Sự phát triển từ tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN CAO PHAN GIANG

SỰ PHÁT TRIỂN TỪ TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN
TRÃI ĐẾN TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Việt Nam học
Mã số : 60 31 60
Luận văn thạc sĩ Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. HOÀNG CHÍ BẢO

2.2. Nội dung tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
63
Chương 3: MỐI LIÊN HỆ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG DÂN
CHỦ HỒ CHÍ MINH SO VỚI TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA
NGUYỄN TRÃI
104
3.1. Hoàn cảnh lịch sử
104
3.2. Bài học dựng nước và giữ nước
108
3.3. Về ý thức hệ
110
3.4. Phạm vi quan niệm về dân và mức độ quyền lực của dân
114
3.5. Mô hình xã hội lý tưởng
120
KẾT LUẬN
124
TÀI LIỆU THAM KHẢO
126 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. V mt lý lun
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh là
những danh nhân tiêu biểu. Trí tuệ, đạo đức và thành tựu tư tưởng của họ đã
vượt ra ngoài bờ cõi quốc gia, được nhân loại tôn vinh là những danh nhân
văn hoá thế giới. Nguyễn Trãi sống ở thế kỷ XV, song là tác giả hội tụ thành

Minh là định hướng, là bài học vô cùng quý giá trong kho tàng lý luận của
dân tộc để xây dựng một đất nước, một chế độ chính trị dân chủ và tiến bộ mà
ta cần phải nghiên cứu một cách hệ thống làm cơ sở để vận dụng và sáng tạo
đúng đắn vào quá trình dân chủ hoá ở nước ta hiện nay.

2
1.2. V mt thc tin
Ngày nay, nước ta đang phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa,
nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội - chế độ xã hội hướng đến sự giải phóng và
phát triển toàn diện con người. Theo đó, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động
lực phát triển của xã hội Việt Nam.
Quá trình xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước đã và đang đặt ra cho
chúng ta nhiều vấn đề cần phải được giải quyết: giữ vững độc lập dân tộc và
chủ quyền quốc gia; xây dựng Đảng cầm quyền thực sự là một Đảng chân
chính, cách mạng, là đạo đức, là văn minh; xây dựng bộ máy Nhà nước trong
sạch vững mạnh, thực sự là của dân, do dân và vì dân; đảm bảo quyền làm
chủ của nhân dân; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng,… Hàng loạt những
vấn đề đó đều liên quan mật thiết đến dân và dân chủ.
Vì lẽ đó, việc đi sâu tìm hiểu tư tưởng chính trị về dân, thân dân và dân
chủ trong lịch sử tư tưởng văn hoá chính trị Việt Nam nói chung, tư tưởng của
hai nhà tư tưởng đại biểu cho hai thời đại, hai giai đoạn lịch sử truyền thống
và hiện đại nói riêng là cần thiết. Ngoài ra, cần phải nghiên cứu mối liên hệ,
thể hiện sự phát triển tư tưởng giữa tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư
tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh để từ đó rút ra bài học về nhận thức tư tưởng,
về nhân sinh và hành động làm cơ sở cho những hoạch định chính sách của
Đảng và Nhà nước ta.
Cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây đã thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề:
 phát trin t ng thân dân ca Nguyng dân ch
ca H  làm luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Việt Nam học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

2.2. Nhng nghiên cng dân ch H Chí Minh
- Nhóm đề tài, công trình khoa học liên quan: PGS.TS. Phạm Hồng
Chương (chủ nhiệm), năm 2004: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và sự
vận dụng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay”. Công trình này đã khái quát về
tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, phân tích nội dung dân chủ trong các lĩnh vực

