nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình - Pdf 35

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN
-----------------*-----------------

NGUYỄN THỊ THẮNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG TRỪ CÂY TRINH
NỮ MÓC (Mimosa diplotricha C.Wright) THEO HƯỚNG TỔNG
HỢP TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG, NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI, 2015


BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN
-----------------*-----------------

NGUYỄN THỊ THẮNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG TRỪ CÂY TRINH
NỮ MÓC (Mimosa diplotricha C.Wright) THEO HƯỚNG TỔNG
HỢP TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG, NINH BÌNH
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 60 62 01 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. NGUYỄN HỒNG SƠN



Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện
năm 2014 tại Vườn Quốc gia Cúc Phương; xã Cúc Phương, Nho Quan, Ninh Bình
dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Hồng Sơn – Phó Giám đốc Viện Khoa học
Nông nghiệp Việt Nam. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn
này là trung thực và không trùng lặp với các luận văn khác trong và ngoài nước.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thắng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn

i

Lời cam đoan

ii


2

3.

4.

2.1 Mục tiêu

2

2.2 Yêu cầu

2

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2

3.1 Ý nghĩa khoa học

2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

2

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

8

Page iii


11

1.2.3. Khả năng kiểm soát và diệt trừ loài trinh nữ móc trên thế giới
1.3.

Tình hình nghiên cứu cây Trinh nữ móc ở Việt Nam

15

1.3.1. Mức độ phát tán và xâm lấn tại Việt Nam

15

1.3.2. Thực trạng công tác quản lý, kiểm soát và việc áp dụng các biện

16

pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc tại Việt Nam
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.

Vật liệu nghiên cứu

18

2.3.1. Phương pháp xác định mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của

18

cây Trinh nữ móc
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu các biện pháp phòng trừ

18

2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu

21

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1.

22

Mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của cây Trinh nữ móc tại

22

một số khu vực điều tra
3.2.

Kết quả nghiên cứu các biện pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc

37


58

TÀI LIỆU THAM KHẢO

59

PHỤ LỤC

63
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT

Chữ viết tắt

Từ viết vắt

1

M. diplotricha

Mimosa diplotricha

2

CT

Công thức


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


DANH MỤC BẢNG
TT bảng

Tên bảng

Trang

2.1.

Sơ đồ bố trí thí nghiệm tại Vườn Quốc gia Cúc Phương

19

2.2.

Tọa độ các ô thí nghiệm trong mô hình kiểm soát, diệt trừ cây

20

Trinh nữ móc tại Vườn Quốc gia Cúc Phương
3.1.

Mật độ cây Trinh nữ móc trước và sau khi áp dụng các biện

38

3.6.

Thành phần các loài côn trùng và nhện trong mô hình (Vườn

44

Quốc gia Cúc Phương, 2014)
3.7.

Tần suất xuất hiện của các loài côn trùng và nhện qua các kỳ

45

điều tra (Vườn Quốc gia Cúc Phương, 2014)
3.8

Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các

46

công thức thí nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương,
2013&2014)
3.8

Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các

47

công thức thí nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương,
2013&2014) (tiếp theo)

Tổng số loài và tỷ lệ % các loài thực vật ở các công thức thí

51

nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương, 2013&2014)
3.10.

Chiều cao cây Lát hoa Chucrasia tabularis A.Fuss

52

3.11.

Đường kính tán cây Lát hoa Chucrasia tabularis A.Fuss

52

3.12.

Đường kính cây Lát hoa Chucrasia tabularis A.Fuss

53

3.13.

Chiều cao cây Sấu Dracontomelon duperreanum Pierre

53

3.14.


Page vii


DANH MỤC HÌNH

TT hình

Tên hình

Trang

3.1.

Cây Trinh nữ móc mọc trên đất canh tác nông nghiệp ở

25

xóm Trẹ
3.2.

Cây Trinh nữ móc mọc dọc theo đường đi ở thôn Nghéo

28

3.3.

