Vận dụng tư tưởng thân dân của nguyễn trãi vào hoàn thiện hệ thống chính trị ở việt nam hiện nay - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHÙNG NGỌC TIẾN

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG THÂN DÂN
CỦA NGUYỄN TRÃI VÀO HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60. 31. 02. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Viết Quang

VINH - 2015


2

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều
sự động viên và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Qua
đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Trần Viết
Quang, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ để tôi hoàn
thành Luận văn Thạc sỹ của mình.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới quý
Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và truyền đạt những kiến
thức bổ ích cho bản thân trong suốt quá trình học tập.
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học
và Ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học

Mục lục
A. MỞ ĐẦU
......................................................................................................................
1. Lý do chọn đề tài
......................................................................................................................
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
......................................................................................................................
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
......................................................................................................................
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
......................................................................................................................
5. Đóng góp về khoa học của đề tài
......................................................................................................................
6. Kết cấu của đề tài
......................................................................................................................
B. NỘI DUNG
......................................................................................................................
Chương 1: Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi
......................................................................................................................
Lý luận chung về tư tưởng thân dân
......................................................................................................................
Những tiền đề hình thành tư tưởng thân dân Nguyễn Trãi
......................................................................................................................
Những nội dung cơ bản trong tư tưởng thân dân Nguyễn Trãi
......................................................................................................................
Kết
luận
chương
1
......................................................................................................................

114
115
118


2.1 Khái quát về hệ thống chính trị và việc vận dụng tư tưởng thân dân
Nguyễn Trãi trong quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam
hiện
nay
5
......................................................................................................................
2.2 Một số giải pháp nhằm vận dụng
tư tưởng
A. MỞ
ĐẦU thân dân Nguyễn Trãi vào
quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
......................................................................................................................
1. Lý do chọn đề tài
Kết
luận
chương
2
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng “dân vi bang bản” (dân là gốc
......................................................................................................................
của nước) luôn là một trong những
lối trị nước
C.
KẾT tư tưởng chủ đạo về đườngLUẬN
......................................................................................................................
không chỉ của các triều đại phong kiến, mà hiện nay vẫn còn nguyên giá trị đối

Giáo dục, Hà Nội.
- Trần Huy Liệu (2000), Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp, Nxb. Văn
hoá – Thông tin, Hà Nội.


6
- Nguyễn Thị Thục Anh (1998), Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV, Tạp chí Triết học (số 6)
- Nguyễn Khánh Toàn (1980), Về tư tưởng yêu nước thân dân của
Nguyễn Trãi, Tạp chí Triết học (số 3).
Trong các công trình này, các tác giả đã phân tích tư tưởng thân dân của
Nguyễn Trãi trên nhiều bình diện khác nhau, song tựu trung lại đều tập trung ở
quan điểm dân là gốc.
Tác giả Trần Huy Liệu trong Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp khi bàn
về tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi cũng khẳng định “trong cuộc sống cũng
như trong thơ văn, Nguyễn Trãi luôn hướng về phía nhân dân. Ở Nguyễn Trãi,
hình như lúc nào cũng có nhân dân”. Theo tác giả, tư tưởng thân dân của
Nguyễn Trãi tuy chịu ảnh hưởng từ tư tưởng thân dân Khổng – Mạnh, nhưng ở
Nguyễn Trãi “tư tưởng nhân dân đậm đà, sâu sắc hơn, có hệ thống hơn và nhất
trí với nhau từ đầu đến cuối hơn, nó vì nhân dân hơn là vì lợi ích của giai cấp
phong kiến. Đó là tư tưởng thân dân do thực tế Việt Nam hun đúc lên”.
Đặc biệt Trần Huy Liệu đã nhấn mạnh quan điểm thân dân của Nguyễn
Trãi qua khát vọng của ông về xây dựng một xã hội lý tưởng mà ở đó: “Vua
Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn/Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền”.
Trong công trình Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử tư tưởng
Việt Nam của tác giả Võ Xuân Đàn đã trình bày một cách khái quát hoàn cảnh
xã hội và nguồn gốc hình thành toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi. Khi trình bày
khái quát nội dung tư tưởng của Nguyễn Trãi, tác giả công trình này đã tập trung
làm rõ ba nội dung: tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự và tư tưởng đạo đức;
giáo dục và mỹ học của Nguyễn Trãi. Đề cập đến tư tưởng chính trị của Nguyễn

thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Phạm Ngọc Trâm (2011), Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt
Nam (1986 – 2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.


8
- Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu chuyên đề bồi dưỡng lý
luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ đoàn cơ sở, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
- Lê Hữu Nghĩa (2013), Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị
ở nước ta hiện nay: một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Tạp chí Lý luận chính trị,
(số 1)…
Trong Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới do GS.VS Nguyễn
Duy Quý chủ biên đã tổng kết, đánh giá hiện trạng, những thành tựu và hạn chế
của hệ thống chính trị nước ta từ năm 1986 đến 2008. Đồng thời, dự báo xu
hướng vận động, phát triển của hệ thống chính trị Việt Nam trong những thập
niên tới và các giải pháp hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong tình hình
mới.
Công trình Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986 –
2011) của Phạm Ngọc Trâm tập trung nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát
triển hệ thống chính trị Việt Nam từ năm 1945 đến 1986, trên cơ sở đó phân
tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới, hoàn thiện hệ
thống chính trị ở nước ta giai đoạn 1986 – 2011 dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Ngoài ra còn có một số công trình tập trung nghiên cứu một nhân tố trong
hệ thống chính trị Việt Nam như:
- Nguyển Trọng Yểu, Lê Hữu Nghĩa (2006), Xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
- Lê Minh Quân (chủ biên, 2009), Nhà nước trong hệ thống chính trị ở

nước. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi luôn
được họ chú trọng và bồi đắp thêm, song phải đến thời đại Hồ Chí Minh, tư
tưởng thân dân mới thực sự trở thành tư tưởng dân chủ, nghĩa là quan điểm “dân
vi bang bản”, “dân vi quí” được nâng lên tầm “dân là chủ” và “dân làm chủ”.


10
Lịch sử của dân tộc ta đã chỉ ra rằng, nhân dân luôn là chủ thể sáng tạo ra
mọi thành quả to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Trong giai đoạn
đổi mới và phát triển đất nước hiện nay, việc hoàn thiện hệ thống chính trị Việt
Nam để xây dựng nước ta thực sự là một nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh” luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ta chú trọng. Độc lập
cho dân tộc, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động
lực thúc đẩy đất nước đi lên theo con đường xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc tìm
hiểu và kế thừa những yếu tố tích cực trong tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi
đối với việc hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn cấp bách.
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Vận dụng tư tưởng
thân dân của Nguyễn Trãi vào hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện
nay” làm đề tài luận Thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng thân dân
của Nguyễn Trãi, qua đó đề xuất quan điểm và giải pháp vận dụng tư tưởng thân
dân vào hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau đây:
- Làm rõ nội dung và ý nghĩa thời đại của tư tưởng thân dân của Nguyễn

5. Đóng góp về mặt khoa học của đề tài
Thông qua nguồn tài liệu thu thập được, luận văn tập trung phân tích để
làm rõ các nội dung cơ bản trong tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và bước
đầu luận giải giá trị của tư tưởng đó vào hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam
hiện nay.


12
Từ kết quả đạt được, luận văn góp phần làm rõ tư tưởng “dân vi bang
bản” (dân là gốc nước) trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, trên cơ sở đó thấy được
giá trị lịch sử của tư tưởng dân là gốc nước đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn
thiện hệ thống chính trị Việt Nam vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”.
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy lịch sử tư tưởng – chính trị Việt Nam.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 2 chương với 5 tiết.
- Chương 1: Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi
- Chương 2: Tư tưởng thân dân với quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị
ở Việt Nam hiện nay.


