ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------
ĐÀO THỊ TRANG
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------
ĐÀO THỊ TRANG
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60.22.03.08
Kết luận chương 1 .............................................................................................. 51
Chương 2: VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM NHỮNG NĂM QUA VÀ
NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY HƠN NỮA VAI TRÒ ĐÓ CỦA GIA ĐÌNH52
2.1. Vai trò của gia đình với sự hình thành và phát triển nhân cách con
người Việt Nam những năm qua .............................................................. 52
2.1.1 .Những thành tựu trong việc thực hiện vai trò của gia đình với việc hình
thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam những năm qua ..................... 52
2.1.2. Những hạn chế trong việc thực hiên vai trò của gia đình với việc hình
thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam những năm qua................. 62
2.2. Một số yêu cầu và giải pháp phát huy vai trò gia đình trong hình thành
và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay .......................... 71
2.2.1. Một số yêu cầu phát huy vai trò của gia đình trong hình thành, phát
triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay........................................... 71
2.2.2. Một số giải pháp phát huy vai trò của gia đình trong hình thành,
phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay .................................. 76
Kết luận chương 2 .............................................................................................. 90
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 92
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 99
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, cái nôi nuôi dưỡng và là môi trường
quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách của con người. Nhân cách con
người được hình thành qua một quá trình giáo dục từ gia đình đến nhà
trường và xã hội, trong đó vai trò của gia đình là vô cùng quan trọng.
Gia đình Việt Nam đã hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử, đã hun
đúc nên những người dân yêu nước, những anh hùng dân tộc. Tên tuổi các
hai thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
với truyền thống giàu lòng nhân ái, thủy chung, trọng tình nghĩa, chúng ta
luôn đề cao vai trò gia đình trong quan hệ nhà - làng - nước. Đặc biệt, mặc
cho xã hội có nhiều đổi thay, nhưng giáo dục gia đình vẫn được các bậc cha
mẹ chú ý, quan tâm. Điều cần khẳng định là, cho dù sự tác động nhiều
chiều của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, của sự bùng nổ thông tin,
của quá trình toàn cầu hóa, của cơ chế thị trường, nhưng những giá trị đạo
đức truyền thống của gia đình, của dân tộc vẫn tiếp tục được phát huy.
Bên cạnh đó, do sự tác động của kinh tế thị trường, của môi trường
xã hội, của các loại văn hóa phẩm độc hại, của lối sống thực dụng phương
Tây... đã và đang làm băng hoại đạo đức một bộ phận xã hội, lôi cuốn
không ít thanh thiếu niên vào vòng phạm tội. Những điều đó làm lu mờ lý
tưởng sống của một bộ phận giới trẻ, dẫn đến phát triển lệch lạc về nhân
cách ở một số thanh thiếu niên. Trong khi đó, giáo dục gia đình đối với con
trẻ chưa được coi trọng và đầu tư đúng mức.
Đặc biệt hơn nữa, hiện nay sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước đã và đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với sự nghiệp giáo
dục nói chung và giáo dục gia đình nói riêng. Đòi hỏi phải làm sao để tạo ra
lớp người Việt Nam vừa cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,
trong sáng về đạo đức, vừa đạt đến tầm cao về trí tuệ, đủ năng lực đưa nước
ta hội nhập với văn minh nhân loại mà bản sắc dân tộc vẫn được giữ vững.
Yêu cầu đó đặt ra cho sự nghiệp giáo dục, trong đó có việc giáo dục gia
đình phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện theo hướng công nghiệp hóa,
2
hiện đại hóa, dân chủ hóa, tri thức hóa, toàn cầu hóa mà vẫn đậm đà bản sắc
văn hóa Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần có giải pháp và kế hoạch nhằm phát
huy giá trị truyền thống của gia đình Việt nam, thích ứng với những giá trị
của quá trình công nhiệp hóa – hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm,
Đào Thị Oanh, Nhà xuất bản giáo dục, năm 2007.
Tác giả đi sâu vào nghiên cứu nhân cách con người và những yếu tố tác
động đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
- Công trình “ Về sự hình thành nhân cách” của tác giả Cao Thu Hằng,
Tạp chí triết học, số 12 (199), năm 2007.
Trên sơ sở phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố sinh học và
nhân tố xã hội trong con người, tác giả lý giải sự hình thành nhân cách dưới
tác động của môi trường xã hội và tính tích cực của mỗi cá nhân.
- Công trình “ Nhân cách và giáo dục văn hóa nhân cách” của tác giả
Hoàng Chí Bảo, Tạp chí triết học, số 1(119), năm 2001.
