MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1 ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ CHỦ
3
QUAN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG
1.1.
1.2.
NHÂN NGHĨA CỦA NGUYỄN TRÃI
Xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ XIV đến nửa đầu thế kỷ XV
Tiền đề lý luận hình thành, phát triển tư tưởng nhân nghĩa
11
11
16
1.3.
của Nguyễn Trãi
Truyền thống gia đình, trí tuệ, tài năng và đức độ của
Nguyễn Trãi
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CỦA
25
33
2.1.
59
3.2
nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
Vận dụng tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi trong sự nghiệp
Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
70
82
84
88
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2
Cuối thế kỷ XIV đến nửa đầu thế kỷ XV là giai đoạn lịch sử đặc biệt
với nhiều biến động thăng trầm có tính chất bước ngoặt. Trong bối cảnh lịch
sử đặc biệt đó, trên đất nước chúng ta đã ra đời một con người mà mỗi lần
nhắc đến, không ai không kính phục về tài năng, phẩm cách, về công lao cứu
nước và dựng nước. Đó là Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, nhà tư tưởng
uyên bác, nhà văn, nhà thơ lỗi lạc, nhà văn hóa kiệt xuất, đã làm rạng rỡ non
sông đất nước Việt Nam. Nguyễn Trãi là người có công lao rất lớn trong việc
khái quát lên được những vấn đề mang tính quy luật của sự nghiệp dựng nước
nghĩa hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Sự nghiệp, cuộc đời của Nguyễn Trãi nói chung, tư tưởng của Nguyễn
Trãi nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía
cạnh khác nhau, qua các chủ đề phong phú và đa dạng. Có thể khái quát kết
quả các công trình nghiên cứu đó trong các chủ đề chính sau:
* Công trình nghiên cứu, sưu tập về các tác phẩm văn, thơ của
Nguyễn Trãi: Sau vụ án Lệ Chi Viên oan nghiệt các tác phẩm thơ, văn của
Nguyễn Trãi bị thất lạc rất nhiều, mãi đến năm 1467 sau ba năm giải oan cho
ông, Lê Thánh Tông xuống chiếu cho Trần Khắc Kiệm tìm di cảo thơ, văn
Nguyễn Trãi. Sau nhiều năm sưu tầm đến năm 1480 Trần Khắc Kiệm mới đề
tựa cuốn Ức trai thi tập, mãi đến năm 1868 bản in Ức trai di tập do Dương
Bá Cung sưu tập trong gần 50 năm được khắc in. Để cung cấp tài liệu cho
việc nghiên cứu về Nguyễn Trãi, Nxb Văn-Sử-Địa đã cho xuất bản các sách:
Năm 1956 xuất bản sách Nguyễn Trãi quốc âm thi tập do Phạm Trọng Điền
và Trần Văn Giáp phiên âm, chú giải; năm 1960 xuất bản sách Dư địa chí do
Phan Duy Tiếp dịch; năm 1961 xuất bản Quân trung từ mệnh tập do Phan
Duy Tiếp dịch. Năm 1962 Nxb Văn hóa xuất bản Thơ chữ hán của Nguyễn
Trãi do Phạm Võ, Lê Thước, Đào Phương Bình dịch.
4
Đặc biệt công trình: Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Sử học,
Nguyễn Trãi toàn tập [31] xuất bản năm 1969, in lần thứ hai (có sửa chữa bổ
sung) năm 1976 đã tập hợp khá đầy đủ các tác phẩm văn, thơ của Nguyễn
Trãi gồm: Lam Sơn thực lục, Chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh, Dư địa chí,
Quân trung từ mệnh tập, Bình ngô đại cáo, Phú núi Chí Linh, Văn bia Vĩnh
lăng, Ức trai thi tập, Quốc âm thi tập. Ngoài ra Nguyễn Trãi còn có các tác
phẩm: Ngọc đường di cảo, Luật thư, Giao tự đại lễ và Thạch khánh đồ cùng
nhiều thơ chữ hán khác đã thất lạc sau vụ án Lệ Chi viên năm 1442. Nghiên
lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2005
[24]. Trong tác phẩm này, tác giả tập trung trình bày những nét chung, tiêu
biểu nhất về sự hình thành và phát triển của tư tưởng Việt Nam trong những
giai đoạn khác nhau của lịch sử, với những nhà tư tưởng tiêu biểu đại diện
cho các giai đoạn phát triển đó. Tuy nhiên, do lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu
khá rộng, tác giả chỉ đề cập đến những tư tưởng cơ bản, chủ yếu nhất mang
tính khái quát, mà chưa đi sâu phân tích nội dung tư tưởng của từng tác giả.
