Tư tưởng triết học của Lê Quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG VĂN THẢO
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA LÊ QUÝ
ĐÔN TRONG VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỘC
Người hướng dẫn: TS. TRẦN NGUYÊN VIỆT
HÀ NỘI - 2005

1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 11
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG LÊ QUÝ ĐÔN 11
1.1. Vài nét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp Lê Quý Đôn 11
1.2. Về tác phẩm “Vân đài loại ngữ” 23
1.2.1. Một số vấn đề về văn bản học của Vân đài loại ngữ 23
1.2.2. Khái quát nội dung của Vân đài loại ngữ 25

vực văn hoá khác nhau, trong đó có triết học. Trên cơ sở nghiên cứu thuộc
lĩnh vực tư tưởng triết học tự nhiên và xã hội, v.v., Lê Quý Đôn đã đưa ra một
số quan điểm triết học mà nhiều học giả quan tâm, tuy nhiên việc làm sáng tỏ
những quan điểm đó cho đến nay vẫn chưa được thực hiện cho xứng với tầm
vóc tư tưởng của ông.
Như chúng ta đã biết, từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu ở
những mức độ khác nhau về các tác phẩm của Lê Quý Đôn, song họ mới chỉ
tập trung xung quanh các vấn đề như văn học, lịch sử, địa lý, v.v., của ông,
mà rất ít người tập trung khảo cứu tư tưởng triết học trong các tác phẩm đó.
Khi tìm hiểu tư tưởng của Lê Quý Đôn, chúng tôi thấy Vân đài loại ngữ là
một tác phẩm bao hàm nhiều vấn đề triết học nhất, đồng thời cũng gây cho
chúng tôi nói riêng, và bất kỳ độc giả nào nói chung sự tò mò, rằng trong các
mệnh đề mà Lê Quý Đôn đưa ra có điểm gì khác biệt so với tư tưởng các nhà
triết học phương Đông trước đó phát biểu về bản thể của vũ trụ? Vai trò và ý
nghĩa của các mệnh đề đó như thế nào đối với sự phát triển của tư duy triết học
Việt Nam thời bấy giờ cũng như hiện nay?
Mặt khác, việc nghiên cứu cơ bản về tư tưởng triết học của dân tộc ta
trong lịch sử là việc làm cần thiết không chỉ khơi dậy niềm tự hào dân tộc, mà
còn góp phần vào việc giao lưu văn hoá với các nước trong khu vực và thế
giới. Vì vậy, thứ nhất, để góp phần nhỏ bé của mình vào lĩnh vực nghiên cứu
tư tưởng dân tộc, và thứ hai, để phục vụ tót hơn công tác chuyên môn, tôi

3
quyết định chọn “Tư tưởng triết học của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại
ngữ” làm đề tài cho luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có một số công trình viết về Lê Quý Đôn theo nhiều
phương diện khác nhau. Có thể phân định sơ bộ các nhóm nghiên cứu theo
chủ đề và mục đích riêng. Nhóm thứ nhất là những công trình tập trung giới
thiệu thân thế và sự nghiệp của Lê Quý Đôn. Nhóm thứ hai đề cập đến một

chúng tôi muốn chia sẻ là cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa về Lê Quý Đôn
thì mới thấy hết được những quan niệm triết học của ông. Nói tóm lại, phần
trình bày về Lê Quý Đôn trong công trình này đã giúp người đọc có định
hướng chính xác khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn trên nhiều lĩnh vực khác
nhau mà chính nhà tư tưởng này quan tâm.
Công trình thứ hai là Lê Quý Đôn và học thuyết “lý”, “khí” của GS.
Cao Xuân Huy trong “Tư tưởng phương đông gợi những điểm nhìn tham
chiếu” do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1995 cũng là một công trình rất
sâu sắc về những quan điểm triết học tự nhiên của Lê Quý Đôn. Bài viết đã
trình bầy rất cụ thể quan điểm của Lê Quý Đôn về vấn đề bản thể của thế giới,
vũ trụ. Hơn nữa tác giả còn chỉ rõ nguồn gốc xuất phát tư tưởng của Lê Quý
Đôn, chỉ rõ những điểm hạn chế và tiến bộ của ông so với các nhà nho cùng
thời. Tác giả đã đánh giá khuynh hướng tư tưởng của Lê Quý Đôn rất xác
đáng, đó là sự thể hiện của chủ nghĩa hỗn hợp nguyên thuỷ. Tuy nhiên, bài
viết chủ yếu mang tính giới thiệu nhiều hơn là đánh giá, phân tích. Trong đó,
người đọc cũng không nhận rõ được khuynh hướng “Tam giáo đồng nguyên”
trong tư tưởng của Lê Quý Đôn. Các vấn đề khác cần được xem xét dưới lăng
kính triết học như: vấn đề con người, vấn đề chính trị, xã hội, v.v., chưa được
tác giả đề cập tới.
Công trình thứ ba là Lê Quý Đôn, nhà tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVIII
của GS. Hà Thúc Minh do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1998, tái bản

