ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN TRUNG KIÊN
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ
VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO VIỆC XÂY DỰNG
NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN TRUNG KIÊN
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ
VÀ VẬN DỤNG MỘT SỐ TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO VIỆC XÂY DỰNG
NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
: 60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ VĂN LỰC
1.2. Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử ............................................................................................. 9
1.2.1. Một vài nét về tiền đề của thiền phái .................................................. 9
1.2.2. Tư tưởng triết học Trần Thái Tông ................................................... 12
1.2.3. Tư tưởng triết học của Tuệ Trung Thượng Sĩ ................................... 33
Chương 2. TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ
VÀ VAI TRÒ CỦA NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐÓ ĐỐI VỚI XÃ
HỘI THỜI TRẦN ..................................................................................... 42
2.1. Tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ................................................... 42
2.1.1. Tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Trần Nhân Tông
(1258-1308) ............................................................................................ 42
2.1.2. Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Pháp Loa đại sư
(1284- 1330) ........................................................................................... 43
2.1.3. Huyền Quang tôn giả đệ tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
(1254- 1334) ........................................................................................... 44
2.2. Vai trò của những tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ........... 45
Chương 3. VẬN DỤNG NHỮNG GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC THIỀN
PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ VÀO XÂY DỰNG NHÂN CÁCH CON
NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY................................................................... 59
3.1. Những giá trị tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ................. 59
3.1.1. Giá trị tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đối với
xã hội thời Trần .......................................................................................... 59
3.1.2. Ý nghĩa tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đối
với xã hội Việt Nam hiện nay ................................................................... 62
3.2. Phương pháp và nội dung vận dụng một số giá trị tư tưởng triết học của
Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vào việc xây dựng nhân cách con
Phật giáo Việt Nam nói chung. Với quan điểm từ bi bác ái, tinh thần rộng mở,
phóng khoáng và khả năng dung hợp nhiều tư tưởng khác nên đã tỏ ra có khả
năng ưu việt và được truyền bá rộng rãi.
Như vậy, lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam trong suốt 14 thế kỷ đầu
tiên chủ yếu là lịch sử tư tưởng triết học Phật giáo. Bởi vậy, nghiên cứu triết
học Phật giáo, chúng ta sẽ hiểu được tư tưởng triết học Việt Nam cổ, trung
đại. Tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một trong những tư
tưởng triết học tiêu biểu của thời kì này. Bởi đây là thiền phái có ảnh hưởng
sâu sắc đến tư tưởng của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ - một cái
mốc quan trọng trong lịch sử tư tưởng nước ta. Có thể khẳng định rằng, Thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử có ngay từ thời kỳ đầu nhà Trần, mà ba vị tổ, một
thánh, hai hiền đã kế thừa và phát huy thành một hệ thống tương đối chặt chẽ.
Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
cũng phần nào cho ta biết khuynh hướng tư tưởng của dân tộc từ những ngày
đầu dựng nước cho đến thế kỷ 13.
Mặt khác, tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử góp phần
làm sáng tỏ thêm vấn đề tư tưởng triết học Việt Nam.
Nghiên cứu tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử còn giúp
chúng ta trở về với cội nguồn dân tộc, tìm tòi, gạn lọc và phát huy những giá
trị tích cực trong kho tàng tư tưởng cha ông, không chỉ có ý nghĩa quan trọng
trong lĩnh vực học thuật, mà còn đóng vai trò lớn trong việc xây dựng một
nền văn hoá.
Thế nhưng, cũng giống như bất cứ tôn giáo khác, sự ra đời của Phật
giáo là nhằm thực hiện chức năng đền bù hư ảo nhu cầu hạnh phúc của quần
chúng nhân dân. Thông qua đó, các Phật tử “chính tinh tiến, chính định, chính
niệm” để khắc phục sự “vô minh” nhằm đạt đến sự giải thoát.
Tư tưởng triết học Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử không chỉ là một trào
lưu tư tưởng mà còn là một quan niệm xử thế nhân sinh, không thuần tuý là
đến sự hình thành nhân cách con người hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Nghiên cứu tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử để thấy
được ý nghĩa của tư tưởng triết học đó đối với quá trình phát triển lịch sử tư
tưởng Việt Nam đồng thời vận dụng một số tư tưởng triết học của Thiền phái
vào việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay.