Cây Trinh nữ móc mọc trên đất cánh tác nông nghiệp ở

29



MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây Trinh nữ móc - Mimosa diplotricha C. Wright còn được gọi là cây Trinh
nữ thân vuông, đang có nguy cơ xâm lấn các vùng đất nông nghiệp và hệ sinh thái
rừng. Do có khả năng sinh trưởng, phát triển và phát tán quần thể rất lớn, nó được
xếp vào trong danh sách những loài sinh vật ngoại lai gây hại nguy hiểm đối với
hầu hết các Quốc gia đặc biệt là các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiều nước
trên thế giới đặc biệt là các nước Châu Phi, Châu Úc và khu vực Đông Nam Á đã
gặp nhiều khó khăn và tốn kém trong việc đối phó với Trinh nữ móc khi chúng xâm
lấn trên một diện tích rộng lớn, gây cản trở các hoạt động canh tác, giao thông cũng
như biến các vùng đất canh tác thành các vùng hoang hóa.
Ở nước ta, cây Trinh nữ móc có thể mọc và phát tán ở tất cả các vùng sinh
thái từ các tỉnh miền núi đến đồng bằng, tuy nhiên mức độ xâm nhiễm chưa cao nên
trước đây việc nghiên cứu và phòng trừ cây Trinh nữ móc còn ít được quan tâm.
Hiện nay, cây Trinh nữ móc đã phát triển khá nhanh và đang là một trong những
loài sinh vật ngoại lai xâm hại nghiêm trọng nhất ở Việt Nam. Chúng mọc dày, um
tùm, đan xen vào nhau tạo thành những bụi lớn và trở thành đối tượng cỏ dại nguy
hiểm khó phòng trừ, gây cản trở cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng tới môi
trường và đa dạng sinh học.
Mặc dù tác hại của cây Trinh nữ móc đã được nhiều phương tiện thông tin
đại chúng đăng tải nhưng cho đến nay vẫn chưa có được giải pháp hữu hiệu để ngăn
chặn sự lây lan của chúng. Để dối phó với khó khăn do cây Trinh nữ móc gây ra,
người nông dân vẫn chủ yếu sử dụng biện pháp cắt, chặt cây, tuy nhiên chỉ sau một
thời gian ngắn cây lại tái sinh mạnh hơn. Mặt khác, việc áp dụng các biện pháp cơ
giới chỉ có thể tiến hành khi cây mới xâm lấn trên một diện tích hẹp và mật độ quần
thể thấp, khi cây đã mọc lan tràn với mật độ và diện tích che phủ cao thì việc áp
dụng các biện pháp này là thiếu tính khả thi.

Thông qua các kết quả nghiên cứu của đề tài các nhà quản lý và người dân
biết được mức độ xâm lấn và nguy hại của cây Trinh nữ móc. Từ đó, nâng cao vai
trò và năng lực của các nhà quản lý trong việc kiểm soát sự xâm lấn và lây lan của
cây Trinh nữ móc ở các Vườn Quốc gia.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


Các kết quả nghiên cứu giúp nông dân và các nhà quản lý lựa chọn được giải
pháp phòng trừ hiệu quả nhất, hạn chế tác hại đến môi trường và đa dạng sinh học.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của Đề tài là cây Trinh nữ móc (M. diplotricha).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Xác định phạm vi, mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của cây Trinh nữ
móc ở Vườn Quốc gia Cúc Phương và vùng đệm. Đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh
tế và tác động về mặt môi trường của một số biện pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Theo các nhà nghiên cứu, cây Trinh nữ móc có nhiều đặc điểm thích nghi và
có lợi giúp chúng có thể nhanh chóng sinh trưởng, phát triển, lây lan và xâm nhiễm