Tác giả chỉ ra và phân tích các nhân tố hình thành nhân cách con người
đó là môi trường xã hội, hoạt động của con người và những quan hệ xã hội là
những nhân tố trực tiếp nhất tham gia vào sự hình thành và thực hiện nhân
cách của mỗi cá nhân. Bên cạnh đó, tác giả nói đến mục tiêu cần đạt tới của
giáo dục văn hóa nhân cách đối với con người, nhất là đối với thế hệ trẻ.
- Công trình “ Giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu đạo đức
đối với nhân cách con người Việt Nam” của tác giả Cao Thu Hằng, Tạp chí
triết học, số 7(158), năm 2004.
Ở đây, tác giả chủ yếu nói về giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Việt Nam và những yêu cầu của đạo đức đối với hình thành nhân cách con
người Việt Nam. Qua đó, tác giả phân tích những phẩm chất tốt đẹp của người
Việt Nam mà điển hình đó là : tinh thần yêu nước, lòng thương người sâu
sắc, tinh thần đoàn kết, tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm.
- Công trình của tác giả Phạm Minh Hạc và Vũ Minh Chi “ Một số
đặc điểm nhân cách con người Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu con
người, số 6(21), năm 2005.
Ở bài viết này, hai tác giả viết về một số biến đổi về lối sống, lối nghĩ
4
có hành vi sai lệch dẫn đến suy thoái nhân cách - một vấn đề nóng bỏng
đang thu hút sự lo lắng, quan tâm của toàn xã hội. Cho nên, xây dựng văn
hóa gia đình và gia đình văn hóa có vai trò rất quan trọng, là cơ sở cho việc
hình thành và phát triển nhân cách con người, đặc biệt là thế hệ trẻ trong đó
có trẻ em.
Đặc biệt, có đề tài cấp Nhà nước KX-07-09: "Vai trò gia đình trong
sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam", của Trung tâm
Nghiên cứu về gia đình và phụ nữ, mà Giáo sư Lê Thi làm chủ biên, do
Nhà xuất bản Phụ nữ phát hành năm 1997. Các tác giả cho rằng, những
thành tựu to lớn của cách mạng khoa học và công nghệ đang đưa lại một
cuộc sống tốt đẹp cả về vật chất và tinh thần cho gia đình và xã hội. Bên
cạnh đó thì con người lại chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường, của
những tác động bên ngoài ảnh hưởng đến đạo đức và gây ra hàng loạt
những tệ nạn xã hội…ảnh hưởng đến nhân cách con người, và cũng ảnh
hưởng đến sự phát triển của xã hội. Tác giả khẳng định, để có một xã hội
tốt đẹp thì không thể tách rời sự phát triển của con người và vai trò của gia
đình trong việc giáo dục nhân cách con người hiện nay.
Bên cạnh đó, còn có những luận văn, luận án nghiên cứu đến các
vấn đề gia đình khác như:
Luận văn Th.s Phạm Thị Xuân, “Gia đình trong việc bảo vệ, chăm
sóc trẻ em ở nước ta hiện nay”, Hà Nội, 2004; Luận văn Th.s Cao Thị
Phương Nhung, “Gia đình với giáo dục nhân cách thế hệ trẻ ở tỉnh Thái
Nguyên hiện nay”, Hà Nội, 2010; Luận án T.S của Nghiêm Sỹ Liêm “Vai
trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay”, Hà Nội,
2001.
Các công trình trên đây đều đề cập ở những mức độ khác nhau đến
vai trò của gia đình đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam
nói chung.
Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam về gia đình và giáo dục trong gia đình.
Cơ sở thực tiễn: Nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng tình hình giáo
7
dục nhân cách giới trẻ của gia đình ở nước ta trong những năm đổi mới vừa
qua.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Ngoài ra còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác
như: phân tích và tổng hợp, so sánh và chứng minh, lôgic và lịch sử.
6. Đóng góp mới của luận văn
Làm rõ hơn vai trò quan trọng của gia đình trong việc hình thành,
phát triển nhân cách con người Việt Nam. Trên cơ sở đó chỉ ra những giải
pháp để phát huy tốt hơn nữa vai trò của gia đình trong hoạt động này.
7. Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò của
gia đình đối với việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Để từ
đó Đảng và Nhà nước có những chính sách phù hợp giúp phát huy hiệu quả
vai trò của gia đình không chỉ trong giáo dục con người, mà còn góp phần
xây dựng nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của đất nước ta.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho
những người nghiên cứu và hoạt động thực tiễn liên quan đến vấn đề này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì luận
văn gồm có 02 chương và 04 tiết
dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội,
9
nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con
người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc.