13

B. NỘI DUNG
Chương 1
TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1. Lý luận chung về tư tưởng thân dân
Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, tư tưởng thân dân xuất hiện từ rất

cũng không phải là tuyệt đối bởi chúng có mối quan hệ tương tác với nhau.
Chẳng hạn, giáo hóa dân là một trong những nội dung của tư tưởng thân dân,
nhưng chính giáo hóa dân cũng sẽ làm cho dân đi tới thay đổi theo hướng tích
cực. Cũng về khái niệm thân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thân dân
tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết” [52, tr.377]. Như
vậy, việc phân biệt hai khái niệm này chỉ mang tính tương đối mà thôi. Cho nên
trong phần trình bày tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi dưới đây, chúng tôi sẽ
sử dụng khái niệm “thân dân” để bám sát tinh thần của Nho giáo hơn.
1.2. Những tiền đề hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi
1.2.1. Tiền đề chính trị - xã hội
1.2.1.1. Khái quát thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, con Thái học sinh Nguyễn
Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, cháu ngoại của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán.
Tổ tiên của Nguyễn Trãi ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, trấn Kinh Bắc (nay
là xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau chuyển về làng Ngọc Ổi,
huyện Thượng Phúc, Hà Đông (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thượng Tín, Hà
Nội).
Thân phụ Nguyễn Trãi tuy đỗ bảng nhãn vào năm 1374 nhưng do Thượng
hoàng Trần Nghệ Tông cho là con nhà thường dân mà lại lấy con gái họ tôn thất
nên không bổ ông ra làm quan. Chính vì vậy, ông không ra làm quan cho nhà


15
Trần mà trở về quê ở làng Nhị Khê mở trường dạy học. Trong thời gian Nguyễn
Phi Khanh (lúc này là Nguyễn Ứng Long) dạy học ở Nhị Khê, Nguyễn Trãi
sống cùng mẹ tại tư dinh của ông ngoại Trần Nguyên Đán.
Năm 1385, Trần Nguyên Đán cáo quan về sống tại động Thanh Hư trên
núi Côn Sơn. Lúc này Nguyễn Trãi mới lên năm tuổi cũng theo mẹ và ông ngoại
về sống tại Côn Sơn. Ít lâu sau, bà Trần Thị Thái mất và đến năm 1390 Trần
Nguyên Đán cũng qua đời. Lúc này Nguyễn Trãi trở về làng Nhị Khê sống cùng

thứ 19), viết trong tựa sách Ức Trai di tập thì phương châm cơ bản nêu trong
Bình Ngô sách “không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói đến việc đánh
vào lòng người” [86, tr.14]. Tư tưởng chiến lược này chính là một trong những
nhân tố quyết định thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn.
Trong thời gian kháng chiến, Nguyễn Trãi một mặt giúp Lê Lợi trù hoạch
việc quân cơ, mặt khác ông đại diện cho Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn viết thư
cho các tướng nhà Minh để mắng nhiếc hoặc khiêu khích, dụ hàng chúng. Trước
những lời lẽ đanh thép nhưng luôn trừ cho kẻ thù một con đường thoát của
Nguyễn Trãi, hàng loạt các tướng giặc đã đem quân ra hàng như tướng Lưu
Thanh trấn thủ thành Tam Giang, các tướng ở thành Nghệ An, Diễn Châu,
Thuận Hóa, Tây Đô...
Với tài năng và bản lĩnh của mình, Nguyễn Trãi đã cùng với Lê Lợi và
nghĩa quân Lam Sơn liên tiếp giành được những thắng lợi quan trọng, làm cho
thế và lực của quân Minh ngày càng suy kiệt. Đến ngày 12 tháng 12 năm Đinh
Mùi (tức ngày 29 tháng 12 năm 1427) cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống
quân Minh xâm lược đi đến thắng lợi hoàn toàn khi Vương Thông đem toàn bộ
quân rút về nước.
Những năm tham gia trong phong trào của nghĩa quân Lam Sơn là những
năm mà tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi được hoàn thiện và thực thi trong
hiện thực hoàn chỉnh nhất. Suốt mười năm “nằm gai nếm mật” với nhân dân đã
giúp Nguyễn Trãi có cái nhìn thấu đáo về những nỗi khổ nhục của một người