ở Nam và Trung Mỹ, cũng như vùng biển Caribbean (Barneby, 1991; Holm et al.,
1977; Kostermans et al., 1987; Parsons and Cuthbertson, 1992; Willson and Garcia,
1992) [11, 16, 17, 21, 24], tuy nhiên vẫn chưa xác định rõ liệu nó có nguồn gốc ở
Bắc Mỹ và một phần ở vùng biển Caribbean không (Barneby, 1991) [11]. Ngày nay
nó đã trở nên phổ biến khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây Trinh nữ móc lần
đầu tiên được du nhập vào các khu vực khác như một dạng cây cảnh, làm hàng rào,
dần dần chúng phát tán theo dòng nước, con người, động vật…, xâm nhập vào hầu
hết các nước trên thế giới và trở thành đối tượng cỏ dại nguy hiểm ở các nước nhiệt đới.
Trinh nữ móc là một trong số 76 loài cỏ dại nghiêm trọng nhất trên thế giới
(Holm et al., 1977) [16] và được xem như là một loài cỏ dại hại 13 loại cây trồng ở
18 quốc gia. Theo Holm et al. (1977) [16] cây Trinh nữ móc được xem là loài cỏ
dại nghiêm trọng và chủ yếu ở Borneo, Fiji, Malaysia, Melanesia, New Guinea, Tây
Polynesia, Philippines, Đài Loan, Úc và Indonesia.
Waterhouse and Norris (1987) [23] coi nó là một loài cỏ dại nghiêm trọng ở
các đảo Thái Bình Dương, Đông Nam Á, Mauritius và Nigeria. Nó là một loài rất
dễ xâm lấn bất cứ nơi nào mà nó xâm nhập vào. Phần lớn cây này thường xâm lấn
các khu vực đất màu mỡ, có độ ẩm, không khí, ánh sáng đều cao, đất hoang hóa,
các đồng cỏ, lề đường, rừng trồng cây tái sinh, ở rìa các khu rừng, đất ven sông, các
kênh rạch, dòng sông bị khô cạn trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Holm et al.,
1977; Kostermans et al., 1987; Parsons and Cuthbertson, 1992; Willson and Garcia,
1992) [16, 17, 21, 24]. Cây Trinh nữ móc sẽ chết và không mọc được khi bị che
bóng, vì vậy nó không gây hại ở những khu rừng kín.
Tại Úc, cây Trinh nữ móc được tìm thấy trong các khu vực ven biển phía
Bắc Queensland giữa Ingham và Cooktown, xung quanh Mackay và tại Brisbane
(Anon, 2001b; Parsons and Cuthbertson, 1992) [28, 21], và nó có nguy cơ lây lan

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


suất sắn trong 12 tháng sau trồng đã giảm 80% (Alabi et al., 2001) [9]. Cũng ở
Nigeria, cây Trinh nữ móc được xem là loài cỏ dại có hại nhất trong thành phố
Benin, nó đã xâm lấn các trang trại, cánh đồng hoang và các mảnh đất xây dựng
chưa phát triển (Ogbe and Bamidele, 2006) [20]. Ở Papua New Guinea, cây Trinh
nữ móc tác động tiêu cực trực tiếp đến sự sinh trưởng phát triển, năng suất của cây
mía nhưng chưa có đánh giá thực tế nào về thiệt hại kinh tế. Tuy nhiên, trong các
trang trại chăn nuôi gia súc ở thung lũng Markham, mức chi phí hàng năm để kiểm
soát bằng hóa chất lên tới 130.000 đô la (Kuniata, 1994) [18].
Một số nghiên cứu cho rằng cây Trinh nữ móc độc hại đối với gia súc
(Waterhouse và Norris, 1987; Gibson and Waring, 1994) [23, 14], mặc dù báo cáo
của Parsons and Cuthbertson (1992) [21] cho lại rằng một con cừu được cho ăn 60 90 g Trinh nữ móc/ngày trộn với cỏ linh lăng không bị bất kỳ triệu chứng có hại
nào. Ở Thái Lan, 22 con trâu đầm lầy chết sau khi ăn cây Trinh nữ móc 18 - 36 giờ,
với các triệu chứng tiết nước bọt, tê cứng, giảm nhai lại, run cơ, khó thở và nằm ngả
xuống.
Cây Trinh nữ móc có khả năng leo cao vượt lên trên các loại cây trồng khác
(Schultz, 2000) [22], nó cản trở ánh sáng ngăn cản sự tái sinh tự nhiên của các loại
cây trồng khác, có thể tạo thành mối nguy hiểm gây cháy tại những vùng đất hoang
khi cây khô (PIER, 2004) [32]. Ở Úc, người ta cho rằng cây Trinh nữ móc là đối thủ
cạnh tranh liên tục và tạo thành thảm dày đặc ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của
của một số loài bản địa (Werren, 2001) [33], điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến
hệ sinh thái thực vật bản địa và quần xã động vật.
Như vậy, cây Trinh nữ móc đã biến nhiều vùng đất canh tác thành đất hoang
hóa, những vùng bị loài ngoại lai này xâm lấn thường tạo nên những khu vực thuần
loại, gây thiệt hại rất lớn đến đời sống kinh tế và xã hội của người dân. Cây Trinh
nữ móc xâm nhiễm đã cản trở việc con người và động vật tiếp cận với các vùng đất

