HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TẠ ĐÌNH HÒA
QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG
NÔNG THÔN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TẠ ĐÌNH HÒA
QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG
NÔNG THÔN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Thanh Cúc
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
các phòng, ban của huyện Hiệp Hòa; Người dân các xã Đông Lỗ, Hùng Sơn,
Thường Thắng nơi thực hiện đề tài đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn
thành luận văn./.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 201
Học viên
Tạ Đình Hòa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
1
Lời cảm ơn
ii
1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
3
1.2.1 Mục tiêu chung
3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
3
1.3 Đối tượng nghiên cứu
3
1.4 Phạm vi nghiên cứu
4
1.4.1 Phạm vi nội dung
4
1.4.2 Phạm vi không gian
4
17
2.2 Cơ sở thực tiễn
19
2.2.1 Kinh nghiệm về quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
một số nước trên thế giới
19
2.2.2. Một số kinh nghiệm chủ trương, chính sách về quản lý hệ thống
đường giao thông nông thôn ở nước ta
20
2.2.3 Các bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
25
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
27
40
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
42
4.1. Thực trạng quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn huyện Hiệp Hòa
42
4.1.1 Hiện trạng hệ thống đường giao thông nông thôn huyện Hiệp Hòa
42
4.1.2 Thực trạng công tác xây dựng hệ thống đường giao thông nông
thôn huyện Hiệp Hòa
51
4.1.3 Hiện trạng công tác quy hoạch hệ thống đường giao thông nông
thôn huyện Hiệp Hòa
53
4.1.4 Hiện trạng công tác quản lý, khai thác và bảo trì hệ thống đường
giao thông nông thôn huyện Hiệp Hòa
57
4.1.5 Hiện trạng công tác huy động nguồn lực cộng đồng tham gia xây
4.3 Định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý hệ thống đường
giao thông nông thôn huyện Hiệp Hòa
80
4.3.1 Định hướng tăng cường quản lý hệ thống đường giao thông nông
thôn huyện Hiệp Hòa
80
4.3.2 Một số giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý hệ thống đường giao
thông nông thôn của huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang trong thời
gian tới
81
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
95
5.1 Kết luận
95
5.2 Kiến nghị
97
TÀI LIỆU THAM KHẢO
: Cấp phối
CPK
: Chi phí khác
DPP
: Dự phòng phí
ĐGND
: Đóng góp nhân dân
GPMB
: Giải phóng mặt bằng
GTNT
: Giao thông nông thôn
GTVT
: Giao thông vận tải
GTXL
: Giá trị xây lắp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Hiện trạng sử dụng đất huyện Hiệp Hòa năm 2014
29
3.2
Tình hình dân số huyện Hiệp Hoà qua các giai đoạn
30
3.3
Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Hiệp Hòa năm 2011 –
2014 (Theo giá cố định 1994)
32
3.4
44
Hiện trạng các công trình cầu, cống trọng yếu của huyện Hiệp Hòa
tính đến hết năm 2014
4.5
45
Hiện trạng các tuyến đường giao thông liên xã của huyện Hiệp Hòa
tính đến hết năm 2014
4.6
46
Hiện trạng các tuyến đường giao thông trục xã, thôn, xóm của huyện
Hiệp Hòa tính đến hết năm 2014
48
4.7
Hiện trạng đường sản xuất huyện Hiệp Hòa tính đến hết năm 2014
50
4.8
Tình hình phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2010 – 2014
64
4.14 Thực trạng tham gia đóng góp của người dân tại các xã điều tra
65
4.15 Sự tham gia đóng góp của người dân vào xây dựng, quản lý hệ thống
đường giao thông nông thôn tại các xã điều tra
65
4.16 Ý kiến của người dân về sự tham gia của mình vào giai đoạn quản lý
sử dụng, duy tu bảo dưỡng đường giao thông nông thôn
67
4.17 Tình hình quản lý sử dụng, duy tu, bảo dưỡng hệ thống đường giao
thông nông thôn ở 3 xã được điều tra
69
4.18 So sánh thu nhập BQ/người của một số huyện ở tỉnh Bắc Giang
73
4.19 Trình độ dân trí của người dân
74
Trang
3.1
Cơ cấu lao động phân theo trình độ huyện Hiệp Hoà năm 2014
4.1
Kinh phí đầu tư xây dựng, quản lý đường giao thông nông thôn
huyện Hiệp Hòa
31
72
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Số ảnh
4.1
Tên hình
Xây dựng đường trục chính nội đồng xã Đông Lỗ -Hiệp Hòa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Trang
49
Page ix
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
78
Page x
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa X) về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã thể hiện tầm nhìn chiến lược, ý chí quyết tâm
của Đảng để thay đổi diện mạo nông thôn với mục tiêu phát triển nông nghiệp và
nâng cao đời sống của người dân nông thôn, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững và
đồng đều khắp cả nước. Nhằm cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban
hành “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”, Quyết định số 800-QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới. Đây là chủ trương đúng đắn hợp lòng dân của Đảng và Nhà nước đã được
nhân dân đồng tình và hưởng ứng.