Nguyễn Tài Thư, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập 1, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 [30]. Tác giả không chỉ trình bày toàn bộ tiến
trình phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử với nhiều
nhà tư tưởng tiêu biểu mà dành một phần khá lớn nội dung của tác phẩm để
trình bày khái quát điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề tư
tưởng hình thành và phát triển tư tưởng đó. Đối với tư tưởng Nguyễn Trãi tác
giả đi vào ba nội dung cơ bản là: quan niệm về quốc gia và quốc gia độc lập,
tư tưởng nhân nghĩa, quan niệm về đạo làm người, riêng phần tư tưởng nhân
nghĩa tác giả đi sâu phân tích với tính cách là một đường lối chính trị cứu
nước, cứu dân và đánh giá nhân nghĩa trở thành động lực thúc đẩy xã hội
đương thời phát triển.
Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập VI và VII, Nhà
xuất bản Tp. Hồ Chí Minh, 1998 [27]. Tác giả không chỉ trình bày khái quát
6
nội dung tư tưởng Việt Nam thông qua các nhà tư tưởng tiêu biểu trong đó có
Nguyễn Trãi mà còn phân tích cơ sở lý luận hình thành các tư tưởng đó. Đối
với Nguyễn Trãi ngoài trình bày nội dung tác giả đi sâu phân tích để chứng
minh những tư tưởng đó có sự ảnh hưởng của nho, phật, đạo nhưng đã được
Việt Nam hóa một cách tài tình nên nó mang khí phách và hồn của dân tộc
Việt, nhưng tác giả tiếp cận thiên về màu sắc tôn giáo.
Đây là những công trình quan trọng để tác giả tiếp cận làm rõ cơ sở xã
Nhân văn Quân sự, Khoa học xã hội và nhân văn với sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2002 [34];
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự, Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2003
[35] …. Đặc biệt công trình: Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự, Sự
phát triển quan điểm lý luận bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2010 [37]. Trong công trình này các tác giả đã
trình bày một cách toàn diện có hệ thống các quan điểm các quan điểm lý luận
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của
Đảng đến nay, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm và dự báo những
nhân tố tác động đến sự phát triển quan điểm lý luận bảo vệ Tổ quốc của
Đảng ta trong những năm tiếp theo cũng như đưa ra nhưng nội dung cần tiếp
tục khẳng định, bổ sung và phát triển trong thời kỳ mới.
Nhìn lại, những công trình trên cho thấy, các tác giả tuỳ theo góc độ
nghiên cứu của mình đã nghiên cứu, đánh giá về Nguyễn Trãi khá toàn diện
trên phương diện lịch sử cũng như tư tưởng. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện, khoa học về “Tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi và ý nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện
nay”. Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu của đề tài
8
Nghiên cứu một số nội dung cơ bản của tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi,
từ đó rút ra ý nghĩa đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan hình thành, phát
triển tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.