Nó cũng là một chỉnh thể thống nhất các thuộc tính, các đặc điểm
tâm lý, là sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa nhận thức, tình
cảm và ý chí… là sự thống nhất của tất cả mọi nét khác nhau của nó. Đó
không phải là phép cộng của các nét, các thuộc tính và đặc điểm tâm lý mà
là sự tổng hòa các đặc điểm thuộc tính ấy.
Cùng với đó thì nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm lý tương đối
ổn định của cá nhân tạo nên bộ mặt tâm lý ổn định của nhân cách. Chính
nhờ điều này mà chúng ta có thể phân biệt nhân cách này với nhân cách
khác, và còn có thể dự đoán được hành vi của nhân cách trong tình huống
này hay khác. Các đặc điểm nhân cách cũng như cấu trúc nhân cách của cá
nhân khó hình thành và cũng khó mất đi. Trong thực tế, từng nét nhân cách
(tính cách, phẩm chất…) có thể thay đổi trong quá trình sống của con
người, nhưng nhìn tổng thể thì chúng vẫn là một cấu trúc trọn vẹn, tương
đối ổn định.
Tính tích cực của cá nhân biểu hiện trong hoạt động như lựa chọn
hoạt động tích cực, xác định mục đích hoạt động đúng đắn và chủ động, tự
giác, nỗ lực thực hiện hoạt động, giao tiếp nhằm nhận thức và cải tạo thế
giới và cải tạo chính bản thân. Trong cuộc sống, tính tích cực của nhân
cách luôn luôn cần được phát huy. Đánh giá nhân cách là đánh giá tính tích
cực và sản phẩm của tính tích cực.
Nhân cách chỉ có thể hình thành phát triển, tồn tại và thể hiện trong
hoạt động và trong mối quan hệ giao lưu với những nhân cách khác. Nhu
cầu giao lưu là nhu cầu rất đặc biệt của con người. Con người sinh ra và lớn
có phương pháp giáo dục thích hợp để giúp trẻ hình thành những phẩm chất
nhân cách tốt.
Từ khái niệm về nhân cách chúng ta có thể khái quát về cấu trúc
của nhân cách như sau:
Cấu trúc là sự thống nhất toàn vẹn các thành phần và sự liên hệ về
mọi mặt giữa chúng. Cấu trúc nhân cách là sự sắp sếp các thuộc tính hay
11
các thành phần của nhân cách thành một chỉnh thể trọn vẹn tương đối ổn
định trong mối liên hệ và quan hệ nhất định.
Giống như bất cứ một sự vật hiện tượng nào, nhân cách cũng có
một cấu tạo nhất định, đặc trưng bởi một tổ chức nhất định. Tùy theo quan
niệm về bản chất nhân cách, mỗi tác giả đưa ra một cấu trúc khác nhau:
Theo A.G.Côvaliov cho rằng cấu trúc nhân cách bao gồm các quá
trình tâm lý, trạng thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý cá nhân.
Nhà phân tâm học F.Rreud thì cho rằng cấu trúc nhân cách bao
gồm vô thức, tiền ý thức, ý thức. Trong đó, vô thức là một thành phần quan
trọng trong đời sống tinh thần của con người.
A.G.Ananix xây dựng nhân cách theo hai nguyên tắc: nguyên tắc
thứ bậc và nguyên tắc phối hợp. Nguyên tắc thứ bậc có những thuộc tính
tâm sinh lý, những thành phần xã hội phục tùng thuộc tính xã hội chung
nhất, phức tạp nhất. Nguyên tắc phối hợp có nghĩa là nhiều mức độ của các
thuộc tính tác động qua lại lẫn nhau, phối hợp nhau.
Theo J.Stêfanôvic cấu trúc nhân cách phải được hiểu như là sự sắp
xếp những đặc điểm của nhân cách vào cái toàn bộ trong mối tác động qua
lại giữa chúng. Vì vậy, ông nêu lên các đặc điểm của cấu trúc nhân cách
như sau:
Đặc điểm tích cực – động cơ của nhân cách: Đặc điểm này thể hiện
tính chất xu hướng của nhân cách bao gồm hứng thú, khuynh hướng,
cái bản lĩnh của cá nhân.
- Phẩm chất ý chí: tính mục đích, - Năng lực hành động: khả năng
tính tự chủ, tính kỷ luật, tính quả hành động có mục đích, chủ động,
quyết, tính phê phán.
tích cực, có hiệu quả.
- Cung cách ứng xử: tác phong, lễ
tiết, tính khí.
- Năng lực giao tiếp: khả năng thiết
lập và duy trì mối quan hệ với người
khác.