3
3.2. Nhiệm vụ:
- Làm rõ điều kiện hình thành tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử.
- Phân tích một số nội dung và ý nghĩa của tư tưởng triết học Thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử và vai trò của nó đối với xã hội thời Trần.
- Luận chứng để vận dụng những tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử vào việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: tư tưởng triết học của Thiền phái
Trúc Lâm Yên Tử.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Xã hội Việt Nam thời Trần.
- Xã hội Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, đồng thời
chúng tôi kế thừa những công trình nghiên cứu của những người đi trước có
học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, suy đến cùng, một hệ thống triết
học, tư tưởng của một triết gia… đều là sự phản ánh tình hình kinh tế - xã hội
nhất định. Tư tưởng triết học thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cũng vậy.
Sự suy vong của vương triều Lý không phải hệ quả của quá trình vận
động kinh tế - xã hội. Bởi vì hai triều đại Lý và Trần cùng có một cơ sở về
kinh tế. Giữa hai thời đại này chỉ có sự chuyển biến về lượng chứ trong cơ sở
kinh tế chưa xảy ra hiện tượng biến chất. Đặc điểm trong sự phát triển kinh tế
của hai triều đại Lý, Trần là sự phát triển của kinh tế thái ấp. Nhà Lý suy vong
là do sự bóc lột nặng nề của nhà nước và quý tộc phong kiến. Đời sống nhân
dân ta dưới thời nhà Lý rất cực khổ, nhiều người dân đã phải bỏ quê hương đi
tha hương cầu thực. Nạn đói cộng thêm thiên tai hạn hán, lũ lụt khiến cho
nông dân nổi dậy chống lại chế độ phong kiến. Đã có một số cuộc khởi nghĩa
của nông dân nổi dậy. Tiêu biểu như: Lê Vãn (1180- 1182), Thân Lợi (1140),
Phí Lang (1202- 1215).
Nhân chính quyền Trung ương suy yếu, các thế lực địa phương cũng đã
nổi dậy gây nên cục diện cát cứ và nội chiến trong mười mấy năm trời. Giữa
các thế lực có ảnh hưởng nhất khi đó là: họ Đoàn ở Hồng Châu, Phạm Du đồng minh của họ Đoàn, họ Trần ở Tức Mặc - Nam Định, Nguyễn Tự ở Quốc
Oai, Nguyễn Nộn ở Bắc Giang, họ Phạm ở Nam Sách - Hải Dương… Yêu
cầu của lịch sử bấy giờ là củng cố, chấn chỉnh lại nhà nước trung ương tập
quyền, khôi phục thống nhất để đảm bảo cho sự phát triển của sức sản xuất.
Trong quá trình đấu tranh giữa các nhóm phong kiến, họ Trần đã phát triển
6
được thế lực, thu hút chính quyền trung ương còn thoi thóp của nhà Lý về tay
mình, đàn áp các thế lực cát cứ khác mà thống nhất được quốc gia. Sau đó
anh em họ Trần đã truất ngôi chủ tể của họ Lý mà giành lấy ngôi vua. Người
có công to lớn trong việc lập họ Trần lên ngôi vua là Trần Thủ Độ - chú ruột
của Trần Cảnh (vua Trần Thái Tông). Ông Vua cuối cùng của nhà Lý là Lý
việc khai khẩn đồn điền của quân dân.
Việc đắp đê ngay từ đầu thời Trần cũng đã được chú trọng. Một mặt
phòng ngừa thuỷ tai, mặt khác để khai thác được hết mối lợi của đất đai, Vua
coi việc tu sửa đê điều cũng là việc chính sự. Bởi vậy mà đời sống của nhân
dân tương đối được đảm bảo, người nông dân được yên ổn làm ăn. Sở dĩ nói
tương đối là vì chúng ta biết rằng tình trạng kỹ thuật canh tác dưới thời phong
kiến vẫn còn thấp kém, cho nên không thể nào tránh khỏi những mặt hạn chế.