4
cụ thể và làm rõ vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc giáo dục ý
thức dân chủ cho người dân trong xã hội; GS.TS. Mạch Quang Thắng (chủ
nhiệm), năm 1999: “Đảm bảo và phát huy dân chủ trong chế độ một Đảng
cầm quyền ở nước ta hiện nay”. Trong công trình, tác giả đã khái quát về lý
luận về dân chủ, đưa ra một số đề xuất để thực hiện cũng như phát huy vai trò
của dân chủ trong điều kiện nước ta, trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm dân chủ
và cơ chế một Đảng cầm quyền ở Việt Nam;
- Một số sách liên quan đến vấn đề nghiên cứu có thể kể đến là: Phạm
Thành, Nguyễn Khắc Mai: “Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh”, Nxb Sự thật,
H, 1991; Nguyễn Khắc Mai: “Dân chủ - di sản văn hóa của Hồ Chí Minh”,
Nxb Lao động, H, 1997; Phạm Hồng Chương: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
chủ”, Nxb Lý luận chính trị, H, 2004; Phạm Văn Bính: “Phương pháp dân chủ
Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007; Hoàng Chí Bảo: “Tìm hiểu
phương pháp Hồ Chí Minh”, Nxb Lý luận chính trị, H, 2004;
- Một số luận án nghiên cứu vấn đề này là: Luận án tiến sĩ bảo vệ năm
2003 của Phạm Văn Bính: “ Vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ
Chí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa”. Luận án này đã
nghiên cứu tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh tập trung ở mặt phương pháp thực
hành dân chủ của Người, biểu hiện trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống chính
trị - xã hội; Luận văn thạc sĩ bảo vệ năm 2008 của Nguyễn Thế Phúc: “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị - giá trị lý luận và thực tiễn. Qua luận
văn này, tác giả làm rõ giá trị tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực
chính trị với những mặt dân chủ trong chính trị, kinh tế và văn hoá - xã hội.

Trên cơ sở nhận thức tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng
dân chủ Hồ Chí Minh, luận văn làm rõ nét khác biệt, chỉ ra sự kế thừa và phát
triển sáng tạo của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh từ những giá trị tư tưởng
thân dân truyền thống mà đại diện tiêu biểu là Nguyễn Trãi, thấy rõ mạch
nguồn sáng tạo của tư tưởng vì dân trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam.

6
3.2. Nhim v nghiên cu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau đây:
- Khái luận chung về thân dân và dân chủ, sự hình thành tư tưởng thân
dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh;
- Làm rõ những nội dung tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng
dân chủ Hồ Chí Minh;
- Phân tích mối liên hệ và sự phát triển từ tư tưởng thân dân của Nguyễn
Trãi đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh.
4. Đi tưng v phm vi nghiên cứu
- Những tư tưởng, quan niệm của Nguyễn Trãi về thái bình, thịnh trị,
hạnh phúc của nhân dân, về một Nhà nước phong kiến vững mạnh, về tề gia,
trị quốc, bình thiên hạ và quan niệm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải
phóng dân tộc, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về Nhà nước
và vai trò của Đảng, vị trí, vai trò, quyền lực của nhân dân;
- Thực tiễn tổ chức và xây dựng nghĩa quân, xây dựng Nhà nước phong
kiến đương thời, Nhà nước Việt Nam, quá trình dân chủ hóa ở nước ta hiện
nay;
- Các hoạt động, hành động, ứng xử của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh
trong cuộc đời và sự nghiệp của mình.
5. Phương pha
́
p luâ

́
t câ
́
u cu
̉
a luâ
̣
n văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.

8

KHÁI LUẬN CHUNG VỀ THÂN DÂN VÀ DÂN CHỦ;
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI


9
nguyên) thì Solon (khoảng 638 - 559 trước Công nguyên) là người đầu tiên
đặt nền tảng cho khái niệm dân chủ. Solon cho rằng, muốn xây dựng một nhà
nước trên cơ sở một nền dân chủ phải thông qua tuyển cử và hòa nhập sức
mạnh với pháp luật.
Dân chủ hiểu theo từ nguyên, bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ đại:
“Demokratia”. Demokratia được ghép từ hai từ, Demos: là nhân dân; Kratia:
là chính quyền hay quyền lực. Như vậy, theo nguyên nghĩa của nó, dân chủ có
nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Nó nói lên rằng nhân dân là chủ thể của
quyền lực. Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hi Lạp cổ để đưa ra
thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”, một trong những hình thức
chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và
bình đẳng của công dân.
Từ “dân chủ” xuất hiện vào cuối thời kỳ cộng sản nguyên thủy, đầu
chiếm hữu nô lệ, được ghi bằng tiếng Hy Lạp với nghĩa quyền lực thuộc về
nhân dân. Nhưng nhân dân là ai? Nhân dân là số nhiều, hay số ít sẽ ảnh
hưởng và quy định phạm vi, mức độ của nền dân chủ. Theo lý luận, “nhân
dân” thường được hiểu là số đông, là đại đa số quần chúng lao động. Tuy
nhiên, trong thực tế lịch sử, trong các xã hội có mâu thuẫn đối kháng về giai
cấp, nhân dân lại thường là số ít, đó là những người cầm quyền. Xã hội có
giai cấp, mặc dù địa vị pháp lý quyền lực thuộc về đa số, nhưng trên thực tế,
quyền lực lại chỉ nằm trong tay những kẻ có quyền, có tiền, những kẻ thống
trị xã hội. Hay nói cách khác, trong xã hội ấy, quyền lực chỉ thuộc về số ít
những kẻ bóc lột. Ví dụ: Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp nô lệ chiếm
tới 95% dân số, nhưng quyền lực không thuộc về họ. Họ chỉ đuợc xem là
“công cụ biết nói”. Trong khi đó, tầng lớp chủ nô, tăng lữ chỉ chiếm 5% dân
số lại là chủ thể của quyền lực. Trong xã hội phong kiến, nhân dân là đại đa
số, nhưng quyền lực lại không thuộc về họ mà chỉ tập trung trong tay một ông
vua, với quyền năng tối thượng. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, quyền lực lại


11
hóa thành các cơ chế để thực thi trong đời sống. Dân chủ được quy định thành
nghĩa vụ của công dân với nhà nước và trách nhiệm của nhà nước với công
dân. Với cách tiếp cận dân chủ theo phạm trù chính trị, phạm trù lịch sử,
thì dân chủ tồn tại với tư cách là một chế độ, một nền dân chủ được biểu
hiện thông qua các đặc điểm rõ ràng như: nội dung của dân chủ được cụ thể
hóa qua những quy định chính thống của hiến pháp và pháp luật; nội dung
của dân chủ được thực thi bằng sức mạnh bộ máy Nhà nước; nó được
cưỡng chế, áp đặt thực hiện với toàn xã hội bằng chính sức mạnh và quyền
uy của bộ máy đó.
+ Dân chủ là một giá trị văn hóa: Dân chủ chỉ trạng thái, tính chất và
mức độ giải phóng con người, là khái niệm biểu đạt thành quả đấu tranh đòi
giải phóng của nhân dân lao động chống áp bức, bóc lột, đòi quyền tự do,
quyền làm chủ của mình. Đây là cách tiếp cận dân chủ dưới góc độ giá trị,
biểu hiện giá trị nhân văn của xã hội, của dân chủ. Dân chủ với ý nghĩa là giá
trị văn hóa thì vẫn còn tồn tại mãi mãi. Dưới góc độ này, dân chủ là phạm trù
vĩnh viễn.
+ Dân chủ là một nguyên tắc, phương thức hoạt động của một tổ chức
chính trị - xã hội: Nguyên tắc, phương thức này bao hàm một số nội dung,
như: cấp dưới phục tùng cấp trên, thiểu số phục tùng đa số…Ví dụ: nguyên tắc
tập trung dân chủ trong tổ chức và trong sinh hoạt đảng, ở đây là Đảng Cộng sản.
Tập trung dân chủ (mà Hồ Chí Minh thường gọi là: dân chủ tập trung) còn là
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước; các tổ chức chính trị và chính trị -
xã hội ở nước ta.
Các hướng tiếp cận trên làm phong phú nội hàm khái niệm dân chủ, tùy
từng bối cảnh cụ thể mà người ta nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh
khác tương ứng với các cách tiếp cận đó. Ta cần thấy rõ tính liên kết, xâu
chuỗi của các các quan niệm này trong khái niệm lý luận về dân chủ và trong
thực tiễn dân chủ.


