MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người là sản phẩm tiến hoá cao nhất của thế giới tự nhiên. Từ
trước đến nay vấn đề con người luôn mang tính thời sự và thu hút được sự
quan tâm nghiên cứu của các ngành khoa học. Cùng với khoa học tự nhiên,
các bộ môn khoa học xã hội luôn coi con người là đối tượng nghiên cứu cơ
bản của mình.
Ngày nay con người trở thành một nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là
nguồn lực cơ bản và vô tận. Con người vừa là chủ thể, vừa là động lực và mục
tiêu của sự phát triển xã hội. Phát triển con người là mục tiêu cuối cùng của
sự phát triển và tăng trưởng kinh tế. Một trong những yếu tố quan trọng nhất
để phát triển con người là phải có sức khoẻ tốt. Theo quan điểm của giáo sư
Amartya Sen, người từng đoạt giải thưởng Nobel về kinh tế học, thì “sức
khoẻ là một trong những điều kiện cơ bản để đem lại giá trị cuộc sống cho
con người” (1). Sức khoẻ tốt hơn là điều mong muốn hàng đầu của cả nhân
loại trên toàn thế giới. Nhận thức rõ vấn đề này trong những năm gần đây
Đảng và Nhà nước ta đã xác định việc phát triển con người là nhiệm vụ trung
tâm của mọi chính sách kinh tế – xã hội. Đường lối phát triển kinh tế – xã hội
của Đảng hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh, tạo điều kiện để mỗi con người được phát triển hài hoà cả về sức
khoẻ và trí tuệ, thể chất và tâm hồn. Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
nhân dân giai đoạn 2001 – 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
cũng nhấn mạnh phát triển sức khoẻ là mục tiêu quan trọng của tiến trình phát
triển và được đặt ở vị trí cao: “Con người là vốn quý nhất của xã hội, quyết
định sự phát triển của mỗi quốc gia, trong đó sức khoẻ là tài sản quý giá nhất
của mỗi con người và toàn xã hội”. Sức khoẻ tốt là yếu tố thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế vì người có sức khoẻ sẽ có khả năng tạo ra nhiều của cải vật
chất hơn và có thể tận dụng được các cơ hội mà công cuộc đổi mới mang lại.
Vì vậy, đầu tư cho sức khoẻ phải được coi là trung tâm của các chính sách
1
phát triển kinh tế – xã hội. Để thực hiện tốt mục tiêu đó thì việc nghiên cứu để
các tầng lớp xã hội. Ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và người
nghèo, sức khoẻ thường được cải thiện chậm hơn so với thành phố, thị xã và
các tầng lớp khá giả.
Mô hình bệnh tật ở Việt Nam cũng có sự thay đổi đáng kể cùng với sự
phát triển của kinh tế - xã hội. Từ mô hình của các nước nghèo với các bệnh
nhiễm trùng và suy dinh dưỡng là chủ yếu thì đã và đang xuất hiện nhiều các
bệnh không nhiễm trùng như tim mạch, ung thư, tâm thần, tai nạn, thương
tích…
Về môi trường sống, ngoài sự ô nhiễm vi sinh vật vẫn còn dai dẳng
chưa được cải thiện đáng kể do chưa có điều kiện xử lý tốt chất thải sinh hoạt
(phân, rác) và các chất thải bệnh viện, ô nhiễm hoá chất ngày càng tăng do sử
dụng hoá chất trong công nghiệp ngày càng nhiều và chất thải công nghiệp
không được xử lý trước khi thải ra môi trường, kể cả các chất tồn dư của
chiến tranh hoá học trước đây. Tỉ lệ dân sử dụng nước sạch còn thấp. Về mặt
xã hội, song song với việc phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế ngày
càng mạnh mẽ, lối sống ở Việt Nam, đặc biệt là ở tuổi thanh, thiếu niên đang
có nhiều thay đổi với nhiều nguy cơ có hại cho sức khoẻ như sử dụng ma tuý,
rượu bia, thuốc lá, các bệnh lây truyền qua đường tình dục HIV/AIDS, stress
tâm lý…tuổi thọ tăng thì số người cao tuổi ngày càng nhiều. Thực trạng đó
đặt ra cho chóng ta mà nòng cốt là ngành y tế nhiều vấn đề cần phải giải
quyết trước mắt và lâu dài trong tương lai(16,tr218).