Chương 1
ĐIỀU KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN
10
HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA
CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1. Xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ XIV đến nửa đầu thế kỷ XV
1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Xã hội Đại Việt chia rẽ, chứa chấp nhiều mâu thuẫn, nền kinh tế điền
trang, thái ấp không còn phù hợp, trở thành lực cản cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Cuối thế kỷ XIV đến nửa đầu thế kỷ XV xã hội Đại Việt rơi vào cuộc
khủng hoảng trầm trọng. Triều đại nhà Trần sau những đóng góp quan trọng
của mình đã không còn nắm giữ vai trò tiến bộ như trước mà dần dần bước
vào giai đoạn tụt hậu nặng nề. Các điền trang, thái ấp tiếp tục được mở rộng
song sản xuất lại trở nên trì trệ, đình đốn đời sống của các nông nô bị bần
cùng hóa, nạn mất mùa đói kém triền miên khiến nông dân nổi dậy khắp nơi.
Kinh tế kiểu điền trang, thái ấp thật sự không còn phù hợp và đã thành lực cản
nặng nề với phát triển kinh tế. Nếu trước đây nhà Trần quan tâm tới dân,
chăm lo cho dân bao nhiêu thì bây giờ ngược lại chỉ biết hưởng lạc, vun vén
cho riêng mình bấy nhiêu. Tầng lớp quý tộc chỉ biết tăng cường bóc lột, vơ
vét, chiếm đoạt, mải mê ăn chơi mà không hoài ngóng tới dân tình đang sống
như thế nào dưới triều đại của mình. Sự khủng hoảng rơi vào cực độ ở thời
vua Trần Dụ Tông khi đem sự vui chơi xa hoa, trụy lạc lên tới đỉnh điểm
“Đào hồ ở vườn ngự trong hậu cung, trong hồ xếp đá làm núi, bốn mạch đều
khai ngòi cho chảy thông nhau. Trên bờ hồ trồng thông, tre và các thứ hoa
thơm cỏ lạ, lại nuôi chim quý, thú lạ trong đó... Lại đào một hồ nhỏ khác sai
người hải Đông chở nước mặn chứa vào đó, đem các thứ hải vật như đồi mồi,
cua, cá nuôi ở trong hồ. Lại sai người Hóa Châu chở cá sấu đến thả vào đó.
Hồ Quý Ly bị chống đối từ nhiều phía, khi dân chúng không ủng hộ, không
có được một cơ sở xã hội vững chắc. Nhà Hồ chưa kịp thiết lập quyền thống
12
trị bền vững, thiếu sự đồng thuận từ nhân dân thì phải chống đỡ với âm mưu
xâm lược của nhà Minh.
1.1.2. Đại Việt đứng trước nạn đô hộ của ngoại bang
Đất nước đứng trước nạn giặc ngoại xâm đô hộ, đòi hỏi bức thiết của dân
tộc lúc này là làm thế nào để tập hợp được toàn dân đứng lên đánh đuổi giặc
Minh xâm lược, giữ vững nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nhưng
phải giải quyết được lợi ích của đa số nhân dân lao động đã bị đè nén, kìm kẹp
từ cuối triều đại nhà Trần.
Vào thời kỳ này, châu Âu bước vào thời kỳ phục hưng đang chuyển
mình mạnh mẽ. Ở châu Á cũng có nhiều biến động to lớn, điển hình là Trung
Quốc sau chiến tranh giải phóng nông dân do Chu Nguyên Chương lãnh đạo
năm 1368 đã lật đổ chế độ thống trị của nhà Nguyên lập nên triều Minh. Thời
kỳ nhà Minh thuộc dòng Hán tộc lên nắm giữ quyền thống trị, xây dựng chế
độ chuyên chế và phát triển đạt tới đỉnh cao cực thịnh. Bằng những chính
sách ban đầu rất tích cực như khuyến khích khai hoang, đẩy mạnh sản xuất,
giảm nhẹ tô thuế và sưu dịch cho dân…đã đưa đất nước Trung Quốc trở thành
một quốc gia phong kiến hùng mạnh, thịnh vượng. Trung Quốc dù là triều đại
nào thì suốt lịch sử của đất nước ấy luôn diễn ra hai quá trình: một mặt đẩy
mạnh sản xuất, khai hoang trong nước mặt khác là tham vọng bành trướng,
mở rộng xâm chiếm ra bên ngoài lãnh thổ. “Lúc bấy giờ ở phương Đông chế
độ phong kiến đang ngự trị và nhiều thế lực bành trướng đang hoành hành dữ
dội trong đó đế chế Minh là lớn mạnh và nguy hiểm nhất” [38, tr. 375]. Triều
đại nhà Minh được lập nên nhờ kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
song cũng không phải là ngoại lệ khi vẫn mang mộng xâm lấn sang các nước
lân cận để thần phục và bắt nạp triều cống làm lợi cho nhà Minh. Triều Minh
chức, thiếu sự liên minh, đặc biệt thiếu một lý tưởng hợp lòng dân để đoàn kết
được toàn dân tộc thành lực lượng đông đảo chống giặc ngoại xâm. Làm thế nào
14
để quy tụ, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để
đánh đuổi giặc ngoại xâm, vẫn là câu hỏi lớn chưa tìm được câu trả lời thích đáng.
Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử đặc biệt đó cùng với
khát vọng cứu nước, cứu dân in sâu vào tâm khảm ông từ thời trẻ nên mặc dù
được đào tạo trong trường lớp Nho học phong kiến nhưng khi tiếp thu tư tưởng
nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã lồng vào đó nội dung mới gắn với giải quyết những
bức xúc của xã hội Đại Việt đương thời. Nhân nghĩa của ông đi liền với cứu nước,
cứu dân nhưng tập trung vào việc đem lại lợi ích cho đại đa số nhân dân lao động,
lực lượng có tiềm năng to lớn, có khát vọng được giải phóng nhưng bị kìm kẹp
trong nhiều thế kỷ qua từ cuối triều đại nhà Trần. Vì thế, ngọn cờ nhân nghĩa cứu
nước, an dân quyết “Trừ độc trừ tham trừ bạo ngược” của Nguyễn Trãi đã đáp
ứng đúng khát vọng và lòng mong mỏi của nhân dân muốn đứng lên đánh đuổi
giặc ngoại xâm giải phóng mình nhưng chưa có ngọn cờ phù hợp để quy tụ họ tạo
nên sức mạnh vô địch của toàn dân tộc. Ông đem đường lối cứu nước đó đến với
phong trào khởi nghĩa Lam Sơn, phất cao lá cờ chính nghĩa kêu gọi nhân dân
chung lòng, góp sức giết giặc cứu nước. Đường lối cứu nước nhân nghĩa này
đã giúp Lê Lợi không chỉ thu nạp được đội quân đông đảo tham gia vào nghĩa
quân của mình cùng ra trận, mà còn có được sự hưởng ứng của các cuộc khởi
nghĩa địa phương, nhân dân các châu, các huyện cùng tham gia chiến đấu,
tiếp tế về nhiều mặt. Vì có sức cổ vũ mạnh mẽ ấy mà nghĩa quân cùng chủ
tướng của mình đã lần lượt đi qua những khó khăn trên chiến trận dù đói ăn
thiếu mặc, quân thù bao vây tứ phía. Sau 10 năm chung lưng đấu cật, chiến
đấu một cách oanh liệt, không mệt mỏi đội quân chiến đấu dưới ngọn cờ của
Lê Lợi đã giành chiến thắng lẫy lừng đập tan âm mưu, tham vọng bành
trướng, thống trị đất nước ta của giặc Minh. Thủ tiêu được ách đô hộ của giặc
thương nòi đã đứng lên kiên quyết đấu tranh cho nền độc lập của Tổ quốc, mà
tên tuổi họ còn ghi sâu trong tâm trí người Việt như: Lý Bí, Triệu Quang
16
Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Đình Nghệ... Trong nửa đầu thế
kỷ thứ X, Ngô Quyền đã nhấn chìm quân Nam hán xâm lược xuống lòng sông
bạch đằng, dựng nên nền độc lập lâu dài cho nước nhà từ đấy.