Trong 19 tiêu chí về xây dựng NTM của Bộ tiêu chí quốc gia, tiêu chí về
thực hiện quy hoạch và phát triển giao thông nông thôn được đặt lên hàng đầu
(Nguyễn Ngọc Đông, 2012). Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có
những sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực giao thông nông thôn. Theo tính toán, của
Bộ Giao thông vận tải, hệ thống GTNT hiện nay phục vụ cho hơn 75% dân số trong
cả nước. Nguồn vốn phát triển GTNT không ngừng gia tăng. Về cơ bản, việc đầu tư
phát triển GTNT đã góp phần thực hiện Chiến lược tăng trưởng toàn diện và xóa đói
giảm nghèo và cung cấp hạ tầng cho người nghèo. Việc giảm tỷ lệ đói nghèo của
nước ta từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011) và 9,6% (năm 2012),
ước thực hiện năm 2013 là 7,6 – 7,8%. Tuy nhiên, hệ thống các công trình giao
đường GTNT. Tính đến nay, tổng số chiều dài đường giao thông nông thôn gồm
đường huyện quản lý, đường liên xã, đường trục xã, đường liên thôn, đường thôn,
xóm, đường nội đồng là khoảng 1889,68 km: đã cứng hóa được khoảng 829,53 km
(đạt trung bình 43,90%), có khoảng 400km đường được cứng hóa trước năm 2005
(đến nay phần lớn mặt đường cứng hóa đã xuống cấp); còn lại khoảng 1060,15 km
mặt đường là cấp phối - đất (chiếm 56,1 %) (UBND huyện Hiệp Hòa, 2015).
Tuy nhiên, việc quản lý hệ thống GTNT trên địa bàn huyện còn nhiều hạn
chế. Chất lượng thi công một số tuyến đường chưa đảm bảo về chất lượng và mỹ
quan như: độ bằng phẳng, khe co giãn chưa đứng quy cách, mặt đường bị rỗ, nền
đường còn yếu, chưa hoàn thiện phần lề đường, một số tuyến chưa xây dựng đồng
bộ với hệ thống thoát nước. Công tác đăng ký tiếp nhận xi măng của các xã, huyện
chưa sát với tình hình thực tế, một số tuyến chưa có đủ mặt bằng đã đăng ký tiếp
nhận xi măng dẫn đến tồn kho lớn phải điều chuyển sang tuyến khác, mặt khác việc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
quản lý xi măng của một số địa phương cũng chưa chặt chẽ. Dẫn đến kết quả xây
dựng đường GTNT chưa đồng đều, công tác quyết toán các tuyến đường và điều
chỉnh hồ sơ địa chính cho các hộ hiến đất làm đường còn chậm.
Do đó, huyện Hiệp Hòa rất cần có cơ chế quản lý hệ thống đường GTNT
thống nhất, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của địa phương, tạo điều kiện cho người
dân tích cực tham gia vào xây dựng bộ mặt nông thôn mới xứng đáng với sự phát
triển của tỉnh Bắc Giang. Tính đến nay, đã có rất nhiều công trình bàn về GTNT,
cũng như việc xây dựng đường GTNT; nhưng đối với Hiệp Hòa thì chưa có công
trình nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu cụ thể việc quản lý hệ thống đường giao
thông nông thôn trên địa bàn huyện.