Sau hơn một thập kỷ thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, Việt
Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế - xã hội. Trong đó có
công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Những chính sách trong thời kỳ đổi
mới đã tác động không nhỏ đến sức khoẻ nhân dân và hệ thống y tế. Tình
hình đó đã và đang đặt ra những vấn đề cơ bản, cấp thiết đối với việc chăm
sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân như việc phân tích các yếu tố tác động đến
thực trạng sức khoẻ, đặc biệt là các yếu tố liên quan đến hệ thống chăm sóc
3
sức khoẻ, sự diễn biến cơ cấu bệnh tật, tìm ra những yếu tố cơ bản nhất tác
biểu đưa ra những tiêu chí để phân biệt giữa con người và con vật. Tuy chưa
nói rõ con người khác hẳn con vật ở yếu tố xã hội nhưng Aritstốt đã gọi con
người là “động vật chính trị”. Danh y thế giới Hypôcrat cùng các môn đồ của
mình đã để lại hơn 50 tác phẩm có giá trị về nghề thuốc, về các yếu tố ảnh
hưởng đến sức khoẻ và sự tồn tại của con người. Ông đã có công tách y học
khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, đưa ra thuyết thể dịch để giải thích các hiện
tượng sức khoẻ và bệnh tật. Ông cho rằng thầy thuốc cần chú ý đến cách sinh
hoạt, chế độ ăn, tuổi tác, hoàn cảnh sống của người bệnh, đất đai, nguồn
nước, thời tiết địa phương nơi có dịch bệnh. Tuy chưa đưa ra khái niệm yếu tố
sinh học, yếu tố xã hội và chỉ ra một cách cụ thể ảnh hưởng của nó với sức
khoẻ con người song ông đã biết bệnh tật có những nguyên nhân hiện diện ở
con người, môi trường xung quanh con người và phát triển theo quy luật tự
nhiên.
Thời trung cổ, dưới sự thống trị của tôn giáo và thần quyền, do trình độ
nhận thức cũng như ý thức tôn giáo, mặt sinh học nói riêng, vấn đề con người
nói chung Ýt được quan tâm nghiên cứu. Con người trong thời kỳ này cũng
nh tất cả bản chất, sức khoẻ của nó đều do sù quy định của chúa, của thượng
đế.
Bước sang thời kỳ phục hưng cùng với sự phát triển của các ngành
khoa học, vấn đề con người và giải phóng con người đã được nhiều nhà triết
học, khoa học tập trung nghiên cứu. Các môn khoa học về con người nh giải
phẫu học, sinh lý học, sinh lý học thần kinh cao cấp, sinh hoá, tâm lý học, tâm
thần…đã được phát triển một cách mạnh mẽ. Tuy vậy, cách nhìn con người
của họ vẫn chỉ dừng lại ở góc độ thể xác và tinh thần. Thời kỳ này tuy chưa
xuất hiện khái niệm yếu tố sinh học, yếu tố xã hội trong con người cũng như
chưa thấy được con người là một chỉnh thể sinh học – xã hội, song đã có
5
những nhà triết học, khoa học đưa ra quan niệm về sức khoẻ như Phanxi
Bêcơn, W.Hafvay và R. Đêcáctơ.
Vấn đề con người và sức khoẻ con người cũng được nhiều nhà triết học
bản của Phoiơbắc là đi phủ nhận quan điểm nhị nguyên luận về con người,
đồng thời thừa nhận và luận chứng cho quan điểm duy vật về sự thống nhất
giữa tinh thần và thể xác, tư duy và tồn tại, giữa tâm lý và sinh lý, giữa khách
quan và chủ quan. Chủ nghĩa nhân bản của Phoiơbắc đã tìm thấy mối liên hệ
giữa thể xác và linh hồn. Hạn chế của Phoiơbắc về bản chất của con người thể
hiện ở chỗ ông coi con người như một thực thể sinh học chứ không phải là
thực thể xã hội. Ông đã đề cao khía cạnh tự nhiên của con người và cho rằng
bản tính tự nhiên của con người là sự Ých kỷ, sự Ých kỷ là phù hợp với tự
nhiên và tồn tại thực sự. Thực tế đã chứng minh ngược lại, không thể nghiên
cứu con người tách rời khỏi xã hội và các mối quan hệ xã hội. Cho nên khi
Phoiơbắc nghiên cứu những vấn đề của đời sống xã hội ông đã rơi vào duy
tâm và thần bí về cái gọi là “con người thực thể” của ông. Ông đã trừu tượng
hoá con người, nghĩa là không đặt nó trong quan hệ sản xuất để thấy được
tính năng động sáng tạo và tính biện chứng trong quá trình hoàn thiện, phát
triển của chính bản thân con người.