Dân tộc Việt Nam trong lịch sử đã trải qua hàng ngàn năm kiên trì đấu
tranh chống giặc ngoại bang xâm lược, đã nếm đủ mùi cay đắng và khổ nhục
của một dân tộc lầm than, mất nước nên nhiều lần đã phải vùng lên đấu tranh
tự giải phóng mình. Ở đó, yêu quê hương, đất nước không chỉ có lòng căm
thù giặc sâu sắc mà còn phải đứng lên, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh tuổi trẻ,
tính mạng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương. Chủ nghĩa yêu nước đã phát
triển thành các quan niệm về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đồng bào, về cội
nguồn sức mạnh, quy tắc sống, hành động, sự cố kết cộng đồng trách nhiệm,
con đường, biện pháp đánh giặc cứu nước, giữ đất, giữ nhà và đã được đúc kết
thành nguyên lý: cùng một giống nòi, tổ tiên thì phải có nghĩa vụ thương yêu
nhau, đùm bọc nhau, giúp đỡ nhau; nếu đoàn kết thì có sức mạnh, chung sức
chung lòng thì dời được non, lấp được biển, nếu tách rời lẻ loi, cô độc thì sẽ bị
tiêu diệt, v.v.. Tư tưởng yêu nước truyền thống dân tộc Việt Nam đã trở thành
cốt cách, phong cách sống, chiến đấu con người Việt Nam, được thử thách
thường xuyên, liên tục qua các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược, gắn liền
với ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường.
Dân tộc ta luôn đề cao lòng tự hào dân tộc, bằng sức mạnh nội lực đã
đứng vững và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử. Yêu nước trong truyền
thống dân tộc Việt Nam là một hệ tư tưởng có giá trị và là cách ứng xử có
nguyên tắc, chuẩn mực, đậm đà bản sắc, cốt cách con người Việt Nam, nhờ
đó, dân tộc Việt Nam luôn ngẩng cao đầu, tồn tại trong danh dự với khí phách
quật cường, bất khuất. Những yếu tố đó đã tạo ra mạch sống trường tồn của
nhưng nội dung cốt lõi thoát khỏi truyền thống vong bản chính thống, trở
18
thành nhân nghĩa vì sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của ngoại
bang đem lại cuộc sống yên bình, hạnh phúc cho nhân dân.
1.2.2. Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tư tưởng nhân nghĩa và yêu
thương con người trong văn hóa phương Đông
* Nguyễn Trãi đã tiếp thu những yếu tố tích cực về nhân nghĩa KhổngMạnh, đó là lòng yêu thương con người và lẽ phải cần làm nhưng đã được
ông đẩy lên ở một tầm cao mới thoát khỏi tư tưởng bảo thủ, phân biệt đẳng
cấp trong quan niệm về nhân nghĩa của Nho giáo.
Khổng Tử (551 – 479 tr.CN) sống trong thời đại mà “vương đạo suy
vi”, “bá đạo” đang nổi lên lấn át “vương đạo” của nhà Chu. Đứng trong bối
cảnh đó ông chủ trương lập lại kỷ cương nhà Chu bằng học thuyết Nhân- LễChính danh. Nhân (仁) xét theo hình dáng văn tự tượng hình gồm hai thành tố
là chữ người và chữ nhị (nghĩa là hai) với cách hiểu này thì nhân là quan hệ
giữa người với người mà không có ý nghĩa bình luận và đánh giá nào cả.