17
dân mất nước và cũng trong khó khăn đó sức mạnh của nhân dân cũng được bộc
lộ. Điều này đã giúp Nguyễn Trãi đưa ra đường lối chiến tranh nhân dân lấy
nhân nghĩa làm nền tảng. Vì thế mà cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càng
dành được những thắng lợi quan trọng, và cũng chính sự phát triển của cuộc
khởi nghĩa đã tạo điều kiện để Nguyễn Trãi hoàn thiện tư tưởng của mình về vai
trò và sức mạnh của nhân dân.

1.2.1.2. Tình hình đất nước cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV và sự xác
lập nền độc lập – tự chủ của vương triều Lê
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều đại nhà Trần là một triều đại
hiển hách với ba lần đại phá quân Nguyên Mông cũng như bình phục được
Chiêm Thành. Tuy nhiên, từ nửa sau thế kỷ XIV nhà Trần bước vào giai đoạn
khủng hoảng với những biến động sâu sắc. Kinh tế thái ấp điền trang đã trở nên
lạc hậu và là lực cản đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Trong khi đó nền kinh tế địa chủ với quan hệ địa chủ tá điền ngày càng được
củng cố phát triển và chiếm ưu thế trong xã hội.
Mâu thuẫn này đặt ra yêu cầu cho lịch sử lúc này là phải thủ tiêu chế độ
thái ấp điền trang, giải phóng nông nô nô tì khỏi sự bóc lột của tầng lớp quý tộc
nhà Trần và từng bước xác lập quan hệ kinh tế - xã hội mới của nền kinh tế địa
chủ nhằm mở đường cho chế độ phong kiến Việt Nam phát triển lên một giai
đoạn mới.
Cơ sở nhất định của xã hội thời Trần là chế độ nô tì và chế độ thái ấp điền
trang. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, số lượng nô tì
cũng như số lượng thái ấp điền trang tăng lên rất nhiều. Tự mãn trước thành quả
đã đạt được, tầng lớp quý tộc và đại quý tộc ngày càng ăn chơi suy đồi và tăng
cường vơ vét, bóc lột nhân dân. Đặc biệt sau khi Thượng Hoàng Minh Tông mất
(1357), tính chất xa hoa, trụy lạc của vua quan nhà Trần càng bộc lộ một cách
cao độ. Theo tác giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược thì sau khi
“Thượng Hoàng mất rồi, bọn cựu thần như ông Trương Hán Siêu, ông Nguyễn
Trung Ngạn mất cả, từ đó việc chính trị bỏ trể nãi. Bọn gian thần mỗi ngày một


19
đắc chí”. Người đứng đầu đất nước là vua Trần Dụ Tông lại ham “rượu chè chơi
bời, xây cung điện, đào hồ đắp núi, rồi lại cho gọi những nhà giàu vào trong
điện để đánh bạc. Bắt vương hầu công chúa phải đặt chuyện hát tuồng và bắt các
quan thi nhau uống rượu” [38, tr.180 - 181]. Trước sự sa đọa và sự vơ vét bóc