hình thành khối thấp mọc đan chen nhau hoặc leo lên các loài cây khác. Thân cây
có hình dạng góc cạnh, có gai (Apfisn, 2007; Chauhan and Johnson, 2008; Holm et
al., 1977; Kuniata et al., 1993) [26, 29, 16, 19], gai dài từ 3 - 5mm, uốn cong ra
phía sau.
Lá Trinh nữ móc mượt như lông tơ, có màu xanh sáng (xanh nhạt), mọc so
le. Lá kép lông chim hai lần. Mỗi lá gồm 4 - 9 cặp lá kép nhỏ hình lông chim, dài 3
- 6cm. Mỗi lá kép có 12 - 30 cặp lá chét hình mũi mác, không cuống, mọc đối xứng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


dài 6 - 12mm và rộng 1,5mm (Apfisn, 2007; Chauhan and Johnson, 2008; Holm et
al., 1977; Kuniata et al., 1993) [26, 29, 16, 19]. Các cặp lá chét cụp lại khi trời tối
và khi bị chạm vào, nhưng chúng chỉ được coi là nhạy cảm vừa phải. Cuống lá dày
ở phần gốc cuống, có những là kèm nhọn, mảnh và có lông mịn, có gai dọc theo
mặt sau của cuống lá.
Hoa nhỏ, hình cầu, có màu tím hồng, đường kính khoảng 12mm, mọc thành
cụm trên cùng một cuống ở nách lá, mỗi cụm có từ 1 - 3 hoa. Cuống hoa dài và có
nhiều lông. Hoa có thể ra quanh năm, nhưng tập trung chủ yếu vào cuối mùa mưa
(Holm et al., 1977; Parsons and Cuthbertson, 1992, Waterhouse and Norris, 1987)
[16, 21, 23].
Quả dạng đậu, phẳng, thẳng hoặc hơi cong, có gai mềm, mỗi quả có 3-5
ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt; quả dài 10 – 35mm, rộng 6 - 10mm, mọc thành chùm
ở nách lá. Khi non quả có màu xanh xám, khi quả khô có màu nâu và quả tự tách ra
khi ở trên cây. Vỏ quả khi khô rất nhẹ nên có thể lan truyền theo dòng nước, dính
vào quần áo, lông động vật, phương tiện giao thông, qua đất và các nông sản khác.
Hạt có màu vàng nâu, bóng, phẳng, hình trứng, dài 2 - 3,5mm, dầy 0,6 1,4mm. Mỗi năm cây Trinh nữ móc có thể sản xuất ra 8.000 - 12.000 hạt/m2, có thể
lên đến 20.000 hạt/m2 (Chauhan and Johnson, 2008; Holm et al., 1997; Kuniata et
al., 1993) [29, 16, 19]. Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ và ẩm độ hạt Trinh

