Các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 37

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN THANH

CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 62 38 01 04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu nêu trong Luận án là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về tất cả
những số liệu, kết quả nghiên cứu đó. Luận án này chưa được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả Luận án

NGUYỄN VĂN THANH


MỤC LỤC

Chƣơng 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
3.1. Tổng quan tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh từ năm 2011 đến năm 2015
3.2. Thực tiễn định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật hình
sự Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh
3.3. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật
hình sự Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chƣơng 4. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
4.1. Một số giải pháp hạn chế việc xác định sai tội danh đối với các tội xâm phạm
sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh
4.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm
sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh

72
72
79
101

122
122

KẾT LUẬN

134
143


giác kinh tế trọng điểm phía Nam, với nhiều đầu mối giao thông lớn như: Sân bay
quốc tế Tân Sơn Nhất, ga Sài Gòn, bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây. Thành
phố Hồ Chí Minh là khu vực giao thoa kinh tế, xã hội giữa các tỉnh miền Tây Nam
Bộ, miền Đông Nam Bộ và các tỉnh Nam Bộ. Những điều kiện thuận lợi đó đã
thúc đẩy kinh tế thành phố phát triển nhanh chóng và ổn định. Tuy nhiên, bên
cạnh những tác động tích cực thì với mật độ dân số cao, dân số trẻ, số người trong
độ tuổi lao động nhiều, trong số đó không ít người không có việc làm hoặc có việc
làm nhưng không ổn định đây chính là những đối tượng có nguy cơ phạm tội cao,
là nguồn “bổ sung” cho tội phạm nói chung trong đó có các tội phạm xâm phạm
sở hữu.

1


Theo số liệu thống kê, từ năm 2011 đến năm 2015, trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh xảy ra 30344 vụ án xâm phạm sở hữu. Cụ thể, năm 2011 xảy ra 6057
vụ, năm 2012 xảy ra 6098 vụ, năm 2013 xảy ra 6138 vụ, năm 2014 xảy ra 6301 vụ,
năm 2015 xảy ra 5750 vụ. Như vậy, số vụ án xâm phạm sở hữu qua các năm tăng
giảm không theo quy luật mà chủ yếu là tăng lên, chỉ cá biệt trong năm 2015 số vụ
án xâm phạm sở hữu giảm đáng kể so với năm 2014 (giảm 551 vụ). Trong đó, cướp
tài sản xảy ra 1883 vụ (chiếm tỷ lệ 6,04%), bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản xảy ra
22 vụ (chiếm tỷ lệ 0,072%), cưỡng đoạt tài sản xảy ra 188 vụ (chiếm tỷ lệ 0,62%),
cướp giật tài sản xảy ra 7901 vụ (chiếm tỷ lệ 26,04%), công nhiên chiếm đoạt tài
sản xảy ra 122 vụ (chiếm tỷ lệ 0,4%), trộm cắp tài sản xảy ra 18891 vụ (chiếm tỷ lệ
62,26%), lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra 1004 vụ (chiếm tỷ lệ 3,31%), lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra 246 vụ (chiếm tỷ lệ 0,81%), chiếm giữ trái phép
tài sản xảy ra 17 vụ (chiếm tỷ lệ 0,056%), sử dụng trái phép tài sản xảy ra 16 vụ
(chiếm tỷ lệ 0,053%), hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra 95 vụ (chiếm
tỷ lệ 0,31%), thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước
xảy ra 03 vụ và vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xảy ra 06 vụ. Có thể