13
Xét dước góc độ quyền lực, mức độ quyền của người dân trong tư tưởng
thân dân và dân chủ cũng khác nhau. Thân dân thì sự làm chủ của người dân
mới chỉ được ghi nhận ở mức độ “dân bản” (dân là gốc, là nền tảng của xã
hội), chứ chưa đạt trình độ “dân chủ”, quyền làm chủ xã hội của người dân
chưa khẳng định. Trong các hình thái kinh tế xã hội nô lệ, tư bản và chủ nghĩa
xã hội, khi dân chủ được xác lập với tư cách là một chế độ xã hội thì khái
niệm dân chủ mới được sử dụng. Như vậy, thân dân và dân chủ là hai khái
niệm được sử dụng ở những chế độ xã hội khác nhau, để chỉ phạm vi và mức
độ làm chủ không giống nhau của người dân.
1.2. Sự hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi v tư tưởng
dân chủ của Hồ Chí Minh
Xét về nguồn gốc, bất cứ tư tưởng nào ra đời cũng là một quá trình tác
động biện chứng giữa các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Nó ra
đời từ những chất liệu tư tưởng có sẵn trước đó, phản ánh nhu cầu của thực
tiễn xã hội đương thời và mang dấu ấn cá nhân của người sáng lập. Tư tưởng
thân dân của Nguyễn Trãi và tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh cũng vậy.
1.2.1. S hình thành ng thân dân ca Nguyn Trãi.
Tư tưởng nào cũng ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, thể hiện bản
lĩnh, trí tuệ cá nhân và bóng dáng của thời đại. Tư tưởng của Nguyễn Trãi nói
chung và tư tưởng thân dân nói riêng ra đời trong bối cảnh của thời kỳ Đại Việt.
1.2.1.1. Thời đại Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi sinh năm 1380, mất năm 1442, sống và hoạt động trong thời
kỳ đầy biến động, đầy hoạn nạn và âu lo của lịch sử Việt Nam. Về mặt chính trị
- xã hội, Nguyễn Trãi đã sống 20 năm cuối triều Trần, thời kỳ mà quyền lực
truyền thống đã bị sa đoạ và gần như đã nằm trong tay khống chế của Lê Quý Ly;
7 năm dưới triều Hồ, một quyền lực đang xây dựng dở dang; 20 năm có thời
thuộc Minh và chống Minh thuộc, một thời kỳ đầy bão táp của bạo lực bành
trướng và đô hộ Trung Quốc, đầy bão táp của bạo lực quần chúng, của toàn thể

mạch nguồn sâu xa và căn bản ấy.

15
* Chủ nghĩa yêu nước
Do hình thành sớm và tồn tại trong hoàn cảnh phải liên tục chiến đấu với
nhiều kẻ thù hùng mạnh hơn mình rất nhiều lần để bảo tồn dân tộc và lãnh thổ,
cho nên, chủ nghĩa yêu nước sớm hình thành và phát triển ở nước ta như một tất
yếu - tự nhiên. Từ thế kỷ III trước Công Nguyên, đến đầu thế kỷ XV, dân tộc ta
có gần mười tám thế kỷ kiên cường trong quá trình dựng nước và giữ nước. Sau
những thử thách đấu tranh, chủ nghĩa yêu nước ngày càng bền vững và trở thành
sức mạnh tinh thần của dân tộc, là giá trị cao quý, thiêng liêng nhất, là tài sản, cơ
sở cho ý chí, hành động cứu nước và xây dựng đất nước, đưa Đại Việt tiến lên
những nấc thang phát triển mới trong xu thế chung của thời đại lúc bấy giờ.
Không chỉ thể hiện trong kháng chiến chống xâm lược, chủ nghĩa yêu nước còn
biểu hiện trong nhiều lĩnh vực khác như xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội…
Sau những thử thách và đấu tranh, chủ nghĩa yêu nước ngày càng bền
vững và trở thành sức mạnh tinh thần của dân tộc. Nguyễn Trãi đã rất tự hào
về những truyền thống anh hùng của Đại Việt. Ông nói về dân tộc, về đất
nước đầy khí phách trong “Bình Ngô đại cáo”:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có
Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