hoàn toàn. Từ đó, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minh
trong suốt 20 năm (1407 - 1427).
Sau khi thôn tính nước ta, nhà Minh đã thiết lập sự cai trị của mình bằng
cách biến nước ta thành một quận thuộc Đại Minh, thi hành chính sách cai trị
nặng nề và tàn khốc ở nước ta. Để thuận lợi cho quá trình cai trị, nhà Minh đã
tiến hành đồng hóa Việt Nam. Theo Trần Trọng Kim, để khiến người An Nam
đồng hóa với người Tàu, nhà Minh đã “lập ra đền miếu, bắt người mình cúng tế
theo tục bên Tàu, rồi từ cách ăn mặc cho chí sự học hành, việc gì cũng bắt theo
người Tàu cả. Còn cái gì di tích của nước mình như là sách vở, thì thu thập đem
về Tàu hết sạch. Lại đặt ra thuế lệ, bổ thêm sưu dịch để lấy tiền của, làm cho dân
ta bấy giờ phải chịu nhiều điều khổ nhục” [38, tr.217 - 218]. Bàn về tội ác của
giặc, Nguyễn Trãi đã phải thốt lên “thui dân đen trên lò bạo ngược, hãm con đỏ
dưới hố tai ương. Dối trời lừa người, kế gian đủ muôn nghìn khóe. Cậy binh gây
hấn, ác chứa gần hai chục năm” [86, tr.77].
Dưới sự áp bức bóc lột nặng nề của nhà Minh, nhân dân ta ngay từ đầu
khi họ Hồ mất nước vào tay giặc đã đứng lên đấu tranh phản kháng lại sự đô hộ
của quân xâm lược.
Giữa năm 1407, nhân dân huyện Đông Lân và Trà Thanh thuộc Diễn
Châu nổi lên đốt phá nhà ngục, giết bọn quan lại; tại miền Thất Nguyên (Lạng
Sơn) nhân dân thiểu số cũng nổi lên đánh quân Minh; khởi nghĩa của Phạm
Chấn ở Đông Triều.
Năm 1408 có khởi nghĩa của Chu Sư Nhạn, Trần Nguyên Khoáng ở Thái
Nguyên; Hà Thế Trật, Hà Khả Chính, Hà Nhân Tráng ở Tam Đại (Phú Thọ);
Trần Nguyên Tôn, Nguyễn Nhật Tân ở Ninh Giang (Hải Dương); v.v...


21
Trong các phong trào đấu tranh của nhân dân ta sau khi nhà Minh thiết lập
ách đô hộ, đáng chú ý là cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng.
Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thu hút hàng vạn nhân dân tham gia và đã giành

giành thắng lợi hoàn toàn, đã “rửa nổi sỉ nhục ngàn thu” và “mở nền thái bình
muôn thưở” cho dân tộc [86, tr.78 - 82].
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, nhà nước
quân chủ tập quyền Lê sơ được xác lập dưới sự cai quản của Lê Thái Tổ - Lê
Lợi. Những con người đã từng vào sinh ra tử trong phong trào khởi nghĩa Lam
Sơn nay lại sát cánh cùng Lê Lợi bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước sau
chiến tranh. Một loạt các cải cách được thực thi để đưa đất nước thoát khỏi cuộc
khủng hoảng cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV cũng như những tổn thất mà kẻ thù
đã gây ra trong suốt mười năm xâm lược. Một mặt, chính quyền Lê sơ tiếp tục
các cải cách mà nhà Hồ đã thực thi trước đó trong chính sách ruộng đất nhằm
hạn chế sự tồn tại và phát triển của chế độ thái ấp điền trang, thay vào đó là
chính sách lộc điền và quân điền. Mặt khác, nhà Lê sơ cũng tiến hành tổ chức lại
bộ máy chính quyền ở các cấp để củng cố sức mạnh của chính quyền Trung
ương; chế độ khoa cử cũng được đổi mới nhằm tuyển chọn và bổ sung lực lượng
quan lại cho triều đình...
Những cải cách về kinh tế - chính trị xã hội của triều đình Lê sơ đã nhanh
chóng phát huy tác dụng và đưa chế độ phong kiến ở Việt Nam phát triển đến
giai đoạn cực thịnh. Nền sản xuất phát triển đã tạo điều kiện cho việc cải thiện
đời sống của nhân dân. Trong dân gian thời kỳ này có truyền tụng câu ca “Đời
vua Thái Tổ, Thái Tông. Thóc lúa đầy đồng, gà chẳng thèm ăn”, đã phần nào
phản ánh hiện thực của đất nước lúc bấy giờ.
Những tưởng sau khi đất nước giành được độc lập những bậc khai quốc
công thần như Nguyễn Trãi sẽ có điều kiện để thực hiện ước mơ, hoài bão của
mình để xây dựng một xã hội thịnh trị thái bình. Nhưng thực tế, sau kháng chiến
một bộ phận công thần bắt đầu có tư tưởng thỏa mãn với những gì mà mình đã
giành được. Lối sống hưởng thụ, tư lợi chỉ biết vun vén cho bản thân mình mà