Cây con nhanh chóng đạt được thời kỳ sinh trưởng sinh thực và kết hạt ngay
năm đầu tiên. Quả khi khô rất nhẹ, trên vỏ quả có lớp lông dày đặc nên có thể giúp
quả bám vào cơ thể động vật, quần áo, hay trôi dạt theo dòng nước phát tán đi tới
các vùng khác.
Cây Trinh nữ móc ra nhiều quả và có nhiều hạt. Số lượng hạt tồn tại trong
đất rất nhiều, hạt có thể tồn tại trong đất đến 50 năm. Vì thế mà cây Trinh nữ móc
có thể tồn tại từ vụ này sang vụ khác, từ năm này sang năm khác, từ vùng sinh thái
này sang vùng sinh thái khác.
Trong điều kiện thuận lợi, cây Trinh nữ móc có thể sinh trưởng rất nhanh và
tốc độ xâm nhiễm có thể gấp đôi diện tích sau một năm. Cây cũng có thể chịu được
điều kiện khô hạn.
Nhu cầu dinh dưỡng của cây Trinh nữ móc thấp, nó có thể mọc ở nhiều
vùng đất, do đó có phổ sinh thái rộng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


Sau khi cây bị chặt, cây có thể nhanh chóng mọc tái sinh từ phần gốc sát mặt
đất. Khi bị đốt, toàn bộ lá cây có thể bị cháy, chết nhưng các hạt dưới đất lại được
kích thích phá ngủ và mọc nhiều hơn.
Sự giống nhau về khí hậu và đất đai ở nước bản địa và các nước khác là yếu
tố cơ bản giúp cho cây Trinh nữ móc phát tán, lây lan và xâm nhiễm nhanh hơn.
1.2.3. Kinh nghiệm kiểm soát và diệt trừ loài Trinh nữ móc trên thế giới
Cho đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các biện
pháp kiểm soát và diệt trừ cây Trinh nữ móc và đã có một số thành công nhất định.
Nhưng có thể khẳng định rằng, nếu chỉ áp dụng biện pháp đơn lẻ thì không mang lại
hiệu quả cao và triệt để trong việc phòng trừ cây Trinh nữ móc. Từ đó, nhiều biện
pháp khác nhau đã được khuyến cáo ứng dụng như biện pháp thủ công, cơ giới như

nhiều nhân công lao động. Do đó, khi cây Trinh nữ móc xâm nhiễm trên một diện
tích rộng lớn thì việc bố trí nhân công nhổ bỏ, cắt là khó thực hiện.
Biện pháp sử dụng thuốc hóa học: cho đến nay biện pháp hóa học được coi
là biện pháp có hiệu quả phòng trừ cao và triệt để nhất. Do đó nó được ứng dụng
rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới để phòng trừ cây Trinh nữ móc. Cùng với sự
phát triển của nền công nghiệp hóa chất, người ta đã tìm ra nhiều loại thuốc có hiệu
quả cao và có thể ứng dụng bằng nhiều hình thức khác nhau. Một số thuốc trừ cỏ có
hoạt chất như Atrazine, Diuron, Paraquat, Glyphosate…được áp dụng đơn lẻ hoặc
hỗn hợp đã có hiệu quả phòng trừ cây Trinh nữ móc cao.
Ở Nigeria, báo cáo của Alabi et al. (2001) cho rằng phun hỗn hợp thuốc
Atrazine + Acetochlor, Bentazon + Atrazine có hiệu quả diệt trừ cây Trinh nữ móc
cao [9]. Liều lượng hóa chất cần thiết có thể giảm khi áp dụng vào giai đoạn cây
mới mọc tái sịnh sau cắt và đốt. Sử dụng biện pháp hóa học trước khi cây ra hoa,
đậu quả sẽ mang lại hiệu quả phòng trừ tốt nhất. Tuy nhiên, biện pháp này phải
được áp dụng phun định kỳ do hiệu lực của thuốc hóa học thường không kéo dài,
trong khi đó cây Trinh nữ móc móc thì mọc tái sinh liên tục.
Phòng trừ cây Trinh nữ móc bằng biện pháp hóa học cho hiệu quả cao trong
hệ thống canh tác quy mô lớn vì nó tốn ít công lao động. Tuy nhiên, các hóa chất
này chỉ tồn tại trong một vài tháng và đôi khi lại quá đắt đối với hệ canh tác có quy
mô nhỏ, ảnh hưởng đến môi trường, các loài sinh vật không chủ đích. Đặc biệt, khi
áp dụng cho khu vực gần nguồn nước có thể ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước,
các sinh vật sống trong nước…ảnh hướng đến con người.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