5
lần thứ nhất năm 1999. Đây là công trình nghiên cứu khái quát về Lê Quý
Đôn trên mọi phương diện, từ thân thế, sự nghiệp, những tác phẩm tiêu biểu
cho đến tư tưởng của Lê Quý Đôn. Tác giả đã trình bày những tư tưởng chính
trị xã hội, triết học của Lê Quý Đôn và đã giúp cho độc giả có cái nhìn khái
quát nhất về quan điểm, lập trường, khuynh hướng tư tưởng của ông. Tác giả
đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau ở các tác phẩm “Quần thư khảo
biện”, “Thư kinh diễn nghĩa”, “Kiến văn tiểu lục”, “Vân đài loại ngữ”, v.v.,

Lê Quý Đôn.
Trong bài viết của mình, tác giả luôn khẳng định Lê Quý Đôn là một
học giả lớn trên mọi lĩnh vực từ văn, sử, địa đến triết học. Trong hai bài viết
của mình, tác giả chỉ chủ yếu đề cập đến cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý Đôn
đúng như tên bài viết, đồng thời trình bày khái quát những quan điểm triết học
của Lê Quý Đôn thông qua việc giải quyết mối quan hệ giữa Lý và Khí cũng
như về cuộc đời hoạt động chính trị của ông. Theo Gs Văn Tân, “Quan niệm
triết học của Lê Quý Đôn không thể vượt ra ngoài quan niệm triết học của
Tống Nho”. Điều đó hoàn toàn chính xác, song, theo chúng tôi ngoài sự kế
thừa các tư tưởng đó, Lê Quý Đôn cũng có những quan điểm riêng của mình
về những vấn đề mà ông thu thập được từ triết học Tống Nho. Nói cách khác,
Lê Quý Đôn tuy xuất phát từ triết học Tống Nho, cụ thể là triết học Trình,
Chu nhưng ông lại có cách giải quyết rất riêng của mình, điều đó được thể
hiện khá rõ nét trong Vân đài loại ngữ. Lê Quý Đôn đã sử dụng rất nhiều
quan điểm của các nhà tư tưởng phương Tây để chứng minh quan điểm của
mình chứ ông không hoàn toàn phụ thuộc vào Tống Nho. Chúng ta đều biết,
các nhà nho thời Tống khi giải quyết mối quan hệ giữa Lý và Khí dù theo
hướng duy vật như Trương Tải hay duy tâm khách quan như Nhị Trình, Chu
Hy, thì mục đích cuối cùng của họ đề cao những giá trị đạo đức truyền thống
của Nho giáo như Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí lên ngang với Nguyên, Hanh, Lợi,

7
Trinh của trời đất, coi đó là quy luật phổ biến chung, khách quan của xã hội
loài người.
Đọc Vân đài loại ngữ chúng ta thấy Lê Quý Đôn luôn chủ trương
chứng minh tính thống nhất của thế giới ở Khí chứ không phải ở những giá trị
đạo đức của Nho giáo. Đó là quan điểm duy vật về bản thể của thế giới và cũng
chính là điểm khác biệt của Lê Quý Đôn so với phái Tống Nho Trình Chu.
Hơn nữa, các nhà Nho luôn quán triệt nguyên tắc Nhân trị, Đức trị,
nhưng Lê Quý Đôn lại cho rằng, phải kết hợp Nhân trị với Pháp trị, thậm chí

