lý luận cho sự ra đời tƣ tƣởng triết học J. P. Sartre
Bất cứ trào lƣu triết học nào ra đời cũng có những cơ sở tƣ tƣởng của các
bậc tiền bối. Chủ nghĩa hiện sinh của J. P. Sartre nói riêng và cả phong trào hiện
sinh nói chung đều lấy con ngƣời làm trung tâm trong các tƣ tƣởng, học thuyết
của họ. Trong lịch sử triết học đã có vô số những nhà triết học quan tâm tới con
ngƣời mà tác giả tiêu biểu phải kể đến là Socrate. Triết gia cổ đại này đã nêu ra
mệnh đề có tính chất nhân loại là “ Tôi biết là tôi không biết gì cả”. Ông đã thừa 16
nhận những nghịch lý cần phải đƣợc hiểu của chính bản thân mình cũng đang
chứa chất trong đó đòi hỏi phải đƣợc làm rõ. Sự ra đời của triết học hiện sinh
hành động của J. P. Sartre phải kể tới ba nguần gốc tƣ tƣởng trực tiếp sau: Một
là,Triết học đời sống của A. Schopenhauer, F. Nietzsche, H. Bergson, W.
lƣợng; chúng là chất lƣợng thuần tuý. Chúng hoà hợp với nhau tới mức không
thể nói rằng chúng cấu thành một hay nhiều trạng thái. Thậm chí không thể
nghiên cứu chúng từ góc độ này mà không xuyên tạc chúng. Độ dài thời gian do
chúng sinh ra là độ dài thời gian mà những vòng khâu của nó không cấu thành
một tập hợp thuần tuý. Đây là một lập trƣờng có phần hơi hƣớng của học thuyết
Kant. Triết học của ông có một cái “ Tôi” tiên nghiệm hoạt động tự trị bên trong
của tồn tại ngƣời. “Có một sự thật hiển nhiên là tính tự phát sinh, tính năng động
nội tại, cái chế định tự do của ý thức và hành vi của chúng ta. Chúng ta tự do,
Bergson viết, khi hành vi của chúng ta xuất phát từ toàn bộ nhân cách của chúng
ta, khi chúng biểu thị nhân cách ấy, khi chúng có một sự tƣơng đồng không rõ
ràng với nó, một sự tƣơng đồng mà chúng ta thƣờng phát hiện ra giữa nghệ sĩ và
tác phẩm của ông ta”[7, 30]. Đƣờng hƣớng của tƣ duy là suy tƣ trên những cái
cụ thể của tồn tại, khi những lựa chọn xác định, cái không lặp lại… chỉ có hƣớng
nhƣ thế thì mới phát hiện đƣợc sự không lặp lại của hành động và thời gian khi
đó chúng ta nhận ra sự tự do đích thực. Trong một đƣờng hƣớng nhƣ vậy chúng
ta sẽ đả phá mọi tƣ duy nhân quả có trong khoa học và sự phủ định nó trong cuộc
sống nhân loại.
Trên nền tảng quan điểm về tự do A. Bergson đi tới thái độ phê phán với
vấn đề cơ bản của triết học trên cơ sở đó khảng định lập trƣờng triết học bản thể
luận của ông. Tác phẩm “ Vật chất và trí nhớ” là một cố gắng của ông nhằm đi
vƣợt lên nhất nguyên luận. Đối với A. Bergson thì cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ
nghĩa duy tâm đều là một sai lầm nhƣ nhau. Chủ nghía duy vật sai ở chỗ là đã
biến vật chất thành vật sinh ra trong chúng ta các biểu tƣợng, nhƣng lại khác với
chúng về bản chất của mình. Còn đối với chủ nghĩa duy tâm thì ngƣợc lại coi các
ý niệm, biểu tƣợng sinh ra những vật chất vô cơ, phi lý. Truyền thống triết học 18
đã sai lầm nhƣ vậy thì cần phải làm công tác sửa sai cho triết học. Ông khẳng
định vật chất và tinh thần đều cùng tồn tại, sự tồn tại song song ấy không siêu
hành phân tích khái niệm này. Theo sự phân tích đó thì “ Cuộc sống” là biện
chứng của vật chất và tinh thần. Nhƣng sự biện chứng này có phần đi vào chỗ
thần bí vì theo ông “Cuộc sống” là không thể nhận thức đƣợc đối với khoa học
nói chung. Cái bản chất nhất của “Cuộc sống” này chính là những vòng khâu
liên tục, nối tiếp nhau. Đó là những quá trình liên tiếp nhƣ một “Độ dài thời
gian” có động lực tạo ra bởi một “Khí thế sống” mãnh liệt.