truy tố, xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu chưa được chú trọng…) ảnh hưởng đến
hiệu quả và chất lượng chung của công tác điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội
xâm phạm sở hữu.
Ngoài ra, dưới góc độ khoa học Luật hình sự, thời gian qua đã có nhiều bài
viết, nhiều công trình nghiên cứu về các chế định tài sản và quyền sở hữu cũng như
những vấn đề pháp lý và thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sở hữu
với mục tiêu làm sáng tỏ các quy định của pháp luật nhằm nâng cao nhận thức về
mặt lý luận cũng như năng lực thực tiễn của các chủ thể trong việc áp dụng pháp
luật hình sự đạt được hiệu quả tốt nhất. Tuy nhiên, cho đến nay, quy định về các tội
xâm phạm sở hữu trong BLHS chưa mang tính toàn diện, nhiều vấn đề nảy sinh
trong điều kiện tình hình mới đã gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong
việc áp dụng pháp luật hình sự đòi hỏi chúng ta phải có những nhận thức mới, tư
duy mới đối với các tội phạm này. Mặt khác, trong phạm vi các tư liệu mà tác giả đã
nghiên cứu thì chưa thấy có một công trình nghiên cứu khoa học nào của nước ta đề
cập một cách toàn diện đến các tội xâm phạm sở hữu trong pháp luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh. Cho nên tác giả quyết định lựa chọn đề
tài: “Các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành
phố Hồ Chí Minh” làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình
sự, mã số 62 38 01 04.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích của luận án: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và quy định của
pháp luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các

3


tội xâm phạm sở hữu tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất những
phương hướng và giải pháp cụ thể cho việc nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của
pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu tại Thành phố Hồ Chí Minh trong
thời gian tới.



+ Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và
quy định của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình
sự về các tội xâm phạm sở hữu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phạm vi thời gian: Các số liệu thống kê sử dụng trong luận án được tiến
hành thu thập từ năm 2011 đến năm 2015.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu luận án
- Phương pháp luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp
luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về đường lối đổi mới đất nước, tinh thần cải cách tư pháp,
chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoạt động đấu tranh phòng,
chống tội phạm. Trong quá trình nghiên cứu, luận án đã sử dụng phương pháp nghiên
cứu của chuyên ngành Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội phạm học, Tâm lý học,
Xã hội học, Khoa học điều tra hình sự với các phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm
sáng tỏ bản chất của vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu luận án tác giả sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
+ Phương pháp phân tích tài liệu, sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề lý
luận và pháp lý về các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam; đánh
giá thực áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu tại
Thành phố Hồ Chí Minh (chủ yếu là thực tiễn định tội danh và quyết định hình
phạt) qua hệ thống 500 bản án hình sự được thu thập tại Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh, Báo cáo tổng kết của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công
an, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (Bộ Công an), Báo cáo chuyên
đề, Báo cáo tổng kết hàng năm của Tổng cục Cảnh sát, của Văn phòng Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, của Tổng cục thi hành án hình
sự và hỗ trợ tư pháp (Bộ Công an).
+ Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu thống kê, sử dụng để

về các tội xâm phạm sở hữu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế những đóng góp
mới của luận án được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến các tội
xâm phạm sở hữu;
Thứ hai, kiến giải làm rõ những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm sở hữu
theo pháp luật hình sự Việt Nam như khái niệm và dấu hiệu pháp lý đặc trưng của
các tội phạm cụ thể thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, tiến hành phân biệt các
tội phạm cụ thể thuộc chương này. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam đối
với các tội xâm phạm sở hữu. Đồng thời, nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự
một số nước trên thế giới về các tội xâm phạm sở hữu nhằm so sánh, đối chiếu với

6


quy định của pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh hình thức pháp lý, kỹ thuật
lập pháp, cơ sở và nội dung của từng quy phạm pháp luật;
Thứ ba, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ thực trạng áp dụng quy định
của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu tại Thành phố Hồ Chí Minh,
đánh giá kết quả đạt được, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót.
Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật
hình sự về các tội xâm phạm sở hữu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong công tác
đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng
tại Thành phố Hồ Chí Minh. Về mặt lý luận, luận án cung cấp cơ sở lý luận và thực
tiễn cho hoạt động lập pháp, hành pháp và đặc biệt trong lĩnh vực định tội danh và
quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu tại Thành phố Hồ Chí Minh
của Tòa án nhân dân các cấp.
Về mặt thực tiễn, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ
nghiên cứu về xây dựng pháp luật, cán bộ hoạt động thực tiễn, tổ chức thực hiện và