đánh giá đúng nội dung tư tưởng của Lê Quý Đôn, chúng tôi vẫn cho đó là
công trình có ý nghĩa khoa học đáng trân trọng, nó thể hiện thái độ nghiêm
túc và đúng đường lối của những người nghiên cứu khoa học nói chung và
lịch sử triết học nói riêng.
Ngoài ra còn có những bài viết của GS, TS. Nguyễn Tài Thư “Tư tưởng
Lê Quý Đôn và khuynh hướng tư tưởng của thời đại ông”, “Lê Quý Đôn trong
lĩnh vực tư tưởng của dân tộc ở thế kỷ XVIII”, “Lê Quý Đôn, nhà tư tưởng
Việt Nam thế kỷ XVIII” được đăng tải trên tạp chí Triết học, cũng là những
nguồn tư liệu quan trọng khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn.
Những tài liệu trên đây là nguồn tư liệu rất quý giá. Trong quá trình thực
hiện luận văn, chúng tôi đã tham khảo, sử dụng những tư liệu đó để cho luận
văn của mình hoàn thiện hơn. Tuy vậy, số lượng sách, công trình, bài viết về
tác phẩm Vân đài loại ngữ còn ít, chưa thực sự xứng với tầm của tác giả và tác
phẩm. Mặt khác những bài viết đó cũng chưa trình bày một cách có hệ thống
và chưa nêu bật được những tư tưởng triết học cơ bản của Lê Quý Đôn như
vấn đề bản thể vũ trụ, về con người, về vấn đề chính trị xã hội, v.v Do vậy,
chúng tôi thấy ngoài việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người
đi trước, bản thân cần cố gắng khắc phục khó khăn về ngôn ngữ Hán Việt, để ở
khả năng có thể của mình đưa ra những nhận xét và đánh giá thoả đáng về một
số tư tưởng triết học cơ bản của Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ.

9
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn
Luận văn làm rõ những quan điểm triết học của Lê Quý Đôn được thể
hiện trong tác phẩm Vân đài loại ngữ, qua đó chỉ ra vị trí, vai trò của ông
trong tiến trình lịch sử tư tưởng của dân tộc.
- Nhiệm vụ
+ Luận văn trước hết phải làm rõ những tiền đề cho sự hình thành các
quan điểm triết học của Lê Quý Đôn.

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ góp một phần nhỏ cho việc đáp ứng những đòi
hỏi khi nghiên cứu về Lê Quý Đôn nói riêng, cũng như cho việc nghiên cứu
hiện nay về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
chia làm 2 chương, 4 tiết.
11
Chƣơng 1
SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG LÊ QUÝ ĐÔN
1.1. Vài nét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp Lê Quý Đôn
Lê Quý Đôn tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, sinh năm 1726, quê ở
làng Duyên Hà, tỉnh Thái Bình. Thân phụ Lê Quý Đôn là Lê Trọng Thứ, đỗ
tiến sĩ năm giáp thìn 1724, làm quan Hình bộ thượng thư và được phong tước
hầu. Mẫu thân ông là người họ Trương quê ở Hà Nam. Ngay từ nhỏ Lê Quý
Đôn đã nổi tiếng thông minh. Các sách chép về ông có nhiều truyền thuyết:
hai tuổi đọc được chữ Hữu và chữ Vô, năm tuổi đọc được Kinh Thi, mười
tuổi học sử và Kinh Dịch, mười bốn tuổi học hết Ngũ kinh, Tứ thư, sử truyện
và cả Chư tử.
Năm 1739, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở Thăng Long, đến năm 1743
ông đỗ giải nguyên. Năm 1752, ông đỗ Bảng nhãn, được cử giữ chức Thụ thư
ở viện Hàn lâm. Năm 1754 được cử vào ban Toản tu quốc sử, năm 1756 đi
liêm phóng ở trấn Sơn Nam và ông đã phát hiện được nhiều vụ hối lộ. Cùng
năm này, ông được đổi sang phủ chúa Trịnh trông coi việc phiên binh. Tháng
tám năm đó ông được cử đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang,
Hưng Hoá…, đem quân đi dẹp khởi nghĩa của Hoàng Công Chất, lập được
nhiều chiến công. Năm 1757, được thăng lên chức Thị giảng Hàn lâm viện.