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý hệ thống
Đề tài được thực hiện trong phạm vi huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang. Tập
trung nghiên cứu tại 3 xã: Đông Lỗ, Hùng Sơn, Thường Thắng.
1.4.3 Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu đề tài: Thông tin thứ cấp thu thập qua 3 năm (từ năm
2012- 2014); thông tin sơ cấp được tiến hành điều tra khảo sát trong năm 2015.
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 6/2014 – 10/2015.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Một số vấn đề lý luận về quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn
2.1.1 Các khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về hệ thống đường giao thông nông thôn
a. Đường giao thông nông thôn
Theo cuốn sổ tay bảo dưỡng đường giao thông nông thôn của Bộ Giao thông
vận tải (2011), Giao thông nông thôn là sự chuyển dịch người và hàng hóa trong
phạm vi huyện, xã, thôn xóm. Trong đó, hệ thống GTNT gồm kết cấu hạ tầng,
phương tiện vận tải và người tham gia giao thông.
Theo Thông tư 32/2014/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn
về quản lý, vận hành khai thác đường giao thông nông thôn, Đường giao thông nông
thôn bao gồm đường trục xã, đường liên xã, đường trục thôn; đường trong ngõ xóm
và các điểm dân cư tương đương; đường trục chính nội đồng. Đường GTNT chủ yếu
là đường bộ, cầu cống, bến cảng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn. Có thể nói
đường giao thông nói chung, đường giao thông nông thôn nói riêng là huyết mạch
sống còn của lưu thông hàng hoá (Bộ Giao thông vận tải, 2014).
Như vậy có thể hiểu, đường GTNT là đường thuộc khu vực nông thôn, được
+ Đường xã: Là đường nối trung tâm hành chính của xã với các thôn, làng,
ấp, bản và đơn vị tương đương hoặc đường nối với các xã lân cận; đường có vị trí
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã.
- Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí
quốc gia về nông thôn mới:
+ Đường trục xã: là đường nối trung tâm hành chính xã đến trung tâm các thôn;
+ Đường trục thôn: là đường nối trung tâm thôn đến các cụm dân cư trong thôn;
+ Đường ngõ, xóm: là đường nối giữa các hộ gia đình trong các cụm dân cư;
+ Đường trục chính nội đồng: là đường chính nối từ khu dân cư đến khu sản
xuất tập trung của thôn, xã.
c. Hệ thống đường giao thông nông thôn
Theo Quyết định 167 về quản lý mạng lưới đường giao thông nông thôn
được các cán bộ cấp huyện và xã quản lý, Hệ thống đường giao thông nông thôn là
một hệ thống các con đường bao quanh làng bản, thôn xóm. Nó bao gồm các tuyến
đường từ trung tâm xã, đến các trục đường quốc lộ, trung tâm hành chính huyện,
đường liên xã, liên thôn, đường làng ngõ xóm và đường chính ra đồng ruộng xây
dựng thành một hệ thống giao thông liên hoàn (DFID, SRNIP, 2003).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
Hệ thống này nhằm đảm bảo cho các phương tiện cơ giới loại trung, nhẹ và
xe thô sơ qua lại. Bao gồm hệ thống các tuyến đường nối liền từ trung tâm hành
chính huyện đến các trục đường quốc lộ, trung tâm xã; hệ thống đường xã, đường
thôn, đường làng ngõ xóm và đường trục chính ra đồng ruộng phục vụ sản xuất,
được nối tiếp thành một hệ thống giao thông liên hoàn có tính liên kết với nhau.
2.1.1.2 Khái niệm về quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn
a. Khái niệm quản lý
Frederick Winslow Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động
thôn thông qua cải tạo các đường giao thông nông thôn; tăng khả năng tiếp cận cho
các vùng nông thôn với các dịch vụ, thương mại; góp phần vào chương trình xoá
đói giảm nghèo của Chính phủ. Tăng cường năng lực quản lý của các cơ quan trung
ương và địa phương. Giảm tác động xấu do điều kiện hệ thống đường giao thông
nông thôn kém gây ra đối với sức khoẻ của dân cư nông thôn và giảm thiểu tình
trạng ô nhiễm môi trường nông thôn (dẫn theo Lê Thị Bích Lan, 2008).