Nhưng theo Khổng Tử thì nhân là mối quan hệ lý tưởng, tức mối quan hệ tốt
đẹp nhất giữa người với người. Nhân của Khổng Tử không nói riêng một đức
tính nào mà chỉ nói chung mọi đức tính của con người, người có nhân đồng
nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên nhân là nghĩa rộng nhất của đạo làm
người. Học trò Khổng Tử là Phàm Trì hỏi thế nào là nhân, Khổng Tử trả lời
“Ái nhân” – thương người; có lúc Khổng Tử trả lời: Điều gì mà mình không
muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác đó là nhân (Kỷ sở bất dục,
vật thi ư nhân), hoặc: mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân,
mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt đó là nhân (Kỷ dục
lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân). Như vậy, theo Khổng Tử thì nhân
là bản chất, đức tính nhân ái, nhân đức của con người. Nhân còn là đạo làm
người nên nhân chính là cái đích của sự tu thân sửa mình của mỗi người trong
xã hội. Khổng Tử chủ trương dùng lễ để đưa mỗi người, đưa cả nước và cả
20
với mục đích phục vụ giai cấp thống trị. Đạo nhân nghĩa chỉ là đạo của lớp
người quân tử không phải là đạo của người dân thường có thể vươn tới được.
Với tư cách là một nhà Nho được đào tạo trong nền Nho học Đại Việt, thông
qua các tác phẩm văn thơ của Nguyễn Trãi, chúng ta thấy, tư tưởng của ông
chịu ảnh hưởng của Nho giáo, trong đó có tư tưởng nhân nghĩa. Ông sử dụng
nguyên cụm từ nhân nghĩa (仁義)của Nho giáo trong các tác phẩm của mình
nghĩa là cái lõi bên trong của nhân nghĩa theo Nguyễn Trãi vẫn là yêu thương
con người và lẽ phải cần làm. Nên có những chỗ nhân nghĩa được Nguyễn
Trãi dùng gần giống với quan niệm của Khổng, Mạnh như trong thư gửi cho
Đả Trung và Lương Nhữ Hốt có đoạn “Tôi cũng lấy đạo nhân nghĩa, hết lòng
kính thờ triều đình, phàm quan quân triều đình đều đưa về hết” [31, tr.109] ở
đây nhân nghĩa được hiểu là hết lòng kính thờ triều đình, hay trong Lam Sơn
thực lục cũng có câu “Trong khoảng vua tôi, lấy nghĩa lớn mà xử với nhau”
[31, tr.73] trường hợp này nghĩa được dùng để biểu hiện quan hệ vua tôi đúng
như nội dung nghĩa của Mạnh Tử. Tuy nhiên, đa số các trường hợp nhân
nghĩa của Nguyễn Trãi có nội dung tiến bộ vượt lên trên quan niệm Khổng
Mạnh, đó là nhân nghĩa gắn với nhân dân lao động, gắn với sự nghiệp cứu
nước, an dân.
* Cùng với Nho Giáo tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn chịu
ảnh hưởng của tư tưởng Lão - Trang đó là đạo và đức, theo thời mà thuận,
ung dung, tự tại không màng danh lợi.
Tư tưởng của Lão Tử có nhiều nội dung nhưng ảnh hưởng sâu đậm
tới các nhà tư tưởng Việt Nam là quan niệm về đạo và đức. Theo Lão Tử
đạo là phạm trù quan trọng nhất, ông coi mọi sự sinh thành, biến hóa của
vạn vật đều từ đạo mà ra. Đạo được Lão Tử dùng để chỉ trật tự của tự
nhiên, về tính quy luật của vạn vật: Người theo quy luật của đất, đất theo
quy luật của trời, trời theo quy luật của đạo, đạo theo quy luật của tự nhiên;
22
triển, nghịch lòng dân thì sẽ suy tàn. Từ đó, khi tiếp thu tư tưởng nhân
nghĩa của Nho giáo, Nguyễn Trãi có một quan điểm mới về dân, tôn trọng,
đề cao vị trí vai trò nhân dân và mục đích thực hành nhân nghĩa cũng là vì
dân, an dân. Mặt khác, tư tưởng để “toàn sinh” phải “yêu theo thời mà ở
thuận” và không màng danh lợi, đã tạo nên một con người Nguyễn Trãi
không tham lam, không trung một cách mù quáng mà luôn biết “theo thời
mà thuận”, nên khi thấy Hồ Quý Ly bước đầu có những cải cách tiến bộ
ông đã mang nhân nghĩa của mình cống hiến, nhưng khi Hồ Quý Ly không
đáp ứng được nguyện vọng nhân dân dẫn đến thất bại cay đắng trước giặc
Minh xâm lược, nhìn thấy điều đó nên Nguyễn Trãi quay sang phò Lê Lợi
cùng với phong trào Lam Sơn để tiếp tục lý tưởng cứu nước, cứu dân của
mình. Những tư tưởng đó hoàn toàn không có trong các nhà Nho vong bản
thời phong kiến.
* Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn thấm nhuần triết lý nhân
sinh từ bi, bác ái và bình đẳng không phân biệt đẳng cấp của Phật giáo.
Triết lý nhân sinh là một trong những nét đặc sắc của Phật giáo với cốt
lõi là bốn chân lý huyền diệu gồm khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế: khổ đế là
chân lý về những nỗi khổ mà chúng sinh đều phải gánh chịu; tập đế là chân lý
về các nguyên nhân gây ra nỗi khổ (thập nhị nhân duyên); diệt đế là chân lý
khẳng định có thể diệt được nỗi khổ, đạt tới trạng thái Niết bàn; đạo đế là
chân lý về con đường hữu hiệu để giải thoát, đó là chân lý về con đường “bát
chính đạo”, hoàn thiện đạo đức cá nhân. Những tư tưởng cơ bản về nhân sinh
của phật giáo tự nó vừa chứa đựng tính định hướng, vừa chứa đựng những
chất liệu quan trọng tạo dựng nên những giá trị đạo đức xã hội và đời sống
đạo đức cá nhân. Được xã hội hoá và xây dựng thành các quy tắc, chuẩn mực
quy định hành vi, hoạt động sống của con người trong xã hội Ấn Độ cổ, trung
đại. Với mục đích là “giải thoát”, Phật giáo đã hình thành những nguyên tắc,
24
đó nên tư tưởng từ bi bác ái, bình đẳng, yêu thương con người không phân
biệt đẳng cấp, từng lớp xã hội mà hướng tới giải thoát con người đã ảnh
hưởng lớn đến con người và tư tưởng Nguyễn Trãi, ngay cả với kẻ thù tư
tưởng của ông cũng hết sức nhân đạo:
Đến như thần võ không giết
Đức lớn hiếu sinh
Nghĩ về kế lâu dài của nhà nước
Tha kẻ hàng 10 vạn sĩ binh [31, tr.87]
Do vậy, khi tiếp thu tư tưởng nhân nghĩa của nho giáo Nguyễn Trãi đã có
những cải biến về nội dung làm cho nhân nghĩa của ông khác hẳn với nhân
nghĩa vong bản chính thống mà nổi bật là tư tưởng yêu thương nhân dân
lao động và khát vọng giành độc lập dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no tự
do cho nhân dân.
1.3. Truyền thống gia đình, trí tuệ, tài năng và đức độ của Nguyễn
Trãi
1.3.1. Truyền thống gia đình Nguyễn Trãi
Gia đình Nguyễn Trãi là gia đình Nho bảng, các thế hệ trước đều là
những tri thức uyên bác, có công lớn với triều đình nhưng lại có lòng yêu
thương nhân dân sâu sắc.
Ông tổ xa xưa của Nguyễn Trãi là Đinh quốc công Nguyễn Bặc, người
có công cùng Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất Tổ quốc. Sau
ông bị Lê Hoàn giết hại, trải qua hơn 440 năm đến Nguyễn Trãi. Cháu 9 đời
của Nguyễn Bặc là Nguyễn Minh Du giữ chức quản quân thiết hổ vào năm
1378, có nhiệm vụ bảo vệ hoàng tộc, bảo vệ cấm thành. Nguyễn Minh Du
cùng gia tộc từ Chi Ngại, Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc chuyển đến lập nghiệp
ở Trại Ổi, thuộc xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín nay thuộc
xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông sinh được ba người con trai,
Hòa phòng xuy biến cửu châu tâm
(Chỉ ước thân ta làm ống bể