Năm 1768 ông làm xong bộ Toàn Việt thi lục dâng lên cho chúa Trịnh và
được thưởng hai mươi lạng bạc. Tháng 9 năm 1768, ông được cử làm Tán lý
quân vụ cùng với Phan Phái Hầu đem quân đi đánh Lê Duy Mật, Lê Đình Bản
ở Thanh Hoá. Lê Quý Đôn đã đại phá quân Lê Đình Bản ở Đồng Cổ. Năm
1769, Lê Quý Đôn thống lĩnh hơn 9000 quân Kinh và Thổ hợp sức với quân
Nghệ An buộc Lê Đình Bản phải đầu hàng, Lê Duy Mật phải tự tử. Nhờ có
công đánh dẹp Lê Duy Mật nên ông được thăng chức Thị phó đô ngự sử.
Năm 1770 ông lại được thăng chức Công bộ hữu thị lang.

13
Năm 1772, được cử đi điều tra tình hình thống khổ của nhân dân và
những việc tham nhũng của quan lại ở Lạng Sơn. Ông đã báo cho chúa Trịnh
biết những việc tham nhũng của viên đốc trấn Lê Doãn Thân, chúa Trịnh đã
bãi chức viên quan này. Cũng năm đó, dưới sự sắp đặt của Trịnh Sâm, Lê
Quý Đôn cùng với Nguyễn Đình Huấn đã hại Huy Mật bị bãi chức.
Năm 1773, hoạn quan Trần Huy Đỉnh được cử giữ chức Thư phủ sự
phủ chúa Trịnh (tể tướng), còn Lê Quý Đôn được thăng lên chức Bồi tụng
trong phủ chúa. Theo “Việt sử thông giám cương mục”, thời gian này Lê Quý
Đôn cấu kết chặt chẽ với Huy Đỉnh, được Huy Đỉnh dìu dắt cùng làm việc, vơ
vét của cải, không việc gì không làm, quyền lực bao trùm triều đình, lấn át
quyền vua Lê, gây oán hận trong nhân dân. Tháng 5 năm ấy, hoạn quan
Nguyễn Phương Đình, Xuân quận công Nguyễn Nghiễm và Lê Quý Đôn
được lệnh đốc suất việc làm hộ tịch. Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Phương Đình
chỉ làm lấy lệ, còn Lê Quý Đôn kê cứu, tra xét quá khắt khe, nghiêm khắc nên
nhân dân rất oán hận ông. Họ làm thư nặc danh dán ở phủ chúa, xin bãi bỏ Lê
Quý Đôn và dùng Hoàng Ngũ Phúc. Chúa Trịnh đã phải để cho Ngũ Phúc
cùng làm với Lê Quý Đôn.
Năm 1774, Lê Quý Đôn được lệnh đi đo đạc ruộng đất ở Sơn Nam.
Cùng năm đó, Trịnh Sâm thân chinh mang quân đi đánh Thuận Hoá, Lê Quý
Đôn cùng Nguyễn Đình Thạch, Nguyễn Hoãn, Nguyễn Đình Huân được cử

học, địa lý, chú giải kinh điển…
Về Sử học, ông có tác phẩm: Đại việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Bắc
sứ thông lục, Kiến văn tiểu lục.
Đại Việt thông sử là bộ lịch sử nước Đại Việt do Lê Quý Đôn biên soạn
mở đầu từ cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi ở Lam Sơn từ năm 1418 đến năm
1433. Theo “Lịch triều hiến chương loại chí” quyển 42, của Phan Huy Chú,
thì Đại Việt thông sử có 30 quyển nhưng hiện nay chỉ còn lại 3 tập với một
bài tựa của tác giả viết năm 1749. Đại Việt thông sử gồm bốn phần: Đế kỷ,