Biện pháp sinh học: sử dụng thiên địch tự nhiên của cây Trinh nữ móc từ nơi
bản địa của chúng là một giải pháp được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế
(IUCN) đang khuyến khích và coi là giải pháp phòng trừ tiềm năng.


gây ra bệnh đốm thân, dị dạng, gây chết mầm cây trong điều kiện ẩm nóng, làm
giảm khả năng ra hoa, kết hạt của cây Trinh nữ móc (Apfisn, 2007; Anon, 2001b)
[26, 28].
Biện pháp phòng trừ sinh học đang được coi là một hướng đi quan trọng vì
nó khắc phục được nhược điểm của các biện pháp thủ công và hóa học, đảm bảo
được tính bền vững và cân bằng sinh thái cao. Tuy nhiên, việc ứng dụng biện pháp
này một cách rộng rãi thì còn nhiều khó khăn sau:
- Phần lớn các tác nhân sinh học thường có hiệu quả không cao và chỉ có tác
dụng hạn chế phần non của cây và các cây con, không có khả năng tiêu diệt triệt để.
Đối với các loài sâu ăn ngọn đôi khi còn kích thích cho cây mọc nhánh mới và phát
triển mạnh hơn. Phạm vi phát tán cũng không rộng, trong khi đó các vùng lân cận
thường xuyên có nguồn hạt từ các vùng khác đến.
- Các tác nhân sinh học có thể bị suy giảm quần thể hoặc bị tiêu diệt trong
những điều kiện bất thuận như hạn hán kéo dài. Vì vậy, việc bảo vệ và nhân thả
quần thể của chúng cũng có nhiều khó khăn.
- Chi phí cho biện pháp sinh học rất cao, công việc nhập nội và nhân nuôi
thiên địch phải mất nhiều thời gian, công sức và chi phí. Để hình thành và duy trì
được khu vực phòng trừ với diện tích trên 100ha thì phải cần một phòng thí nghiệm
đầy đủ các điều kiện duy trì các hoạt động thường xuyên để kiểm tra, nhân nuôi bổ sung.
Như vậy, các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài đều cho thấy không một biện
pháp phòng trừ nào có thể mang lại hiệu quả cao và triệt để đối với cây Trinh nữ
móc khi cây đã xâm nhiễm ở mức độ cao. Vì vậy, hướng nghiên cứu và ứng dụng
các biện pháp ngăn chặn sự xâm nhiễm ban đầu và phòng trừ sớm cây Trinh nữ móc
đang được các quốc gia đặc biệt quan tâm và coi đây là một biện pháp rẻ tiền và
hiệu quả nhất.
Các biện pháp phòng trừ cần phải thiết kế trong sự cân nhắc đến hệ sinh thái.
Ví dụ, sử dụng biện pháp thủ công hoặc biện pháp cơ giới rõ ràng là an toàn hơn
biện pháp hóa học để giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường trong hệ sinh thái rừng
tự nhiên (Apfisn, 2007) [26]. Trong các hệ sinh thái khác, để đạt hiệu quả lâu dài,

tốt ở cạnh đường đi, các khoảng đất trống, xâm lấn chủ yếu các vùng đất nông
nghiệp hoang hóa, rừng tái sinh và rừng trồng mới, rừng sau thu hoạch khi tán cây
rừng chưa khép kín và ở những nơi ẩm ướt. Những nơi bị loài cây này xâm lấn
thường tạo nên khu vực thuần loại. Cây Trinh nữ móc bò nhanh lên các loài thực vật
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status