Do điều kiện tự nhiên cũng như do sức lao động của nhân dân và chính
sách bảo vệ sản xuất nông nghiệp, vùng châu thổ các Sông Hồng, sông Mã…
đã trở thành vùng sản xuất nhiều lúa. Trần Phu, một sứ giả nhà Nguyên sang
ta vào năm 1293 sau này có làm một bài thơ dài “An nam tức sự”, trong lời
chú có chép rằng “Lúa mỗi năm chín bốn lần, tuy vào giữa mùa đông mà mạ
vẫn mườn mượt”.
Nền kinh tế nông nghiệp phát triển đã đi sâu vào những áng văn thơ
thời bấy giờ. Nguyễn Bá Thông đã ca ngợi cái giàu có của đất nước trong bài
phú “Thiên hưng trấn” với những nguồn nước tạo điều kiện cho thuỷ lợi và
rất nhiều những loại gỗ quý cùng với vàng bạc châu ngọc…
Bên cạnh sự phát triển về nông nghiệp thì công thương nghiệp cũng có
phát triển.
Thủ công nghiệp ở nông thôn tuy gắn liền với nông nghiệp, nhưng cũng
đã có những làng chuyên môn sản xuất một thứ sản phẩm thủ công nghiệp
nhất định. Những công nghiệp phụ thuộc công trình kiến trúc như làm gạch
ngói, làm đá, điêu khắc, sơn then… cũng phát triển. Các thứ công nghiệp này
đã đạt đến một trình độ khá cao.
8
Việc đào thêm kênh và sông có tác dụng về mặt thuỷ lợi cũng như giao
thông, mở rộng thêm thị trường buôn bán trong nước. Nhu cầu buôc bán bên
ngoài cũng phát triển, nhất là đường thuỷ, có rất nhiều thuyền buôn đến nước
trước, tinh thần vô trú. Nghĩa là không chấp có, cũng không chấp không,
không trú ở có mà cũng không trú ở không, không gán ghép cho các pháp
(các sự vật và hiện tượng) một thuộc tính nào hết và tất nhiên là không chấp
trước vào bất cứ một thuộc tính nào, bởi nó chỉ là sản phẩm của tự biện. Cảnh
giới của thiền định siêu việt ngôn ngữ văn tự và tư duy khái niệm, do đó
thường được nói lên bằng những câu phủ định.
Tuy dòng thiền này đến từ phía bắc nhưng lại do một tăng sĩ Ấn Độ
truyền vào, do đó nó cũng mang nhiều sắc thái của thiền Ấn Độ. Như vậy là
từ những thế kỷ đầu cho đến thế kỷ IX Phật giáo Việt Nam chủ yếu mang
đậm màu sắc của Phật giáo Ấn Độ. Giai đoạn này hầu như trùng với giai đoạn
bắc thuộc. Điều này nói lên rằng, ngay từ buổi dựng nước và giữ nước ông
cha ta vô tình hay hữu ý đã biết né tránh sự đồng hoá về mặt văn hoá của hán
tộc bằng cách đề cao một nền văn hoá khác lớn hơn hoặc ít nhất cũng không
kém gì văn hoá Trung Hoa. Qua sự đối trọng này mà văn hoá bản địa vẫn
được duy trì, giữ vững và tiếp tục đi theo con đường của nó. Văn hoá Việt
Nam đã tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hoá nhân bản khác qua những
cuộc đụng độ tiếp xúc giữa các hệ tư tưởng, các nền văn hoá để làm phong
phú thêm cho nền văn hoá bản địa của mình. Như vậy ta hiểu và lý giải được
rằng tại sao bị đô hộ hàng nghìn năm mà văn hoá Việt Nam không bị đồng
hoá. Tại sao những tác phẩm đầu tiên ở Giao Châu còn lại cho đến nay, như
“lý hoặc luận” của Mâu Bác, những tác phẩm của Khương Tăng Hội được
viết bằng chữ Hán mang nội dung đề cao văn hoá Ấn Độ.