Như vậy, nhân cách là diện mạo xã hội – tâm lý của mỗi người, là
một thành viên xã hội chịu sự chi phối của các mối quan hệ xã hội, đồng
thời là chủ thể hành động có ý thức trong sự phát triển xã hội.
Theo quan niệm của chúng tôi thì nhân cách bao gồm hai thành
phần cơ bản trên, đó là đức và tài, trong đó đức là gốc. Đó là phẩm chất xã
hội do con người sống, hoạt động, giao tiếp, học tập và rèn luyện đúc kết
13
lại trong con người. Nói như vậy, nhân cách con người gần đồng nghĩa với
tâm lý, tinh thần, do thân thể, nhất là não bộ, là cơ sở vật chất, nơi chứa
đựng và tạo điều kiện vật chất để hình thành và phát triển nhân cách, tức là
nhân cách có nguồn gốc là lịch sử - văn hóa của cộng đồng mà con người
mang nhân cách ấy sống trong đó, có cơ sở vật chất là cơ thể và bộ não, và
xã hội. Hai yếu tố này gắn kết với nhau, đan quyện vào nhau, trong cái tự
nhiên chứa đựng tính xã hội và cũng không có cái xã hội tách rời cái tự
nhiên. Con người không thể tồn tại được một khi tách rời khỏi xã hội chỉ
trong xã hội con người mới có thể trao đổi lao động, thông qua đó mà thỏa
mãn những nhu cầu trong cuộc sống, như ăn, ở, đi lại... Trong xã hội thông
qua quan hệ với người khác, mà mỗi người nhận thức về mình một cách
đầy đủ hơn, trên cơ sở đó mà rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt,
từng bước hoàn thiện nhân cách.
Trong xã hội mọi người có quan hệ lẫn nhau, con người là trung tâm
của các mối quan hệ, vì vậy con người phải được thể hiện như là một nhân
cách. Xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với
việc xây dựng nhân cách phát triển hài hòa. Đó là đòi hỏi cấp bách của sự
nghiệp xây dựng con người đạo đức – trí tuệ trong điều kiện đổi mới hiện
nay. Qua đó, ta có thể thấy được nhân cách là đặc điểm riêng của mỗi cá
nhân, mỗi giai cấp, mỗi dân tộc, nhưng nhân cách của mỗi người không thể
phát triển nếu không có sự giao lưu với nhau. Từ sự giao lưu đó mà các
nhân cách có cơ hội phát triển hài hòa tạo nên những nét chung, và với
những phẩm chất sẵn có cùng với sự rèn luyện của mình, con người Việt
Nam đã tạo nên những đặc trưng nhân cách riêng của mình, đó là bản sắc,
là văn hóa của dân tộc.
Đặc điểm nhân cách con người Việt Nam hiện nay đã phần nào đáp
ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, tuy nhiên cũng vẫn tồn tại những mặt yếu cần khắc phục.
Trước hết, phải kể đến những mặt tích cực của nhân cách con người
Việt Nam. Nhìn chung đại bộ phận các cá nhân đều có được hệ giá trị nhân
cách tích cực, các giá trị nhân cách cơ bản, từ thái độ chính trị đến giá trị
nhân sinh quan, như là những điều kiện cần thiết đòi hỏi ở con người đi
vào thế giới hiện đại - kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
như ngày nay.
lòng yêu nước thương dân, có tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng
loại, sống nhân văn, nhân đạo, có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế
16
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ những thành quả cách mạng, kiên quyết đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của kẻ thù.
Thứ hai, con người có ý chí kiên cường, có hoài bão lớn lao phát huy
tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát
huy tính tích cực của cá nhân, có tư duy sáng tạo và óc thực nghiệm.
Thứ ba, con người có tính tổ chức và kỷ luật, tinh thần trách nhiệm
cao và trung thực; có lòng nhân ái, tôn trọng và hợp tác được với người
khác. Đó là con người lao động mới, có tri thức sâu sắc về công việc mà
mình đang đảm nhận, lao động có ý thức kỷ luật, có tinh thần hợp tác với
đồng nghiệp, biết đánh giá chất lượng lao động, hiệu quả lao động của bản
thân.
Thứ tư, con người có sức khỏe, có khả năng tự hoàn thiện không
ngừng, năng động và thích ứng bảo đảm phát triển toàn diện cá nhân; biết
được vị trí của mình trong từng mối quan hệ xã hội và giải quyết đúng đắn
được những mối quan hệ đó; thường xuyên có ý thức nâng cao trình độ tri
thức về mọi mặt.