Theo Luật Giao thông đường bộ năm 2008 thì chủ thể và đối tượng quản lý
hệ thống đường GTNT là cơ quan quản lý nhà nước về GTNT ở các cấp (Quốc hội,
2008), cụ thể như sau:
+ Cấp trung ương: Bộ Giao thông vận tải quản lý về GTNT trên toàn quốc,
bao gồm quản lý chiến lược; ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, các văn bản quy định
về bảo vệ kết cấu GTNT đường bộ...
+ Cấp tỉnh: UBND tỉnh, Sở Giao thông vận tải quản lý hệ thống GTNT trên
địa bàn tỉnh.
+ Cấp huyện: UBND huyện, Phòng Kinh tế hạ tầng huyện trực tiếp quản lý
hệ thống đường GTNT trên địa bàn huyện.
+ Cấp xã: UBND xã trực tiếp quản lý đường GTNT trên địa bàn xã, gồm
đường xã, đường thôn xóm và đường sản xuất.
Có thể nói, quản lý hệ thống đường GTNT là việc quản lý bộ phận chủ đạo
của kết cấu hạ tầng GTNT, làm giảm tác động xấu do điều kiện hệ thống đường giao
thông nông thôn yếu kém gây ra đối với sức khoẻ của dân cư nông thôn và giảm thiểu
tình trạng ô nhiễm môi trường; nhằm nâng cao điều kiện sống cho người dân nông
thôn, góp phần thúc đẩy phát triển Kinh tế - Văn hoá - Xã hội; tăng khả năng tiếp cận
cho các vùng nông thôn với các dịch vụ, thương mại; góp phần vào chương trình xoá
đói giảm nghèo của Chính phủ; đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá đại hoá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm như vậy sẽ kìm hãm quá trình sản xuất. Còn nếu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
hệ thống giao thông tốt nó sẽ thúc đẩy sự lưu chuyển này từ đó thúc đẩy sản xuất của
người dân và của nhà máy. Vì vậy mà đời sống của các vùng nông thôn được cải thiện.
b. Vai trò của đường giao thông nông thôn đối với phát triển xã hội
Đường giao thông nông thôn phát triển đảm bảo cho các hoạt động đi lại của
người dân vùng đó được thuận lợi hơn. Từ đó sẽ thúc đẩy việc giao lưu văn hóa giữa
các vùng, các khu vực, giữa thành phố với nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi.
Giao thông nông thôn phát triển còn tạo công ăn việc làm cho người dân
nông thôn lúc nông nhàn. Vì các công trình giao thông này được xây dựng ngay tại
địa phương và phải cần đến một lượng lao động lớn. Do đó có thể huy động một số
lao động của địa phương, giải quyết thất nghiệp cho người dân.
Ngoài ra, giao thông nông thôn phát triển còn để phục vụ cho sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc trên bước đường hội nhập kinh tế trên thế giới và
trong khu vực.
2.1.3. Đặc điểm của quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn
Đặc điểm của quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn có phạm vi quản
lý rộng, bao gồm nhiều công tác quản lý khác nhau đòi hỏi phải phối hợp một cách
chặt chẽ giữa các cơ quan khác nhau trong cùng hệ thống quản lý nhà nước, nhằm
phát huy hiệu quả cao nhất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước nói
chung và cho khu vực nông thôn nói riêng, đảm bảo hài hòa lợi ích của cộng đồng.
Đặc điểm của quản lý hệ thống đường GTNT dựa trên những khung pháp lý
của nhà nước đã thiết lập, đó là cơ sở hoạt động.
Bộ máy quản lý có tính đa cấp và bị chi phối bởi quan hệ kinh tế đối ngoại,
bởi hệ thống giao thông nông thôn là một hệ thống cấu trúc phức tạp phân bố trên
2.1.4.2 Quy hoạch hệ thống đường giao thông nông thôn
Việc đầu tư xây dựng các công trình giao thông nông thôn cần phải thực hiện
theo quy hoạch và kế hoạch.