Học thuyết Mác – Lênin mở ra một cuộc cách mạng thực sự trong lịch
sử triết học. Nó là học thuyết về giải phóng con người. Học thuyết này vừa
khẳng định con người là một bộ phận của thế giới tự nhiên, vừa khẳng định
con người là một thực thể mang tính xã hội. Triết học Mác xít không tách rời
việc nghiên cứu nguồn gốc của con người, bản chất của con người với việc
vạch ra con đường giải phóng con người, khắc phục sự hạn chế trong việc
nghiên cứu con người một cách trừu tượng. Triết học Mác nghiên cứu con
người trên cơ sở là một chỉnh thể sinh học – xã hội. Trong các tác phẩm lớn
nh “chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên” và một số tác phẩm khác
Mác - Ăng ghen đã phân tích khá sâu sắc nguồn gốc hình thành và phát triển
của con người; vai trò của lao động và giao tiếp xã hội trong việc quyết định
7
bản chất con người. Tuy Mác và Ăngghen không đưa ra một định nghĩa nào
về sức khoẻ, bệnh tật, nhưng với quan niệm của các ông về con người là một
sinh vật - xã hội, về bản chất con người, về mối quan hệ chặt chẽ giữa sức
dụng những cơ hội bất ngờ để thể hiện bằng những hình thức mức độ khác
nhau. Phờrớt coi quan hệ giữa sức khoẻ và bệnh tật là sự đấu tranh giữa bản
năng sống và bản năng chết trong con người.
Tiêu biểu cho những người theo chủ nghĩa hành vi là Skinơ. Ông ngoại
suy kết quả nghiên cứu hành vi của chuột và bồ câu trong điều kiện có kích
thích phức tạp vào con người và xã hội. Đây là một hình thức sinh học hoá
cực đoan đối với các hiện tượng xã hội. Nó phân định tính đặc thù của cái tâm
lý và xem xét các nhân tố môi trường, hoạt động tâm lý, cũng như mọi hành
vi của con người như là một hiện tượng cùng cấp độ. Việc lý giải đó có gắn
liền với việc phủ nhận tính đặc thù và vai trò của giá trị tinh thần trong hoạt
động của con người và chuyển sự lý giải của chúng sang ngôn ngữ của hành
vi sinh học. Theo quan điểm này, con người phải trở thành một cỗ máy sinh
học tự động. Skinơ hướng sự phê phán chủ yếu vào việc chống lại tư tưởng về
con người tự trị- chủ thể của nhận thức, của ý chí, của quyết định và trách
nhiệm. Ông cho rằng, có thể giải thích mọi kiểu hành vi của con người, kể cả
sự lựa chọn, tư duy, tình cảm thông qua những phản ứng của con người đối
với kích thích từ môi trường. Theo đó, khái niệm tự do, danh dự, giá trị của
con người là những khái niệm không có nội dung khách quan.
Quan niệm về vai trò quyết định của yếu tố bên ngoài đối với cuộc
sống của con người không phải là mới. Theo Skinơ, tất cả mọi thành công, sai
lầm của con người đều do môi trường và yếu tố bên ngoài quyết định. Tuy
nhiên, với quan niệm đó, ông không có ý định loại bỏ vấn đề trách nhiệm, tự
do và danh dự của con người. Ông cho rằng mô hình giải thích các hiện tượng
Êy theo một cách khác. Theo Skinơ, tự do là năng lực vốn có của cơ thể, năng
lực cho phép cơ thể né tránh các nhân tố bất lợi. Chủ nghĩa hành vi là cái có
khả năng cải biến những hành vi sai lầm của con người nhờ tạo ra sự hài hoà
9
xã hội và do vậy, không nên đem nó đối lập với chủ nghĩa nhân đạo. Thậm
chí ông còn cho rằng, chủ nghĩa nhân đạo đích thực có cơ sở của nó là hành vi
học- khoa học cho phép con người tạo ra một thế giới hài hoà nhất (86).
thiết về chỉ số thông minh (I.Q) cho rằng sự thành công hay thất bại của con
người được quy định sẵn trong gen, không liên quan gì đến sự tác động của
môi trường và hoàn cảnh sống.