Năm 820, hai trăm bốn mươi năm sau thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi có
thiền sư pháp hiệu là Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang Việt Nam và lập ra
phái thiền thứ hai tại Việt Nam. Nếu như thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi mang
10
đậm màu sắc Phật giáo Ấn Độ thì thiền phái Vô Ngôn Thông lại là dòng thiền
Triết học của Trần Thánh Tông ra đời đã đáp ứng được tình trạng xã
hội lúc bấy giờ. Tư tưởng triết học của ông là một học thuyết tổng hợp cả
thiền, tịnh, lão, nho… của những trường phái trước đó. Trong triết học của
ông, nó có cả niệm Phật luận, có cả quan hệ giữa tam giáo.
Những yếu tố kinh tế cũng là bà đỡ cho sự kế thừa những yếu tố tư
tưởng để Trần Nhân Tông sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử một cách
vững chắc, trên nền tảng tinh hoa tư tưởng triết học thời kỳ đầu nhà Trần mà
cụ thể là Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ - hai vị đã có công trong
việc truyền bá tư tưởng triết học vào việc thành lập ra thiền phái này.
Nay ta lần lượt tìm hiểu tư tưởng triết học của từng vị.
1.2.2. Tư tưởng triết học Trần Thái Tông
Trần Thái Tông (1218- 1277) là ông vua đầu tiên của triều đại nhà
Trần. Ông tên thật là Trần Cảnh, con thứ của Thái Tổ (Trần Thừa), lên ngôi
vua lúc tuổi còn nhỏ (1225). Năm 16 tuổi, cha mẹ lần lượt ra đi. Với hai cái
tang cha mẹ liên tiếp như thế khiến cho tâm hồn Trần Thái Tông dao động.
Vả lại cơ nghiệp nhà Trần hầu như do Trần Thủ Độ nắm giữ, cái gì cũng dám
miễn sao là làm được việc, vì thế mới có việc phế Chiêu Thánh Hoàng Hậu
công chúa, lập Hoàng Vương Trần Liễu và Lý Thị làm hoàng hậu, bởi lúc bấy
giờ Chiêu Thánh chưa có con mà Lý thị đã có mang được ba tháng. Vì vậy
mới có chuyện Trần Liễu nổi loạn.
Trước tình thế ấy, Trần Thái Tông cảm thấy áy náy, cô liêu, trong lòng
vừa đau đớn vừa lo sợ phân vân. Chính cái cảm xúc ấy mới là thực nghiệm,
mới là cái tia trực giác hoán cải con người, quyết định sáng tạo cho cả một hệ
thống tư tưởng của tác giả.
12
Vua Trần Thái Tông là bậc anh hùng văn võ toàn tài, không những đã
có công khai sơn phá thạch cho cả một triều đại anh hùng bậc nhất của lịch sử
trung thành của ngoại cảnh.
Giai đoạn thứ hai là sự trưởng thành của cái ta.
Giai đoạn thứ ba siêu thoát nhị nguyên, tức là giai đoạn giải thoát cái
siêu ngã để nhập vào đại toàn thể, nhà Phật gọi là giai đoạn “đáo bỉ ngạn”
(Vượt qua bờ bên kia), giai đoạn của triết lý nhất nguyên.
Nguyễn Hùng Hậu nghiên cứu về Suzuki trong “Nghiên cứu kinh lăng
già” của Suzuki cho rằng Citta, Alaya (A-lại-da) Tathagatagarbha (Như Lai
Tạng) là Tâm.
Tâm (Citta) nuôi lớn Nghiệp (Karma), Nghiệp có nghĩa là hành động
hay động tác, hành động đẻ ra hậu quả của nó, cho nên nghiệp hay đi với chữ
quả hay báo là nói kết quả của những hành động từ trước đẻ ra. Do đấy mà
Nghiệp còn có một ý nghĩa siêu hình học và tâm lý học là lý nhân quả. Ý
(manas) là thám xét và thức (Vijnana) là biện biệt (ở đây có một số học giả
Tây phương cho rằng Đông phương triết học hãy còn ở trong vòng vô thức
của người bán khai, chưa biết biện biệt cái trong và cái ngoài. “Thường lầm
lẫn phần tử với toàn thể” - Bougle, nhưng ở đây ông chỉ nói đúng với tâm
trạng người bán khai cổ lỗ, chứ không đúng với tâm trạng người giác ngộ).