của luận án và cũng nhằm tham khảo thêm về cách tiếp cận vấn đề, tác giả lựa chọn,
tóm lược trình bày dưới đây một số lý thuyết cũng như những công trình khoa học
của các nhà nghiên cứu nước ngoài về các tội xâm phạm sở hữu.
Theo Báo cáo của Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ phát hành tháng 9/2011,
thì tội phạm xâm phạm sở hữu được các nước gọi là “Property crime” tức các tội
phạm xâm phạm tài sản. Theo định nghĩa của FBI thì “Tội phạm xâm phạm sở hữu
bao gồm các cấp độ. Ở cấp độ 1 là các tội phạm về đột nhập trộm cắp, trộm cắp,
trộm ô tô, phóng hỏa; cấp độ 2 là các tội bao gồm: hối lộ, làm hàng giả, giả mạo
giấy tờ, tống tiền, tham ô, phá hoại tài sản công và lừa đảo. Mục tiêu của các tội
phạm trộm cắp này là lấy đi tài sản hoặc tiền bạc nhưng không sử dụng vũ lực hoặc
đe dọa dùng vũ lực đối với nạn nhân”. Các nhóm tội này bao gồm cả phóng hỏa đốt
nhà bởi vì tội phạm liên quan tới việc phá hủy tài sản tuy nhiên nạn nhân của tội
phạm này có thể bị sử dụng vũ lực; Hoặc, theo Viện nghiên cứu Tội phạm học quốc
gia của Australia định nghĩa: “Tội phạm xâm phạm tài sản là một trong những tội
phạm phổ biến nhất tại Australia, liên quan tới việc phá hoại hoặc làm hư hỏng nhà
cửa, công xưởng và đất đai cũng như các tội về đánh cắp ô tô và trộm cắp đột nhập
nhà”. Như vậy, những khái niệm nêu trên đã cố gắng chỉ rõ nội hàm và những bộ
phận hợp thành của hành vi xâm phạm sở hữu, có thể tìm thấy những nét tương
đồng cơ bản trong cách tiếp cận, khái quát vấn đề của những quan điểm đã đề cập.

8


Chuyên khảo “Criminology – The Core”, của Tác giả Larry Siegel, Nhà xuất
bản Cengage Learning, năm 2014. Tác giả Larry Siegel đã công bố những luận
điểm về tội phạm, tập trung xoay quanh mối quan hệ giữa nạn nhân với tội phạm,
giữa nạn nhân với nạn nhân, bao hàm trên các lĩnh vực nghiên cứu về phạm vi, bản
chất, đặc điểm người phạm tội và những nguy cơ từ những người này, và phương
pháp khống chế đối với những nguy cơ đó. Tác giả đã đưa ra những nghiên cứu một
cách tổng thể về lý thuyết cơ cấu xã hội, xung đột xã hội Critical tội phạm và công

xuất bản Waterlow, London 1989. Qua việc đưa ra các số liệu và các vụ án đã xảy
ra, tác giả Jacques Parry đã phân tích một số tội phạm liên quan đến sở hữu và tài
sản theo Luật hình sự Vương quốc Anh, trong đó các tài sản này có thể thuộc phạm
vi quản lý hoặc không thuộc phạm vi quản lý của người phạm tội và tài sản bị xâm
phạm sở hữu dưới các hình thức sử dụng các mánh khóe để lừa gạt hoặc đe dọa
trong các giao dịch. Trong số các tội danh được nêu ra tác giả cũng phân tích các
hành vi không liên quan đến việc sử dụng giao dịch như tội cưỡng đoạt tài sản, trộm
cắp vặt, phá hủy tài sản… Tác giả cũng phân tích một số tội danh không phải là tội
phạm xâm phạm sở hữu mặc dù người phạm tội có liên hệ với việc sử dụng tài sản
và sử dụng hình thức dối trá, lừa gạt để chiếm đoạt tài sản hoặc những hành vi
không trung thực mà không liên quan trực tiếp đến tài sản người khác như làm hàng
giả, tham ô, tham nhũng…Các hành vi xâm phạm sở hữu được phân tích trong
chuyên khảo được phân bố tại các chương khác nhau. Chuyên khảo đã dành một
chương để nói về các hành vi trộm cắp tài sản bao gồm các tội danh: trộm cắp, trộm
cắp mức độ nghiêm trọng, âm mưu trộm cắp. Hai chương giải quyết vấn đề tội
phạm xâm phạm tài sản sử dụng thủ đoạn lừa gạt và đe dọa, trong đó nhấn mạnh
các hành vi cưỡng đoạt tài sản, đưa ra lời đe dọa cưỡng đoạt tài sản, ép buộc mua
hàng hóa hay tài sản không mong muốn, đe dọa con nợ. Một chương dành để bàn về
vấn đề hàng hóa có được do trộm cắp, lừa gạt hoặc tống tiền bao gồm vấn đề về
việc nắm giữ các tài sản trên và trách nhiệm bồi thường. Các chương còn lại phân
tích các vấn đề liên quan đến hành vi xâm phạm tài sản không qua trộm cắp tài sản
như chuyển nhượng, không trả tiền thanh toán, phá họa tài sản công và đột nhập chỗ
ở nhưng không trộm cắp.
Kenneth L. Avio, C. Scott Clark, Property crime in Canada - an econometric
study, Canada 1976 (Kenneth L. Avio, C. Scott Clark, Nghiên cứu dưới góc độ kinh
tế về tội phạm xâm phạm sở hữu tại Canada, Canada, 1976). Công trình nghiên cứu
nhằm hệ thống hóa những kết quả đạt được của chương trình áp dụng mô hình kinh
tế của tội phạm để giải thích về tỷ lệ tội phạm xâm phạm sở hữu tại Canada. Mô
hình trên được áp dụng từ ý tưởng về mô hình kinh tế của hành vi tội phạm được đề
xuất bởi các nhà tội phạm học như Becker (1968) và sau đó được đánh giá qua các