23
quên đi nhân dân – những người đã luôn sát cánh cùng họ trong cuộc kháng

mới bắt các học giả phải chuyên trị lục nghệ và bãi truất bách gia. Từ đó về sau
Nho giáo thành ra quốc giáo và những người nho học mới chiếm được địa vị tôn
trọng ở triều đường. Kế đến đời Đông Hán vào quãng thế kỷ thứ nhất sau Tây
lịch kỷ nguyên, Nho giáo mới là cực thịnh” [40, tr.33].
Sau khi trở thành quốc giáo ở Trung Hoa, cùng với sự bành trướng của
chế độ phong kiến phương Bắc, Nho giáo được truyền bá rộng rãi trong các
nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.
Về cơ bản Nho giáo du nhập vào Việt Nam theo hai con đường chính: từ
các thế lực xâm lăng phương Bắc và từ quá trình tiếp biến văn hóa của nước ta.
Khi vào Việt Nam, Nho giáo là công cụ cai trị của ngoại xâm phương Bắc đối
với nhân dân ta. Nhưng khi đất nước ta giành được độc lập sau một nghìn năm
Bắc thuộc, Nho giáo lại được chính các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp nhận
và biến nó thành công cụ cai trị của vương triều mình.
Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh Nho giáo đã xác lập được chỗ đứng của
mình trong đời sống chính trị Việt Nam, hơn nữa lại xuất thân từ một gia đình
Nho học, bản thân Nguyễn Trãi cũng là một nhà nho, đã thi đỗ Thái học sinh
dưới thời nhà Hồ và trở thành một trí thức Nho học đương thời, nên Nguyễn
Trãi không thể không chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Ông cũng đã từng tự răng
mình “nhà ngặt ta bền đạo Khổng Nhan” [86, tr.449]. Chính vì vậy, tư tưởng
thân dân của Nguyễn Trãi cũng dựa trên cơ sở lý luận của học thuyết Nho giáo,
đặc biệt là Nho giáo Khổng - Mạnh.
Trong hệ thống lý luận của mình, chữ “dân” được Khổng Tử và Mạnh Tử
quan niệm ở các cấp độ khác nhau. “Dân” ở đây có thể là những kẻ “tiểu nhân”
đối lập với những người “quân tử”. Theo nghĩa này, “dân” là những người nô lệ,
bị trị. Họ là những người chịu sự sai khiến của những kẻ cầm quyền. Chính
Khổng Tử đã khẳng định “Quân tử chi đức phong, tiểu nhơn chi đức thảo. Thảo
thượng chi phong tất yển” (đức vị của người quân tử tỷ như gió; địa vị của kể
tiểu nhân tỷ như cỏ. Gió thổi qua thì cỏ rạp xuống) [13, tr.190 - 191]. Tương tự,




Trích đoạn Quan điểm về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ Những nội dung cơ bản trong tư tưởng thân dân Nguyễn Trãi 1 Đề cao vai trò và sức mạnh của nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam với tư tưởng “lấy dân làm gốc” Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status