15
Nghệ văn chí, Liệt truyện (hậu phi, hoàng tử, công thần, gian nghịch), và họ
Mạc.
Phủ biên tạp lục là tập bút ký của tác giả viết về Đàng Trong, nhất là
xứ Thuận Hoá và xứ Quảng Nam từ thế kỷ XVIII về trước. Tác phẩm gồm 6
quyển, được viết trong thời gian 6 tháng khi ông giữ chức Hiệp trấn tham tán
quân cơ phủ Thuận Hoá. Tác phẩm còn có bài tựa của tác giả đề ngày rằm
tháng tám năm 1776, một bài bạt của Ngô Thì Sĩ đề ngày 1 tháng 10 năm
1777. Tác phẩm gồm các chương: Lịch sử khai thác hai xứ Thuận, Quảng;
Núi sông, thành luỹ, đường sá…; Ruộng công, ruộng tư, số lượng sản phẩm,
thuế má…; Thượng du, biên phòng, thuế chợ, thuế mỏ…; Nhân tài, thơ văn;
Phẩm vật, phong tục. Trước Lê Quý Đôn, chỉ có Dương Văn An đời Mạc với
tác phẩm Ô châu cận lục viết về núi sông, phẩm vật, thành quách xứ Thuận
Hoá. Nhưng đến tác phẩm này thì tình hình núi sông, phong thổ, tập quán của
xứ Thuận mới được giới thiệu kỹ càng hơn. Sau này, các sử thần đời Nguyễn
khi biên soạn “Đại Nam thực lục tiền biên” đã sử dụng những tư liệu của Phủ
biên tạp lục.
Bắc sứ thông lục là tác phẩm tập hợp các tài liệu trong thời gian ông đi
sứ Trung Quốc từ năm 1760 đến năm 1762 như những bài tấu, khải, truyền
báo, ghi chép về núi sông, đường sá, phong tục… Ở những nơi mà phái đoàn
đi qua. Tác phẩm gồm 4 quyển, có bài tựa của tác giả đề năm 1780. Phần cuối

Huy Bích và sự tham gia hiệu đính của các học trò Lê Quý Đôn.
Quần thư khảo biện gồm 2 quyển, có bài tựa của tác giả đề ngày 1
tháng tám năm 1757, một bài của Chu Bội Liên, một của Tần Triều Vu, một
bài của Hồng Khải Hi, một lá thư ngắn của Hồng Khải Hi, một lá thư ngắn
khác của Lý Huy Trung. Quần thư khảo biện gồm 223 sự kiện khác nhau
trong lịch sử Trung Quốc từ đời Hạ Thương Chu cho đến nhà Minh, được tác
giả nêu ra và bình luận, đánh giá, sau mỗi sự kiện là lời bình của Chu Bội
Liên và Tần Triều Vu. Tác phẩm thể hiện được quan điểm của Lê Quý Đôn

17
về các vấn đề chính trị xã hội, hay nói cách khác, đó là tập hợp tư tưởng triết
học xã hội của ông.
Trong số các sáng tác đó, đặc biệt hơn cả là tác phẩm Vân đài loại ngữ,
tác phẩm tập hợp được rất nhiều kiến thức khác nhau như triết học, sử học,
văn học, địa lý, v.v., cho đến cả những phong tục tập quán, sản vật tự nhiên,
v.v Trong tác phẩm này Lê Quý Đôn đã trình bầy những quan điểm triết học
tự nhiên, triết học xã hội, một cách tương đối đầy đủ, điều mà cho đến thời
bấy giờ chưa có một nhà tư tưởng Việt Nam nào làm được.
Ngoài ra còn rất nhiều tác phẩm khác của Lê Quý Đôn được nói tới
trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Duyên Hà phả ký,
v.v Tuy nhiên, những sách đó hoặc là bị thất lạc, hoặc là của người khác
được gán cho Lê Quý Đôn.
Về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam Thế kỷ XVIII có nhiều
biến động. Đây là thời kỳ Đại Việt vẫn bị chia cắt làm hai miền. Đàng Trong
thuộc các chúa Nguyễn và Đàng Ngoài thuộc vua Lê-chúa Trịnh. Hậu quả của
sự khủng hoảng chế độ phong kiến và sự chia cắt hai miền từ thế kỷ XVI,
XVII đã ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thế kỷ
XVIII. Nạn tư hữu ruộng đất ở Đàng ngoài ngày càng gia tăng, ruộng đất
công ngày càng bị thu hẹp, xuất hiện hàng loạt địa chủ có hàng trăm, hàng
nghìn mẫu ruộng, trong khi đó nông dân lại không có ruộng đất để cày cấy.

của xã hội Đàng ngoài. Tuy thất bại nhưng các phong trào này đã buộc chính
quyền Lê-Trịnh phải có chính sách điều chỉnh cho phù hợp nhằm xoa dịu tình
hình lúc đó. Chẳng hạn, Trịnh Sâm ban bố 7 điều cấm vào năm 1773, phát chẩn
cứu đói cho Nghệ An năm 1777, v.v Tuy nhiên, những chính sách đó chỉ
mang tính nhất thời, cho nên nó không cứu vãn nổi tình hình. Tình trạng dân
nghèo không có đất sản xuất phải bỏ làng ra đi phiêu tán ngày một tăng lên.
Trong khi đó bộ máy cai trị lại mục nát đến cực độ, sự tranh giành
quyền lực, kèn cựa, tham ô, tham nhũng trong bộ máy quan lại ngày một