“itinerant crime groups”, Global Crime, Vol. 9, No. 3, 241–247, Ghent University,
Belgium, August 2008 (Stijn Van Daele, Tội phạm xâm phạm sở hữu có tổ chức tại
Bỉ: trường hợp “Các băng nhóm tội phạm hoạt động lưu động”, Tạp chí Tội phạm
toàn cầu, Tập 9, Số 3, trang 241–247, Đại học Ghent, Bỉ, tháng 8/2008). Bài viết
phân tích về hiện tượng băng nhóm tội phạm hoạt động lưu động đang được các cơ
quan thực thi pháp luật tại Bỉ và các nước Tây Âu chú ý trong thời gian gần đây.
Mối quan tâm này bắt nguồn từ sự nhận thức nhiều hơn từ tình trạng tội phạm xâm

11


phạm sỡ hữu gia tăng trong xã hội và dẫn đến nhiều quan điểm nghiên cứu trên các
phương diện: đối tượng phạm tội, chính sách phòng chống. Trong phạm vi bài
nghiên cứu này hiện tượng tội phạm xâm phạm sở hữu có tổ chức và các đặc điểm
của nó được phân tích. Kết quả đã chỉ ra rằng các đặc điểm về sự cơ động và quốc
tịch được cho là yếu tố hữu ích để nghiên cứu về tội phạm có tổ chức. Bài viết cũng
chỉ ra rằng các chính sách của chính phủ không đóng vai trò đặc biệt đối với tình
trạng tội phạm mà chỉ là chất xúc tác cho tình trạng trên.
Chuyên khảo “Property offenders in interior Alaska: Their perception on the
etiology of property crime”, tạm dịch: “Người phạm tội xâm phạm sở hữu ở
Alaska: Nhận thức của họ về nguyên nhân của tội phạm này” của Tác giả: Joe Lee
Anderson, năm xuất bản: 1985, nơi xuất bản: Microfilm International University,
Hoa Kỳ. Trong chuyên khảo này, tác giả tìm kiếm nguyên nhân làm nảy sinh tội
phạm xâm phạm sở hữu tại bang Alaska, Hoa Kỳ đồng thời đề ra các giải pháp để
loại trừ tội phạm này. Nghiên cứu của tác giả nhằm tìm ra nguyên nhân thuộc về
nhận thức của người phạm tội tại Alaska. Câu hỏi đặt ra là liệu rằng có phải xã hội
đã tạo ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội hay là nguyên nhân nằm bên
trong con người phạm tội. Đề tài đã kết luận rằng: Việc phạm tội xâm phạm sỡ hữu
là một phong cách sống của người phạm tội này. Họ thích cảm giác hồi hộp và cảm
giác mạnh liên quan tới tội phạm này. Đôi khi nó còn là cảm giác vui sướng vì họ

Fennelly, Xuất bản: NXB Elsevier, Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ. Nội dung:
Quyển sách cung cấp cho độc giả một cái nhìn toàn diện về những phương pháp bảo
đảm anh ninh và phòng ngừa tội phạm, các công cụ và phương tiện kỹ thuật để đưa
những phương pháp này vào trong thực tiễn và các thông tin về những lĩnh vực
chuyên biệt của việc bảo đảm an ninh. Những phương pháp này bao gồm đảm bảo
an ninh trong trường học, an toàn hàng hóa, kiểm soát lối vào, bảo đảm môi trường
an ninh, phòng chống khủng bố và giảm nhẹ các tác động của thiên tai.
Identity theft handbook: detection, prevention and security, tạm dịch: “Sổ tay
về tội phạm đánh cắp thông tin cá nhân: phát hiện, phòng ngừa và bảo mật” của Tác
giả: Martin T. Biegelman, nhà xuất bản: Wiley, New Jersy, Hoa Kỳ - 2009. Nội
dung của quyển sách nói về chủ đề tội phạm đánh cắp thông tin cá nhân trong lĩnh
vực thẻ tín dụng, thẻ ngân hàng, tội phạm lừa đảo thông qua việc đánh cắp các
thông tin cá nhân và lừa đảo qua mạng internet. Tại Hoa Kỳ, các vụ lừa đảo thông
qua việc đánh cắp thông tin cá nhân là một mối quan ngại rất lớn chỉ đứng sau vụ
khủng bố 11/9. Tác giả phân chia các tội phạm này làm 2 loại: đánh cắp thông tin cá
nhân và lừa đảo qua các thông tin cá nhân giả (các vụ lừa đảo bằng hình thức
chuyển tiền, rửa tiền của các đối tượng người Châu Phi). Quyển sách đề cập nhiều
khía cạnh của loại tội phạm này: yếu tố người phạm tội, yếu tố nạn nhân, hệ thống
luật pháp và sự phát triển của loại tội phạm này trong tương lai.

13


Emilie

Andersen

Allan

and

với độ tuổi người thanh niên còn trẻ. Nhìn chung, bài viết nghiên cứu tội phạm xâm
phạm sở hữu dưới góc độ gắn với tình trạng giải quyết việc làm trong xã hội, chưa
bàn nhiều đến khía cạnh pháp luật và các yếu tố khác của tội phạm trên.
Chuyên

khảo

“Investigation

and

prevention

of

financialcrime:

Knowledgemanagement, intelligencestrategy anh executiveleadership”, tạm dịch:
“Phòng ngừa và điều tra tội phạm tài chính (kinh tế), kiến thức quản lý, chiến lược
thu thập tin tức và lãnh đạo chỉ huy” của Tác giả: Peter Gottschalk,
Nhà xuất bản: Ashgate Publishing Ltd, Hoa Kỳ - 2010. Nội dung chuyên khảo tập
trung vào các loại tội phạm kinh tế: lừa đảo, trộm cắp (dùng thủ đoạn thuộc về kinh
tế), thao túng thị trường và tham nhũng. Tác giả Petter Gottschalk đã giới thiệu các

14


chủ đề quan trọng bao gồm tội phạm có tổ chức, rửa tiền, tội phạm máy tính, tham
nhũng và đưa ra những giải pháp về việc sử dụng thông tin tình báo để chống lại tội
phạm kinh tế cũng như công tác quản lý, điều hành trong suốt quá trình điều tra.