Quy hoạch GTNT theo các yêu cầu cơ bản như sau:
- Đảm bảo định hướng cho việc quyết định đầu tư vào chương trình phát
triển kinh tế vùng nông thôn, thực hiện đầu tư bền vững, làm đâu được đó.
- Xác định phương hướng phát triển GTNT trong từng giai đoạn; cân đối
nguồn vốn đầu tư, bảo trì theo kế hoạch từng năm và dài hạn.
- Quy hoạch GTNT phải gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy
hoạch xây dựng nông thôn mới.
- Quy hoạch GTNT phải được quản lý chặt chẽ, đảm bảo hành lang đường
không bị lấn chiếm. Quy hoạch GTNT phải thường xuyên điều chỉnh, bổ sung cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
phù hợp với thực tiễn.
Dựa vào quy hoạch giao thông nông thôn lập kế hoạch đầu tư xây dựng và
bảo trì đường GTNT:
- Đối với cấp tỉnh: Sở KH-ĐT và Sở GTVT trên cơ sở quy hoạch và kế
hoạch của tỉnh hướng dẫn cấp huyện tổng hợp, đề xuất kế hoạch phát triển GTNT
và nhu cầu vốn hàng năm và 5 năm để trình UBND tỉnh phân bổ vốn hỗ trợ cho xây
dựng và bảo trì hệ thống đường GTNT của các huyện.
- Đối với cấp huyện: xác định kế hoạch xây dựng và bảo trì các tuyến đường
do huyện quản lý; kế hoạch hỗ trợ xây dựng và bảo trì các tuyến đườngxã. Kế hoạch
xây dựng và bảo trì hệ thống GTNT cấp huyện được thông qua UBND cấp huyện
và được sự chấp thuận của Chủ tịch UBND tỉnh.
- Đối với cấp xã: xác định kế hoạch xây dựng và bảo trì các tuyến đường xã,
trọng ngang hàng với công tác xây dựng, cải tạo nâng cấp, góp phần nâng cao hiệu
quả đầu tư.
Việc quản lý khai thác, phải được thực hiện ngay sau khi công trình hoàn
thành đưa vào sử dụng. Chi phí bảo trì sẽ tăng dần từ thấp đến cao theo tuổi thọ và
khối lượng khai thác của con đường.
Bảo dưỡng đường được phân ra nhiều loại theo khối lượng công việc, việc
xây dựng kế hoạch bảo dưỡng được thực hiện theo năm, được xác định từ số liệu
thống kê khối lượng bảo dưỡng (Bảo dưỡng đường huyện: nguồn vốn cho bảo
dưỡng đường huyện chủ yếu xác định từ nguồn ngân sách địa phương tỉnh và
huyện; Bảo dưỡng đường xã và đường thôn, xóm; Đường xã sử dụng ngân sách xã
hàng năm có hỗ trợ một phần từ tỉnh, huyện; đồng thời đường xã, đường thôn, xóm
được xác định nguồn chủ yếu từ việc huy động sự đóng góp từ người dân, vì thực tế
các tuyến đường này người dân nội bộ sử dụng là chủ yếu).
Thực tế hiện nay nước ta đang áp dụng cơ cấu quản lý theo mô hình sự
nghiệp, đây là mô hình quản lý tập trung theo kế hoạch, hoạt động theo hình thức
vốn sự nghiệp do Nhà nước quản lý.
Việc duy tu bảo dưỡng đường rất tốn kém tại vùng nông thôn và mọi nỗ lực
cần được bỏ ra nên tập trung vào một mạng lưới nòng cốt được lựa chọn một cách
cẩn thận, đồng thời dựa vào các nguồn lực địa phương càng nhiều càng tốt. Sự quản
lý gắn liền với những ai tham gia vào quá trình chọn lựa tuyến đường ngay từ ban
đầu, vì nếu họ không có tiếng nói thì sẽ không muốn đóng góp.
Việc duy tu bảo dưỡng là một yếu tố then chốt liên quan đến cả về mặt kỹ
thuật, tài chính và thể chế. Các vấn đề thường phát sinh vì quỹ cho việc duy tu bảo
dưỡng và trách nhiệm cho từng cấp chính quyền liên quan tới các việc cần làm được
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13