Trên nền tảng triết học Mác - Lênin, các nhà triết học, khoa học Liên
xô trước đây đã đi sâu nghiên cứu yếu tố sinh học, yếu tố xã hội, vai trò và
mối quan hệ của chúng đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của con
người. Trong số đó có thể kể đến một số bài viết, một số tác phẩm như: “Bản
tính tự nhiên và bản chất xã hội của con người” của E.V. Shokôlôra(18), ”Hai
cách tiếp cận chúng của vấn đề “Các sinh học cái xã hội” của Anđrêi
Bruslinxki (3). Khi đề cập đến yếu tố sinh học và yếu tố xã hội của con người
trong sự sáng tạo khoa học, viện sĩ B.M.Kêđrốp và viện sĩ N.P. Đubinin đều
nhấn mạnh vai trò của các yếu tố xã hội trong mọi hành động của con người
nhưng cũng không coi nhẹ yếu tố sinh học mà các ông gọi đó là những phần
của tự nhiên hay là những tiền đề tự nhiên (81,84).
Trong quá trình nghiên cứu “Sự tiến bộ của xã hội và vấn đề phát triển
sinh học thống nhất của con người” Cacxaepxkaia đã đề cập đến những vấn
đề có ý nghĩa phương pháp luận của sự tác động lẫn nhau của yếu tố sinh học
và yếu tố xã hội, về sự hình thành và phát triển bản tính con người và về
những vấn đề phương pháp luận của việc nghiên cứu sự phát triển cá thể của
con người hay về những giai đoạn, chu trình sống của con người và những
đặc điểm lịch sử của nó. Kết hợp cách tiếp cận cấu trúc và cách tiếp cận phát
sinh, tác giả phân ra ba mức độ tác động sinh học - xã hội: mức độ chung
(toàn cầu); mức độ đặc thù (trên cá thể) và mức độ đơn nhất (cá thể, cơ thể-
nhân cách). Tác giả không những cho rằng yếu tố xã hội có vai trò quyết định
mà còn nhấn mạnh vai trò quyết định của yếu tố xã hội với yếu tố sinh học
khi xem xét bất cứ khía cạnh nào vấn đề yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.
11
Các tác giả Kaliugiơnaia và Xêrđiukôxkaia đi sâu nghiên cứu vai trò
của yếu tố sinh học, yếu tố xã hội trong sự hình thành cơ thể và đưa ra những
định nghĩa khác nhau về yếu tố sinh học và yếu tố xã hội của con người (83).
chủ nghĩa Mác- Lênin về nguồn gốc, bản chất con người. Trên cơ sở đó là
tiền đề quan trọng cho các nhà triết học cũng nh các nhà khoa học thuộc các
chuyên ngành khác đi sâu nghiên cứu nhằm mục đích phát triển con người.
Mét trong số công trình chất tổng hợp đề cập đến những vấn đề toàn diện xác
định cơ sở cho chiến lược con người và sự phát triển xã hội như : đề tài cấp
nhà nước mang mã số KX- 07 và KX - 05 do giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc
làm chủ nhiệm đề tài. Bên cạnh đó đó là các công trình của các tác giả: Phạm
Minh Hạc (22,tr3), Nguyễn Văn Huyên (36), Nguyễn Trọng Chuẩn (9), Lê
Hữu Tầng (75,tr7) Vương Thị Bích Thuỷ (63,tr43) các công trình này đã
làm rõ thêm về vị trí và vai trò của nhân tố con người trong sù nghiệp đổi mới
ở nước ta, từ đó đưa ra những quan điểm mới về sự phát triển và tiến bộ xã
hội. Qua đó cũng đã khẳng định triết học hướng tới cái đích đó là sự hạnh
phúc của con người, vì sự tiến bộ và phát triển, hướng con người tới, chân,
thiện, mỹ; triết học có nghĩa vụ góp phần làm tăng thêm khả năng của con
người trong quá trình cải tạo thế giới khách quan.
Một số công trình có tính chất chuyên khảo của các tác giả: Trần Phương
Hạnh (25), Vũ Trọng Hùng (35), Phạm Thành Hổ (33), Nguyễn Đình Khoa
(39), Phạm Thị Ngọc Trầm (70,tr26), Lê Nam Trà, Từ Giấy, Vũ Triệu An….
đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu khả năng của con người, sinh vật hoàn chỉnh
nhất của thế giới tự nhiên. Qua đó, góp phần khẳng định con người chính là
đối tượng để triết học và các khoa học khác tiếp tục nghiên cứu, đưa ra những
luận chứng khoa học cho quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho con
người.
Một số công trình đã đi vào nghiên cứu trực tiếp yếu tố sinh học, yếu
tố xã hội, mối quan hệ giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội của các tác
13
giả: “Nguyễn Trọng Chuẩn(10,tr13), Trần Đức Long(44,tr17), Vũ Thiện
Vương (80,tr30), Vũ Tùng Hoa(32), Nguyễn Thừa Nghiệp(53) …. dựa trên
những luận cứ khoa học, các tác giả đã đạt được những kết quả nghiên cứu
khá sâu sắc và hệ thống về mối liên hệ giữa yếu tố sinh học và và yếu tố xã
nâng cao sức khoẻ con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Để đạt được mục đích đó, luận án có nhiệm vụ:
- Phân tích, đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố sinh học đối với sức khoẻ
con người.
- Phân tích, đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố xã hội đối với sức khoẻ con
người.
- Trình bày một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao sức khoẻ cho con
người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận án là Học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về con người và phát triển con
người. Đồng thời luận án cũng tham khảo các tài liệu, công trình nghiên cứu,
các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề luận án quan tâm.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án áp dụng phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử: kết hợp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu
tượng hóa, lịch sử, lôgíc, kết hợp giữa phân tích lý luận và chứng minh bằng
tài liệu khoa học.
5. Cái mới của luận án
- Trên cơ sở phân tích đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố sinh học, yếu tố
xã hội đối với sức khoẻ con người, tìm ra những yếu tố sinh học, xã hội cơ
bản nhất tác động đến sức khoẻ con người.
- Vạch ra sù thay đổi của cơ cấu bệnh tật ở nước ta với quá trình biến đổi
sinh học - xã hội trong con người Việt Nam ở giai đoạn hiện nay.
15
- Trình bày một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao sức khoẻ cho con
người Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận: trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố sinh học và
yếu tố xã hội với sức khoẻ của con người, luận án có thể dùng làm tài liệu
tham khảo trong công tác nghiên cứu những vấn đề triết học trong y học.
+ Sức khoẻ tinh thần.
+ Sức khoẻ xã hội.
1.2. Yếu tố sinh học và sức khoẻ
1.2.1. Yếu tố sinh học là gì ?
- Một sè quan niệm về yếu tố sinh học lịch sử.
+ Quan niệm của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại.
+ Quan niệm của một số nhà ngụy biện phương Tây.
+ Thuyết Đác Uyn xã hội và thuyết dân số của Mantuýt.
+ Chủ nghĩa hiện thực khoa học (Darlingtơn, K.lorens, Uynxơn).
17
+ Thuyết phân tâm học của Phờrớt.
+ Chủ nghĩa chánh vi (Skinơ).
+ Phái kỹ thuật tâm lý.
- Quan điểm của triết học Mác – Lênin
+ Cơ sở nghiên cứu: dựa trên thế giới duy vật và phương pháp luận
biện chứng.
+ Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội
+ Yếu tố sinh vật: có thể hiểu đó là những yếu tố hữu sinh, hữu cơ,
những cái phát sinh gắn bó với tổ tiên động vật của con người, những cái làm
cho con người hình thành và hành động như một cá thể, như một hệ thống
phục tùng các quy luật sinh học, hoặc cũng có thể coi đó là toàn bộ những tiền
đề sinh học của con người.
1.3. Vai trò của yếu tố sinh học đến sức khoẻ con người
1.3.1. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đối với sức khoẻ
- Con người là sản phẩm tiến hoá cao nhất của thế giới tự nhiên. Sự
xuất hiện và tồn tại của con người luôn có mối liên hệ mật thiết với môi
trường tự nhiên.
- Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên lên con người theo hai con đường
xã hội và sinh học mang tính phổ quát ở tất cả những chức năng sống và tồn
tại của con người. Trong quá trình nghiên cứu có thể khái quát thành các
• Viêm cấp không đặc hiệu
+ Hệ thống miễn dịch và sự bảo vệ đặc hiệu
19
• Miễn dịch trung gian tế bào
• Miễn dịch trung gian kháng thể
• Trí nhớ miễn dịch
• Dị ứng
+ Khả năng tự vệ chủ động của con người
1.3.4. Khả năng tự điểu chỉnh của cơ thể
- Vai trò của hệ nội tiết đối với sức khoẻ
+ Sự hoạt động của tuyến yên và tuyến tùng
+ Sự hoạt động của tuyến giáp và tuyến cận giáp
+ Sự hoạt động của tuyến thượng thận
+ Sự hoạt động của một tuyến khác (tuyến sinh dục, tuyến tụy )
- Ảnh hưởng qua lại giữa tâm hồn và sức khoẻ
- Ảnh hưởng của quá trình sinh sản và sức khoẻ
- Quá trình tiến hoá và sức khoẻ.
20
CHƯƠNG II: YẾU TỐ XÃ HỘI VÀ SỨC KHOẺ
2.1. Khái niệm yếu tố xã hội
2.1.1. Một số quan niệm về yếu tè xã hội trong lịch sử
- Quan điểm của các nhà triết học phương Đông
- Quan điểm của các nhà triết học phương Tây
+ Quan niệm của các nhà triết học thời cổ đại
+ Quan niệm của các nhà triết học thời cổ điển Đức
+ Quan điểm của các nhà xã hội học Pháp
+ Quan điểm của các nhà triết học nhân bản.
+ Quan điểm của các học giả tư sản
2.1.2. Quan điểm của triết học Mác – Lênin
- Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh vật về mặt xã hội
- Các chính sách kinh tế – xã hội
+ Chiến lược phát triển kinh tế (lành mạnh, không lành mạnh)
+ Sự ổn định của mô hình kinh tế.
+ Chính sách xoá đói giảm nghèo
+ Công bằng xã hội
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế
+ Khía cạnh tích cực (trực tiếp, gián tiếp)
+ Khía cạnh tiêu cực (môi trường sống bị ô nhiễm, xu hướng CNH xuất
hiện các bệnh mới, thay đổi thói quen sinh hoạt, có hại đối với sức khoẻ, sự
gia tăng lây nhiễm và các tai nạn xa hội).
22
2.2.2.2. Sự ảnh hưởng của môi trường xã hội đối với sức khoẻ
- Vai trò của môi trường gia đình đối với sức khoẻ
Gia đình là các nơi trực tiếp sản sinh, chăm sóc cho sự phát triển của các
tố chất di truyền, sinh học.
+ Điều kiện kinh tế gia đình (đói nghèo, hay đầy đủ)
+ Tình cảm gia đình và sức khoẻ
+ Trình độ văn hoá của gia đình
- Sự ảnh hưởng của môi trường xã hội bên ngoài gia đình
+ Chế độ xã hội tiến bộ hay lạc hậu (đường lối, chính sách, luật pháp,
tính chất, đặc điểm của lực lượng sản xuất, nghi lễ thói quen, tập quán).
+ Sự ảnh hưởng trực tiếp của tổ chức xã hội nơi cá nhân tồn tại (cơ cấu
tổ chức, điều kiện làm việc, lao động).
2.2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ liên quan đến lối sống
- Tác hại của thói quen hút thuốc lá
+ Ảnh hưởng trực tiếp
+ Ảnh hưởng gián tiếp
- Tác hại của thói quen uống rượu
+ Tác động trực tiếp của việc lạm dụng rượu, bia với sức khoẻ
+ Tác động gián tiếp của việc nghiện rượu đối với sức khoẻ
+ Tuổi thọ trung bình hiệu chỉnh theo ốm đau và bệnh tật
- Tình hình sức khoẻ trẻ em
+ Tỷ lệ tử vong trẻ em
+ Suy dinh dưỡng trẻ em
- Thiếu vi chất và dinh dưỡng
+ Thiếu Vitamin A
+ Thiếu Iốt
+ Thiếu máu do thiếu sắt
- Tình trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản
+ Tình hình tử vong mẹ
+ Tỷ suất sinh
+ Những chỉ số sinh sản khác
3.1.2. Mô hình bệnh tật và tử vong
3.1.2.1. Mô hình bệnh tật
- Tình hình bệnh nhiễm trùng
- Tình hình bệnh không nhiễm trùng
25