15


liên quan, thực tiễn định tội danh cũng như các loại hình phạt áp dụng đối với chủ
thể phạm tội;
Hai là, các công trình khoa học nêu trên cũng đã tiếp cận làm rõ những vấn
đề liên quan đến đặc điểm, phương thức, thủ đoạn phạm tội cũng như các giải pháp
phòng ngừa, ngăn chặn. Mặc dù vậy, vì phần lớn các công trình chủ yếu tiếp cận
dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm cho nên ít nhiều chỉ có ý nghĩa
tham khảo về mặt phương pháp luận và hướng triển khai vấn đề nghiên cứu cũng
như một số đặc điểm tội phạm học của các tội xâm phạm sở hữu chứ chưa gắn sát
với đối tượng nghiên cứu của luận án này;
Ba là, các công trình khoa học nêu trên đã chứa đựng những hàm ý khoa
học cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội
xâm phạm sở hữu cũng như đề xuất giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm
trong thực tiễn ở Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng . Tuy
nhiên, điều quan trọng là phải biết chắt lọc, tiếp thu một cách phù hợp trong bối
cảnh cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như cần phải
dựa trên các giá trị pháp luật truyền thống của dân tộc Việt Nam, đồng thời phải
đảm bảo sự phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm được thừa nhận chung của
pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong thời gian qua, tác giả nhận thấy liên quan đến đề tài luận án đã có một
số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả đề cập đến dưới những
khía cạnh và góc độ khác nhau, chẳng hạn:
- Nhóm các giáo trình, sách chuyên khảo
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của GS. TS. Võ Khánh Vinh, Nhà xuất
bản Khoa học xã hội (Phần các tội phạm), Hà Nội năm 2014 hay Giáo trình Luật
hình sự Việt Nam (Tập 2) của GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Nhà xuất bản Công an
nhân dân, Hà Nội năm 2009 hoặc chuyên khảo Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội

21 tháng 10 năm 1970, phân tích cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công
dân cũng như các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu.
Tuy nhiên, chuyên khảo chủ yếu đề cập đến nội dung của hai pháp lệnh theo hướng
tổng kết và hướng dẫn thực tiễn, hàm lượng lý luận đề cập trong chuyên khảo này
còn khá hạn chế.
Sách chuyên khảo: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu”
của tác giả Nguyễn Duy Thuần, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 1991
đã tiếp cận, luận giải vấn đề trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu ở
các khía cạnh như khái niệm, đặc điểm cũng như các yếu tố cấu thành tội phạm của
các tội xâm phạm sở hữu. Mặc dù vậy, trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm

17


phạm sở hữu là một lĩnh vực rộng nên tác giả không đề cập một cách sâu sắc, toàn
diện và đầy đủ hệ thống các tội phạm cụ thể xâm phạm sở hữu với các hướng tiếp
cận nêu trên, đồng thời, chuyên khảo này được thực hiện nghiên cứu vào những
năm 90 của thế kỷ XX nên về mặt khoa học thì ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn
đối với sự phát triển xã hội hiện nay không còn nguyên giá trị vốn có của nó.
Sách chuyên khảo: “Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999 (được
sửa đổi, bổ sung năm 2009)” của ThS. Nguyễn Mai Bộ, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội năm 2010 đã tiếp cận làm rõ những vấn đề chung về quyền sở hữu
tài sản và các tội xâm phạm sở hữu như: khái niệm và các yếu tố cấu thành tội
phạm; phân tích dấu hiệu pháp lý của các tội phạm cụ thể. Đặc biệt, trên cơ sở phân
tích nội dung một số vụ án đã xảy ra trong thực tiễn, tác giả lập luận đưa ra quan
điểm của mình và tiến hành phân biệt một số tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, việc
phân biệt này cũng chỉ dừng lại ở một số tội danh cơ bản như cướp tài sản, cưỡng
đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chưa được tiến hành một cách đầy đủ,
toàn diện.

Sách chuyên khảo: “Nghiên cứu, so sánh pháp luật hình sự của một số nước
Asean” của TS. Phạm Văn Lợi, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội năm 2010 đã tập
trung phân tích pháp luật của 5 quốc gia tiêu biểu là Thái Lan, Malaysia, Philipines,
Indonesia và Singapore. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội các quốc gia
Asean, tác giả đã có những kiến giải chung về pháp luật hình sự của các quốc gia
này, tiến hành nghiên cứu so sánh những điểm tương đồng cũng như sự khác biệt
về nội dung, hình thức và kỹ thuật lập pháp liên quan đến các quy định tại phần
chung và phần các tội phạm cụ thể của các BLHS. Thông qua đó, tác giả đưa ra
những nhận xét và kiến nghị liên quan đến nguồn của pháp luật hình sự, về chế định
tội phạm và trách nhiệm hình sự, về hệ thống hình phạt, về một số tội phạm cụ thể.
Tác giả nhận thấy trong điều kiện hiện nay, việc nghiên cứu pháp luật hình sự của
các quốc gia Asean đã cung cấp thêm các dữ kiện, kinh nghiệm quý báu để giải
quyết những vấn đề về hoàn thiện pháp luật hình sự của nước ta. Trong phần phân
tích luật của mỗi nước cũng như trong phần nhận xét, khi phân tích những điểm độc
đáo trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia, tác giả đã lưu ý những nội dung Việt
Nam có thể tham khảo để xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự, đặc biệt liên
quan đến hai vấn đề còn nhiều tranh luận trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình
sự đó là việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân và nên hay không nên
cho phép đạo luật chuyên ngành quy định về tội phạm và hình phạt. Đây chính là
vấn đề đòi hỏi đề tài luận án đề cập giải quyết bằng những quan điểm với những
kiến nghị kịp thời.