Ông gọi trực giác là bản năng không có lợi ích thực tiễn, có ý thức với bản
thân, có khả năng suy tƣ về khách thể của mình, và mở rộng nó. Bản năng còn là
hình thức của trực giác đƣa ta vào vùng sâu của “Cuộc sống”. Nhƣng chính nhƣ
trên kia đã phân tích thì ông lại coi trực giác là một khả năng đặc biệt cho phép
ta đi vào sâu bên trong những bản chất, để hợp nhất với sự vật trong một bản thể
thống nhất. Nhƣ vậy là trực giác của ông là không mang một bản chất nào khẳng
định mà lại có những khả năng phủ định. Với vai trò phủ định nhƣ vậy thì thuyết
trực giác trở thành một công cụ luận chiến hơn là một phƣơng pháp, một đối
tƣợng mang tính chất khẳng định.
Tuy là một trực giác mơ hồ và đứt đoạn nhƣ một ngọn đèn đang tắt. Nhƣng
nhìn chung thì nó bùng lên chính vào thời điểm chúng ta nói tới những lơị ích
thiết thực của chúng ta. Trực giác là lộ ra cái “ Tôi” của chúng ta, tự do của
chúng ta, số phận của chúng ta. Tất nhiên nó có yếu ớt, lao đao. Bất chấp điều đó
thì học thuyết này của ông vẫn có tầm ảnh hƣởng mạnh mẽ đối với những quan
điểm hiện sinh. Đặc trƣng trong đó là quan niệm về tồn tại con ngƣời gắn bó
hữu cơ với giới tự nhiên. Ở đó con ngƣời không ngừng chia sẻ, khám phá thế
giới mà còn phải có trách nhiệm với vũ trụ này bằng một ý thức đong đầy khí
thế. 20
Triết học hiện sinh hành động của J. P. Sartre phát triển sau chiến tranh thế
giới thứ hai, đã tiếp thu ở những tƣ tƣởng của triết học đời sống. Tạo thành một
phong trào triết học đi vào những vấn đề quan trọng của tồn tại ngƣời.
nên con ngƣời với cái tôi tiên nghiệm tự thân. Thực chất của quá trình tự thân
này là một sự tổng hợp các kinh nghiệm cụ thể của sự vật cụ thể có trong thời
gian. Con ngƣời ấy có “Cái tôi nhân cách” nhƣ là một thuộc tính của thƣợng đế,
có tự do, có lý tính, có thể sáng tạo nên một thế giới phong phú và nhiều mầu
sắc. “Cái tôi nhân cách” là trung tâm của thế giới tinh thần của con ngƣời. Sau
khi xây dựng đƣợc một nhân cách con ngƣời cần thiết lập cho mình một thói
quen hay tập quán nhƣ một đặc tính cơ bản của tồn tại ngƣời. Có ý định xác lập
cho chủ thể một tập quán nhƣ một mắt khâu không thay đổi của chủ thể là một
việc làm đi tới cái ổn định trong nhận thức con ngƣời thì Husserl đã đi vào triết
học siêu hình. Cái siêu hình này lại còn mang tính chất thần bí khi ông coi toàn
bộ những cái tôi tiên nghiệm này còn có một cái tôi siêu nghiệm nữa nhƣ là đặc
tính chung của toàn bộ cái tôi tiên nghiệm.
Bên cạnh một “Cái tôi tiên nghiệm” còn có cái “Nhân ngã”(Thân xác) là
một cấu trúc quan trọng khác của toàn bộ tồn tại ngƣời. Thân thể là do “Cái tôi
thuần tuý” tạo nên. Thân thể hiện thân trong thế giới hiện thực, nó luôn thể hiện
vai trò của “Cái tôi thuần tuý”. Khi quan sát chúng ta thấy thân xác cũng chứa
những yếu tố vật lý. Thân thể là chủ thể của tính ý hƣớng đƣợc thể hiện qua sự
biểu đạt, hoạt động cảm giác, tạo động lực cho tính ý hƣớng, định hƣớng cho
quan hệ nhân quả. Trên cơ sở “Cái tôi tiên nghiệm” chúng ta thấy sự thống nhất
của tinh thần và thể xác. Là quan điểm sâu sắc của Husserl về nhân học hiện
tƣợng học.
Đạo đức học của E. Husserl
Kế tục những quan niệm Kant về lĩnh vực lý tính thực hành nhƣ là lĩnh vực
riêng biệt đƣợc sáng tạo dựa trên những quan hệ xã hội, là lĩnh vực của những
khả năng của chủ quan tính tạo nên trên cơ sở của ý chí tự do. Với lĩnh vực này 22
thì vấn đề đạo đức học hoàn toàn độc lập với vấn đề bản thể luận. Chủ thể tính là
những cá nhân tự do, tự quyết. Đạo đức thực sự có đƣợc là phải hoàn toàn thoát