19
nhiều, nhất là từ khi Trịnh Sâm lên cầm quyền năm 1767. Khi mới lên cầm
quyền, Trịnh Sâm đã hạ ngục em mình là Trịnh Đệ, giết hại Thái tử Lê Duy
Vĩ, sủng ái Đặng Thị Huệ, dung túng Đặng Mậu Lân tung hoành ngang
ngược…Do ăn chơi hoang dâm vô độ, truỵ lạc nên chưa đầy 40 tuổi Trịnh
Sâm đã bị bệnh, mọi việc chính quyền đều do Đặng Thị Huệ và Hoàng Đình
Bảo định đoạt. Sau khi Trịnh Sâm chết, lại xảy ra cuộc chiến tranh giành
quyền lực giữa Trịnh Cán và Trịnh Khải. Khi Trịnh Khải giành được chính
quyền, phế Trịnh Cán, giết Hoàng Đình Bảo thì ở Đàng ngoài lại xảy ra nạn
kiêu binh. Cục diện chính trị Đàng ngoài đến thời điểm này hết sức rối loạn,
chính quyền Lê-Trịnh không còn đủ khả năng để ổn định tình hình.
Trong lúc đó ở Đàng trong tình hình chính trị, kinh tế, xã hội vẫn tương
đối ổn định cho đến giữa thế kỷ XVIII. Khi phong trào nông dân ở Đàng
ngoài chấm dứt, thì ở Đàng trong nông dân mới bắt đầu nổi dậy mạnh mẽ, còn
trước đó chỉ là những phong trào nhỏ, lẻ tẻ. Đến năm 1770, khi phong trào
đấu tranh do anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nổ ra
thì phong trào nông dân Đàng trong mới thật sự phát triển mạnh. Điểm đáng
chú ý là trong khi các phong trào đấu tranh ở Đàng ngoài đều thất bại thì
phong trào nông dân do anh em họ Nguyễn ở Tây Sơn lãnh đạo đã thắng lợi,
lật đổ chính quyền chúa Nguyễn.
Trên đà thắng lợi, Nguyễn Huệ đem quân tiến ra Bắc Hà với danh

Xét lĩnh vực tư tưởng, thì đây là thời kỳ mạnh nhất của xu hướng “Tam
giáo đồng nguyên” trên cơ sở đề cao Nho giáo, nó trở thành xu hướng giữ vị
trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội. Đây là thời kỳ có sự chuyển
biến mạnh trong lĩnh vực tư tưởng, Phật giáo từ thời Lê Sơ đã bị mất vai trò
chính trị, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng độc tôn. Tuy nhiên, từ cuối đời Lê,
Nho giáo đã thể hiện sự bất lực của nó trước các vấn đề của xã hội. Trước
cảnh đất nước loạn lạc, các nhà nho chỉ mong muốn làm cho đất nước thống
nhất, xã hội yên vui nên họ để tâm đi tìm nguồn gốc của loạn lạc, đưa ra chủ

21
trương, đường lối trị nước của mình nhưng không có kết quả. Đất nước vẫn bị
chia cắt. Cho nên, lúc này lý luận về đường lối trị nước của giai cấp phong
kiến dựa trên uy tín học thuật và đường lối Đức trị của Nho giáo bị rơi vào
khủng hoảng trầm trọng nhất. Từ đó người ta phải lục tìm trong kho tàng tư
tưởng quá khứ xem phải vận dụng các học thuyết chính trị như thế nào cho
thích hợp, vì thế khuynh hướng kết hợp Nho, Phật với Lão Trang vốn có ở
những mức độ khác nhau trước đây, vào thế kỷ XVIII đã trở nên mạnh mẽ mà
các học giả gọi đó là khuynh hướng “Tam giáo đồng nguyên” trên cơ sở Nho
giáo giữ vị trí chủ đạo.
Phật giáo tuy bị đẩy ra khỏi chính trường nhưng nó vẫn được tiếp tục
phục hồi và phát triển. Đặc biệt, ở nông thôn, chùa mọc lên ở nhiều nơi, nhà
chùa có kinh tế riêng. Bên cạnh đó, Đạo giáo cũng đã được truyền bá rộng rãi,
nhiều đạo quán được xây dựng, rất nhiều nho sĩ tin theo Đạo giáo.
Cũng trong thời kỳ này, ngoài các tôn giáo được du nhập từ lâu vào
nước ta, trở thành những tôn giáo truyền thống, còn có một tôn giáo từ
phương Tây đang nỗ lực truyền vào nước ta là Đạo Thiên chúa. Bối cảnh xã
hội phức tạp, đầy biến động như đã nói ở trên vô hình chung trở thành điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển của tôn giáo này ở cả hai Đàng.
Cùng với các tôn giáo trên, tín ngưỡng bản địa của dân tộc có dịp được
hưng khởi. Trong bối cảnh loạn lạc như vậy, thêm vào đó là sự suy giảm vị trí