Cái tâm tổng hợp gồm Tâm (Citta), ý tâm (Manas), ý thức (Vijnana) và
những thức khác vốn yên lặng và thanh tịnh nhưng khi xuất hiện vọng động
trên bề mặt của tâm thì nó bị phân ra thành bát thức. Tâm (Citta) hay
Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) cũng là Alaya (A-lại-da). Bởi vì tâm với
nghĩa là thu góp, Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) cũng là một loại kho chứa
và Alaya (A-lại-da) cũng là kho (tạng) chứa hay thu gom tất cả tập khí của tư
tưởng, tình cảm, ước muốn hành động của con người. Nhưng Như lai Tạng
(Tathagatagarbha) lại nghiêng về tôn giáo mà A-lai-da (Alaya) nghiêng về
triết học.
14
mang màu sắc tình cảm. Nhưng cũng chính nó lại làm hạn chế đến tiếp thu
sáng tạo những tri thức duy lý, khoa học kỹ thuật để hình thành nên cách nhìn
khoa học.
Thứ hai, bên cạnh khái niệm “Tâm” là khái niệm về “Pháp” (Dharma)
nó là tất cả vật chất và ý thức, cả cái tương đối lẫn cái tuyệt đối. Phật giáo
ngay từ đầu đã thừa nhận sự tồn tại các pháp, như vậy nó cũng thừa nhận thế
giới vật chất là tồn tại chứ không như không luận (Sunyavada) của đại thừa
sau này.
Đi liền với từ “Pháp” có từ “Thân” tạo nên thành một khái niệm “Pháp
thân” (Dharma Kaya). Đây là một khái niệm quan trọng của đại thừa. Trong
đại thừa có quan niệm tam thân. Đây là quan niệm mà có ba khía cạnh khác
nhau của một hình ảnh: 1. Pháp thân (hay thân pháp) (Dharma Kaya) biểu
hiện thực tại đầu tiên bất biến. 2. Báo thân (Sambhoga Kaya) gắn với sự ngự
trị của vật trong thế giới siêu nhiên. 3. Ứng thân (Nirmana Kaya) là ứng hiện
của Phật với khuôn mặt người bình thường trong thế giới hiện hữu.
Đối với tư trào Đại thừa thì Phật là nguyên lý tối cao với tư cách là
Pháp thân, cái tuyệt đối, không sinh mà cũng không mất. Tất cả các Đức Phật
đều là thể hiện của Pháp thân. Phật giáo nguyên thủy Việt Nam trong các tác
phẩm của Mâu Tử và Khương Tăng Hội được mô tả theo đúng tinh thần của
tư trào Đại thừa, một tư trào Phật giáo rất năng động và tích cực kết hợp
nhuần nhuyễn tính phóng khoáng, không cố chấp, không giáo điều.
Thứ ba, đi liền với Pháp còn có một khái niệm nữa là Tính. Thiền phái
Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã đề cập đến một loạt những khái niệm có tính chất bản thể
luận, chẳng hạn như “Chân Tâm”, “Chân Tính”, “Chân Thân”, “Pháp Tính”,
“Hư Vô”, “Như Như”, “Phật Tâm”. Họ cho rằng bản thể tồn tại khắp mọi nơi,
mọi lúc, không sinh cũng không diệt.
“Bất sinh diệc bất diệt
Bất thường diệc bất đoạn
16
17
danh sắc tướng là huyền ảo, không có gì là thật. Tất cả những gì mà từ giác
quan đi vào (sắc, thụ, tưởng, hành thức) đều là giả, tự nó không thật. Ở đây,
“Không” của nhà Phật đã vượt lên sự mâu thuẫn, nó không sinh không diệt,
không phải không trái, không thêm, không bớt, không thiện, không ác. Mà
“Không” cũng “Hư”. Nhưng “Không” nghiêng về khách quan bên ngoài, còn
“Hư” nghiêng về chủ quan bên trong.
Trần Thái Tông dùng khái niệm “Hư” để đặt tên “Khoá hư Lục” cho sách.
“Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không, thị vọng tòng
không, không hiện vọng, vọng sinh chúng sắc”.
Từ cái thực tại siêu nhiên nổi lên vọng động lầm mê thấy có hình
tướng. Hình tướng từ cái ý thức chân thực siêu nhiên mà ra, ấy là mê lầm theo
chỗ vốn không mê lầm chân thật mà xuất hiện. Mê lầm mà sinh ra các hình
tướng khác nhau vô số.