nếm trải đã hình thành trong các triều đại Đại Việt tư tưởng tích cực về dân,

17
để lại cho hậu thế những di sản tư tưởng tiến bộ. Những tư tưởng đó đã phát
triển đến đỉnh cao và mang tính nhân văn sâu sắc.
Mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển Nhà nước phong kiến độc lập
trước thời Nguyễn Trãi (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV), “tư tưởng về dân” được
phát triển trên cơ sở những giá trị nhân đạo trong truyền thống của dân tộc,
với tinh thần từ bi, bác ái của đạo Phật và tư tưởng thân dân tiến bộ trong học
thuyết của đạo Nho. Những tư tưởng đó du nhập vào Đại Việt, được phát triển
trên nền tảng ý thức về chủ quyền dân tộc, tư tưởng đề cao dân, thương dân,
khoan dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, tư tưởng về cố kết dân tộc tạo thành
sức mạnh đoàn kết toàn dân trong dựng nước và giữ nước. Sự hòa nhập và kết
tinh này thể hiện đậm nét qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, là cơ sở quan
trọng để hình thành nên tư tưởng thân dân ở Nguyễn Trãi.
Các vương triều phong kiến đều rút ra bài học quý báu về giữ nước,
dựng nước và xây dựng chế độ cường thịnh, đó là: phải dựa vào dân. Để
thành công, họ phải giữ lòng dân và phải áp dụng một hình thức thân dân. Ở
triều đại nhà Lý, những đại biểu tư tưởng của giai cấp phong kiến thời kỳ này
có ý thức rất sâu sắc về vai trò, sức mạnh của dân, coi “ý dân”, “lòng dân” là
điều cần quan tâm trong nghiệp trị nước, an dân. Việc dời đô, kế vị, thay đổi
vương triều và phát động chiến tranh là những việc hệ trọng của triều chính
cũng đều có một căn cứ, mục đích quan trọng là “ý dân”, “lòng dân”. Xuất
phát từ quan điểm tiến bộ về dân của vua quan triều Lý, ngay từ đầu, nhà Lý
đã rất quan tâm đến đời sống của nhân dân. Họ đặt lầu chuông trong thành
Thăng Long để “dân chúng ai có việc kiện tụng thì đánh chuông lên”. Họ có
những chính sách như nhu viễn, ngự binh ư nông. Điều này chứng tỏ trong tư
tưởng của vua quan thời này đã nhìn nhận nhân dân như là một lực lượng xã
hội quan trọng trong công cuộc dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập
cũng chính là bảo vệ chế độ quân chủ tập quyền của vương triều. Lịch sử dân

nhận thức được chân lý của sự thành công này, nên đã tạo thành một truyền
thống thân dân, là cơ sở cho tinh thần, ý thức, tư tưởng dân chủ sau này.

19
Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi được hình thành từ những cội
nguồn lịch sử đó. Chính truyền thống “yêu nước thương nòi”, “tương thân
tương ái”, nhân văn, nhân đạo, nhân nghĩa và những tư tưởng “trọng dân”,
“lấy dân làm gốc” của những vương triều phong kiến tiến bộ trước đó đã đặt
nền móng, cơ sở, nguồn gốc cho tư tưởng thân dân của ông. Những truyền
thống đó như một dòng chảy xuyên suốt lịch sử và đọng lại ở từng chặng
đường trong sự nghiệp của nhà chính trị vì dân - Nguyễn Trãi.
1.2.1.3. Những giá trị tích cực của Nho giáo về dân
Nói đến Nguyễn Trãi là ta nói về một nhà Nho. Nho giáo, nền tảng tư
tưởng của xã hội lúc đó đã thấm đẫm vào con người ông từ khi sinh ra, lớn
lên, cả đến cuối đời và ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng về dân và thân dân
của ông.
Nho giáo được xem là học thuyết nhập thế và tích cực với triết lý nhân
sinh “tu thân, dưỡng tính”; “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của người
quân tử. Nguyễn Trãi cũng tiếp thu tư tưởng về một xã hội đại đồng, trong đó
coi trọng dân “dân vi bang bản” (dân là gốc của nước); hay “dĩ dân vi bản”
(lấy dân làm gốc).
Theo quan niệm của niệm của Nho giáo, “dân” là tứ dân, bao gồm: sỹ,
nông, công, thương. Sự phân chia xã hội này không dựa trên tiêu chuẩn sở
hữu mà theo nghề nghiệp. Đây cũng là những bậc thang giá trị xã hội, phản
ánh một nền kinh tế phong kiến tiểu nông, khép kín, tự túc, tự cấp, công
thương nghiệp không phát triển. Nguyễn Trãi cũng kế thừa trong kinh điển
Nho giáo những khái niệm như “thứ dân”, “lê dân”, “thảo dân”, “xích tử”,
“thương sinh” để chỉ đông đảo người dân lao động mà sau này ông gọi là
“dân đen, con đỏ”.
Tư tưởng về dân của Nho giáo có sự biến đổi và phát triển qua các thời