Đôn đã trở thành một nhà bác học kiệt xuất của dân tộc. Trong di sản đồ sộ
của ông để lại thì Vân đài loại ngữ chứa đựng những suy tư triết học sâu sắc
hơn cả. Những suy tư triết học của Lê Quý Đôn cũng không thể vượt ra khỏi
khuynh hướng hỗn dung đa nguyên trên cơ sở Nho giáo giữ vai trò chủ đạo
của thế kỷ này được. Do vậy, trong tư tưởng và hành động của ông, chúng ta
thấy có chỗ ông thể hiện mình như một nhà nho, nhưng chỗ khác ông lại tỏ ra
một người có biệt tài trong lĩnh vực phong thuỷ, bói toán, đoán mệnh, v.v Có
nhà nghiên cứu đã đánh giá tư tưởng của ông thuộc chủ nghĩa hỗn hợp

23
nguyên thuỷ. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu khi ta biết được hoàn cảnh thời
đại mà ông sống. Bộ Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn cũng được hình thành
trong hoàn cảnh đó, do vậy, những tư tưởng triết học trong tác phẩm này cũng
thể hiện tâm thế đó của ông, làm cho ông có những tư tưởng rất riêng và đặc
sắc.
1.2. Về tác phẩm “Vân đài loại ngữ”
Vân đài loại ngữ là tác phẩm được viết trong thời gian dài, trong đó tập
hợp một khối lượng kiến thức phong phú mà Lê Quý Đôn đọc được ở nhiều
sách vở khác nhau. Tác phẩm được hoàn thành năm 1773. Vân đài loại ngữ
nghĩa là những lời nói thu thập được tại nơi chứa sách và được sắp xếp theo
từng loại. Trong lời tựa do tác giả viết ở đầu sách đã chỉ rõ: “Tôi nhân đọc
sách mà trộm dòm thấy người thời xưa học hỏi đều như thế cả; thường tôi
trích lấy các sự tích chép trong các Truyện, Ký, rồi xếp đặt lại, có chỗ theo ý
mình mà bình luận, có chỗ cứ chép lại nguyên văn, tích lâu thành bộ sách,
chia làm chín quyển đặt tên là Loại ngữ” [5, tr. 46]
(*)
.
1.2.1. Một số vấn đề về văn bản học của Vân đài loại ngữ
Tác phẩm gốc Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn được viết bằng chữ
Hán đến nay mới có hai bản dịch đã được in. Một là bản của Trần Văn Giáp

tập hợp lại và được xếp theo chữ cái, sau mỗi chủ đề đều chú thích rõ các số
hướng dẫn về từng loại, từng điều mục. Nhờ có sự hướng dẫn này mà người
đọc dễ dàng tra cứu những điều cần thiết.
Đồng thời trong bản dịch này, học giả Cao Xuân Huy đã viết bài giới
thiệu rất kỹ về tác phẩm, do vậy người đọc ở mức độ nhất định có thể hình
dung ra kết cấu, nội dung tư tưởng mà Lê Quý Đôn trình bày trong đó.
Bản dịch của Tạ Quang Phát thì tuân theo nguyên bản, không chú thích
từng điều mục trong 9 môn loại, do vậy khi đọc rất khó phân biệt giữa các
điều với nhau. Hơn nữa, trong bản dịch có những ký hiệu có thể là mang tính
nguyên bản mà người dịch không giới thiệu (ví dụ như: trong mục Lý khí có
ký hiệu [8b], [9b], [11a]…) làm cho người đọc không biết được ý nghĩa của
những ký hiệu đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status