Như vậy, “Không” ở đây là cái tuyệt đối, là thái hư, chân tể. Từ cái
không tuyệt đối đã khởi nguyên lên vọng - tức là vô minh. Vô minh theo
“Không” thì cũng là vọng tòng không, không hiện vọng, vọng thành sắc hay
vọng sinh chúng sắc, tức là vô minh sinh ra thế giới hình danh sắc tướng.
Vậy vô minh ở đây không thể nói rằng nó là thực tại là không có sự
biến đổi và mất đi, bởi vì nó có thể bị xoá bỏ. Nhưng nó không phải là không
có. “Vô Minh” theo nghĩa đen có nghĩa là “Không sáng” mà “không sáng” thì
là mê muội tối tăm, theo nhà Phật đây là nguồn gốc của sự tối tăm.
Bản thể trong triết học Trần Thái Tông là “Không”. Từ không biết gì
cho đến xuất hiện “Vọng”. Ở đây ta thấy triết học của ông mang tính thần bí.
Nó gần giống với ý niệm tuyệt đối tha hoá thành giới tự nhiên trong triết học
của Hêghen. Nếu như “Vọng” là nguyên nhân xuất hiện thế giới hiện tượng,
thì trong triết học của ông, “Niệm” là nguyên nhân xuất hiện cái tôi, con
người, cá nhân.
Chính vì thế mà thiền định trong triết học của Trần Thái Tông là thủ
tiêu Niệm (nghiệp) và đạt tới cái tâm vô niệm (Không nhớ nghĩa tức là không
19
tạo nên nghiệp) “thuỳ vô niệm, thuỳ vô sinh” (ai không có niệm thì không có
sinh, tức tránh được nghiệp, vượt qua được vòng tuần hoàn luân hồi sinh tử):
ông cho rằng muốn tắt hết được ý niệm thì phải tập ngồi định thần. Và tinh
thần thiền theo ông là một chiến đấu nội tâm để thực hiện một trạng thái quân
bình cho tinh thần. Quân bình ấy là ý thức tổng hợp biện chứng giữa bình
diện thiền hay siêu nhiên với bình diện địa hay hiện hữu. Mục đích ngồi định
nhằm tắt được hết ý niệm. Mà thiền học của Trần Thái Tông tránh hai cực
đoan là “loạn tưởng” biết theo kinh nghiệm giác quan từ trong tiềm thức thúc
đẩy, hay là “vô ký” lãng quên vào tự tính bản thể. Theo Trần Thái Tông thì,
thiền chỉ cốt “tức niệm chứ không cần giải thích từ đâu mà có “Niệm khởi”,
chỉ làm thế nào mà để gạt được cái làm che mờ lấp chân tâm, chứ không cần
giải thích từ đâu mà có cái màng che ấy.
Trong triết học của Trần Thái Tông có hàng loạt những khái niệm như
“Tính”, “Pháp Tính”, “Chân Tính”, “Bản Tính”, “Tâm”, “Phật”, “Tâm Phật”,
“Chân Tâm”, “Chân Như”, “Như Như”, “Bát nhã thiện căn”, “Bồ đề giác
tính”, “Pháp Thân”, “Hư Không”, “Hư”, “Không”, “Bản lai diện mục”…
những khái niệm trên có tính bản thể luận. Ở đây ông đã có một số khái niệm
mới hơn so với hai thiền phái trước là Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông.
Ông đã đưa ra khái niệm “Bản tính”, “Bát nhã thiện căn”, “Bồ đề giác tính”,
“Bản lai diện mục”, “Không”, “Hư”. Nhưng tất cả những khái niệm của ông
cũng như của hai thiền phái trước có tính bản thể luận trên bình diện tuyệt đối
hay tồn tại tuyệt đối. Chúng đều na ná giống nhau.
“Bản Lai Diện Mục” cũng như “Chân Tính”, “Bản Tính”, “Tính”,
“Pháp Tính”, “Thân Tâm”, “Bản Tâm”, “Tâm Phật” nó là khuôn mặt nguyên