Có thể nói, trong quan niệm Nho giáo, tư tưởng về dân và chính sách
thân dân là một nguyên tắc quan trọng của đạo “an dân, trị quốc, bình thiên
hạ”. Các nhà tư tưởng Nho giáo đã coi việc quan tâm đến đời sống, nguyện vọng

21
của dân chúng là cơ sở để ổn định xã hội và xây dựng quốc gia thái bình thịnh trị.
Trong học thuyết này, cách “sử dân”, “dưỡng dân” cũng được đề cập đến khá
sâu sắc. Sử dụng dân phải theo thời, sai khiến dân có mức độ, chứ không được
tùy tiện. Dù giữa hình thức và bản chất nội dung của những tư tưởng về dân có
sự khác biệt, nhưng sự tiến bộ trong quan niệm về dân của Nho giáo đã thấm sâu
vào con người Nguyễn Trãi ngay từ những bài học vỡ lòng và trở thành cơ sở lý
luận trực tiếp cho sự hình thành tư tưởng thân dân của ông.
Mức độ, hình thức quan tâm đến dân, coi trọng dân, đề cao dân có
những bước tiến khác nhau trong lịch sử của học thuyết Nho giáo qua mỗi
người đại diện. Tuy nhiên, bên cạnh sự tiến bộ đó, những học trò của Khổng
Tử là Mạnh Tử và Tuân Tử vẫn chưa vượt qua được hạn chế giai cấp căn cốt
ở thầy mình. Các ông nhất quán chia con người ra làm hai hạng: những người
lao tâm và những người lao lực, cho rằng đó là sự phân công tự nhiên, là quy
luật chung của sự phát triển xã hội. Các ông đều khẳng định: “không có quân
tử thì lấy ai trị dân quê, không có dân quê thì lấy ai nuôi quân tử”. Từ những
nhìn nhận đó, ta thấy rằng, vấn đề vai trò, vị trí của nhân dân lao động trong
xã hội, vấn đề quan tâm đến dân, đến lợi ích của dân đã xuất hiện từ lâu trong
học thuyết Nho giáo, nhưng ở đó, việc “chăn dân”, “huệ dân”, “giáo dân” chủ
yếu xuất phát từ giai cấp thống trị, vì sự bảo tồn lợi ích và ngai vàng phong
kiến, chứ chưa thực sự là vì dân. Bởi vậy, trong tư tưởng Nho giáo quan niệm
về dân vẫn còn những hạn chế nhất định. Đó cũng là điều khó tránh khỏi bởi
những quy định của thời đại và địa vị giai cấp của những người sáng lập, phát
triển học thuyết.
Nguyễn Trãi kế thừa tư tưởng tích cực trong học thuyết Nho giáo về
dân và chịu ảnh hưởng của những yếu tố tích cực đó, mặt khác có những nét

Nguyễn Trãi (1380 - 1442) là con đầu của Nguyễn Phi Khanh (còn gọi
là Nguyễn Ứng Long) và bà Trần Trinh Thục (còn gọi là Trần Thị Thái) - con
gái cụ Tư Đồ Trần Nguyên Đán, hiệu Băng Hồ, tước Nhập Nội Kiểm Hiệu Tư
Đồ Bình Chương Quốc Thượng Hầu (tương đương Tể tướng) dưới triều vua
Trần Duệ Tông và Trần Đế Nghiễn; quê quán làng Chi Ngại, huyện Phụng

Trích đoạn Cơ sở hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh Quan niệm của Nguyễn Trãi về chữ dân Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trã Nội dung tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status