19


- Nhóm các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, bài báo khoa học
Luận án tiến sĩ: “Các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa trong Luật hình
sự Việt Nam” của tác giả Trịnh Hồng Dương, Hà Nội năm 1980. Luận án đã đề cập
một số vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về các tội xâm
phạm sở hữu. Luận án được tác giả thực hiện trên cơ sở bình luận Pháp lệnh trừng


cấp huyện với lực lượng Công an cơ sở trong điều tra các vụ án trộm cắp tài sản
trên địa bàn tỉnh Hậu Giang”, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội năm 2008…
Những công trình này tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu đã từng bước làm rõ thực
trạng các tội xâm phạm sở hữu về cơ cấu, diễn biến, tính chất, mức độ, hậu quả trên
từng địa bàn khác nhau, phân tích nguyên nhân của các tội xâm phạm sở hữu, đưa
ra những dự báo có liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu, trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống. Tuy nhiên,
do đây là các công trình khoa học nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học và phòng
ngừa tội phạm nên chưa tập trung phân tích, kiến giải và đưa ra mô hình pháp lý
cho việc hoàn thiện các quy định của BLHS đối với các tội xâm phạm sở hữu.
Luận văn thạc sĩ: “Quy định về định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm
phạm sở hữu trong BLHS năm 1999” của tác giả Phạm Thế Anh, Trường Đại học
Luật Hà Nội năm 2011 đã trình bày một số vấn đề pháp lý về định lượng, làm rõ ý
nghĩa quy định về định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu trong
BLHS năm 1999 nhằm phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm pháp luật khác, với
mục đích định khung hình phạt trong các tội xâm phạm sở hữu. Tác giả đã đánh giá
thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm
phạm sở hữu trong BLHS năm 1999, từ đó nêu lên những đề xuất và kiến nghị.
Mặc dù vậy, nhiều vấn đề luận văn chỉ mới đề cập mà chưa tập trung nghiên cứu
giải quyết thỏa đáng như: căn cứ nào để quy định định lượng giá trị tài sản đối với
các tội xâm phạm sở hữu; định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở
hữu dựa trên nguyên tắc nào; đối tượng và tiêu chí định lượng là gì; cách thức xác
định định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu. Vì thế, có thể
khẳng định, công trình này còn tồn tại nhiều khoảng trống về mặt khoa học Luật hình
sự cần phải được giải quyết thỏa đáng.
Luận văn thạc sĩ: “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong
Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Đặng Quang Dũng, Viện Nhà nước và Pháp
luật, Hà Nội năm 2010 đã tiếp cận làm rõ khái niệm về xâm phạm sở hữu, khái
niệm sở hữu và sở hữu tài sản, khái niệm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt,

“Trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có
giá trị tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu” của tác giả Nguyễn Văn Trượng,
Tạp chí Tòa án nhân dân số 01 (1/2005) đã tiến hành làm rõ mức giá trị tài sản tối
thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự quy định trong cấu thành cơ bản của một số
tội xâm phạm sở hữu, thể hiện rõ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta,
đồng thời là căn cứ để phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật.
Tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành
vi xâm phạm sở hữu có giá trị tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu theo quy định
của BLHS. Đặc biệt, ở công trình này tác giả đã minh chứng bằng thực tiễn xét xử

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status