Thứ năm, con người có tinh thần pháp luật và ý thức công dân, ý
thức bảo vệ môi sinh và biết yêu cái đẹp. Đó là những con người luôn tuân
thủ và làm theo pháp luật, biết được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình
trong mọi hoạt động.
Bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp nêu trên, nhân cách con người
Việt Nam vẫn còn những hạn chế như mang nặng tâm lý thói quen của
người sản xuất, tầm nhìn hạn chế; thiếu tư duy lý luận, mang nặng chủ
nghĩa kinh nghiệm; thiếu khả năng sáng tạo trong lao động sản xuất.
để kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí đam mê); xởi lởi chiều khách song
không bền; tiết kiệm, nhưng cũng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu
vô bổ(sỹ diện, khoe khoang, thích hơn đời…); có tinh thần đoàn kết, tương
thân tương ái, song hầu như chỉ trong những hoàn cảnh, trường hợp khó
khăn, bần hàn. Trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này
ít khi xuất hiện; yêu hòa bình, nhẫn nhịn, nhưng nhiều khi hiếu chiến, hiếu
18
thắng vì những lý do tự ti lặt vặt, đánh mất đại cục; thích tụ tập nhưng lại
thiếu tính liên kết để tạo thành sức mạnh (cùng một việc, một người làm thì
tốt, ba người làm thì kém, bảy người làm thì hỏng)”[62;112-113]
Như vậy, có thể thấy rằng, bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp thì
người Việt Nam vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế. Và những điều đó
đang hạn chế sự đóng góp của mỗi con người cho xã hội, chúng ta cần phải
chung tay khắc phục những hạn chế đó, để xây dựng những con người có
nhân cách hoàn thiện hơn, góp phần xây dựng đất nước văn minh, tiến bộ.
1.1.3. Những yếu tố tác động tới hình thành nhân cách con người
Việt Nam hiện nay
Nhân cách của con người được hình thành và phát triển thông qua
quá trình sống, hoạt động và giao tiếp của chủ thể. Quá trình phát triển
nhân cách của một người không những biến đổi về lượng mà còn biến đổi
về chất. Đó là một quá trình phát triển liên tục, nhiều khó khăn.
Nhân cách con người chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố như: giáo
dục đào tạo trong gia đình, nhà trường và xã hội; những yếu tố xã hội: quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị trường, cách mạng tư tưởng
văn hóa, hội nhập quốc tế ; và hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân.
* Yếu tố giáo dục đào tạo trong gia đình, nhà trường và xã hội
Gia đình là nhân tố đầu tiên tác động đến sự hình thành nhân cách của
con người, bởi vì ngay từ khi lọt lòng, gia đình là môi trường đầu tiên mà
xã hội tác động tới sự hình thành nhân cách thông qua việc học tập và qua
thực tiễn cuộc sống của mỗi con người. Ngay cả những điều kiện vật chất
của nhân cách được thừa hưởng từ gia đình cũng có thể bị thay đổi( giữ
gìn, phát huy hay loại bỏ) bởi quá trình học tập.
Như vậy, giáo dục là điều kiện quan trọng để tạo ra sự biến đổi về
chất của cá nhân, trang bị những điều căn bản nhất, giúp con người phát
huy hết tiềm năng của bản thân. Tuy nhiên, trong thời đại công nghiệp hóa,
hiện đại hóa như hiện nay thì giáo dục gia đình lại ngày càng có xu hướng
20
bị xem nhẹ. Hầu hết, các bậc cha mẹ thường khoán trắng việc giáo dục trẻ
cho nhà trường, trong khi giáo dục gia đình là yếu tố quan trọng nhất, vì
gia đình là môi trường đầu tiên mà con người tiếp xúc, được rèn luyện. Vì
vậy, các bậc cha mẹ cần phải chủ động phối họp chặt chẽ mật thiết với nhà
trường và xã hội (qua các cơ quan tổ chức, đoàn thể) để giáo dục đạo đức
cho con em mình, đồng thời cũng phản hồi kịp thời về tình hình của con em
mình với nhà trường và các cơ quan hữu trách để công tác phối hợp giáo
dục thực sự đạt hiệu quả. Các bậc phụ huynh cần chủ động xây dựng và giữ
gìn hạnh phúc gia đình, xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận
lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của
con em.
Ba lực lượng trên phải phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục nhân
cách lành mạnh cho trẻ, để từ đó hình thành nên những nhân cách tốt, góp
phần xây dựng đất nước và xã hội sau này.
* Yếu tố xã hội
Bên cạnh những yếu tố tự nhiên, yếu tố giáo dục, những yếu tố xã
hội cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển nhân cách con người. Đặc
biệt sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước ta hiện nay, việc đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã