câu hỏi ôn tập Khoa học quản lý chương trình cao cấp lý luận chính trị - Pdf 35

HD ôn thi môn: Khoa học quản lý- CT CCLLCTHC
/

Câu 01: Phân tích các mục tiêu, động lực trong quản lý. Liên hệ vấn đề
tiền lương và thu nhập và nêu giải pháp ?
BÀI LÀM
Trong hoạt động quản lý thì mục tiêu và động lực là hai vấn đề quan trọng
nhất, quyết định sự vận động và phát triển của hệ thống quản lý. Nắm vững khái
niệm, bản chất, vai trò của mục tiêu, động lực và mối quan hệ của chúng, nhà quản lý
sẽ biết cách tác động hiệu quả nhằm thúc đẩy hệ thống nhanh chóng đạt được những
mục tiêu đã được xác định.
Mục tiêu của quản lý là trạng thái tương lai mà chủ thể mong muốn đạt được
trong quá trình vận động của hệ thống tại thời gian và không gian xác định. Nó là tiêu
đích mà mọi hoạt động của hệ thống hướng tới, nó định hướng và chi phối sự vận
động của toàn bộ hệ thống quản lý. Mục tiêu quản lý phải được xác định trước để chi
phối, dẫn dắt cả chủ thể và đối tượng quản lý trong toàn bộ quá trình hoạt động.
Việc xác định mục tiêu trong quản lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự
tồn tại và phát triển của toàn bộ hệ thống quản lý bởi vì nếu xác định mục tiêu sai,
mọi hoạt động của hệ thống sẽ trở thành vô nghĩa, thậm chí gây ra những hậu quả
nghiêm trọng. Vai trò của mục tiêu trong quản lý thể hiện hai mặt : tĩnh và động. Về
mặt tĩnh, khi xác định cụ thể các mục tiêu mà tổ chức theo đuổi thì nhà quản lý đặt
chúng làm nền tảng của kế hoạch nhằm xây dựng hệ thống quản lý. Về mặt động, các
mục tiêu quản lý không phải là những điểm mốc cố định mà là linh hoạt phát triển
hướng đến mục đích lâu dài của tổ chức với những kết quả mong đợi ngày càng cao
hơn trên cơ sở xem xét các nguồn lực hiện có hoặc sẽ có của tổ chức. Mục tiêu của
quản lý phải đảm bảo tính liên tục và kế thừa của hệ thống; nội dung phải rõ ràng, cụ
thể bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ yếu; phải tiên tiến, thể hiện sự phấn đấu của
các thành viên, sự phát triển của hệ thống đồng thời nó cũng phải xác định rõ về mặt
thời gian
1


thực thể phức tạp, động cơ của mỗi cá nhân là khá phức tạp và thường mâu thuẫn
nhau.
Ngày nay, các lý thuyết về động lực cũng đều coi lợi ích kinh tế là một động
lực cơ bản thúc đẩy con người hoạt động bởi vì lợi ích kinh tế chính là nguồn thỏa
3


mãn các nhu cầu cơ bản và là điều kiện góp phần đáp ứng các nhu cầu tinh thần của
con người. Vì con người là tổng hợp các mối quan hệ xã hội nên lợi ích kinh tế con
người không chỉ là lợi ích cá nhân mà còn là lợi ích tập thể và toàn xã hội. Do vậy,
phải coi lợi ích kinh tế không chỉ là động lực mà trước hết nó còn là mục tiêu và mục
tiêu cao nhất của công cuộc xây dựng đất nước là phát triển sản xuất và nâng cao đời
sống nhân dân. Trong hoạt động quản lý, lợi ích kinh tế phải được đặt ra ngay từ khi
xác định mục tiêu của chiến lược, kế hoạch, chính sách và trong toàn bộ quá trình xác
định biện pháp, tổ chức thực hiện. Đây là tiêu chuẩn để định hướng, chọn lựa, đánh
giá, phân biệt đúng – sai, lợi – hại, hiệu quả hay không hiệu quả trong khi xem xét,
đánh giá các phương án, kế hoạch, chính sách, đánh giá tình hình và kết quả hoạt
động quản lý
Tuy nhiên, nếu chỉ có lợi ích kinh tế (với tư cách vừa là động lực, vừa là mục
tiêu) không thì chưa đủ vì con người ngoài nhu cầu cấp thấp (như nhu cầu sinh lý, an
ninh, an tòan) thì còn có nhu cầu cấp cao (bao gồm nhu cầu xã hội được tôn trọng và
tự thể hiện), thỏa mãn những nhu cầu này chính là từ động lực hành chính tổ chức và
động lực tinh thần. Vì vậy, nhà quản lý phải hiểu đối tượng quản lý đang ở cấp độ
nhu cầu nào để đưa ra các giải pháp phù hợp thỏa mãn nhu cầu và tạo động lực cho
đối tượng nhằm đạt đến mục tiêu của hệ thống. Nếu chỉ quá chú trọng đến xem lợi
ích kinh tế là mục tiêu, động lực cao nhất thì có thể sẽ dẫn đến sự lệch lạc về mục tiêu
và động lực : quá quan tâm đến lợi ích vật chất và thu nhập, từ đó có thể làm phát
sinh những hành vi trái pháp luật hoặc tạo ra hiện tượng con người chỉ làm việc vì
tiền, quên đi mục tiêu khác tốt đẹp của con người, vì đồng tiền mà chà đạp lên đạo lý,
tình cảm. Quản lý trong chế độ XHCN thì từ trong bản chất của mình đã luôn luôn là

nhất là chưa đảm bảo cho cuộc sống của những người sống bằng lương. Chính vì điều
này là một trong những nguyên nhân chính của nạn sách nhiễu, ăn tiền, tham
nhũng ... để tăng thu nhập bù lương. Nếu tình trạng này kéo dài, không những nó huỷ
hoại sức sản xuất, sáng tạo mà sẽ có khi nó trở thành phổ biến, thành "nếp sống" của
một bộ phận công chức, viên chức, gây cản trở cho quá trình đạt được mục tiêu xây
dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Trước nhất, cần phải có quan niệm đúng về tiền lương và thu nhập : chi lương
là chi cho đầu tư phát triển. "Việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện
đầu tư, tạo động lực để kinh tế phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp
phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, công chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của
5


bộ máy nhà nước". Như vậy, chi tiền lương hợp lý không những tạo động lực cho
phát triển do kích thích người lao động toàn tâm, toàn ý vào công tác, vào sản xuất
mà nó còn phản ánh bản chất của chế độ kinh tế - xã hội và bản sắc văn hóa của dân
tộc, phản ánh các giá trị của xã hội, phản ánh trình độ phát triển kinh tế của đất nước.
Một điều nhận thấy rõ rằng với đồng lương nhà nước thấp như hiện nay thì hệ thống
quản lý nhà nước khó thu hút được những nhân tài ở các lĩnh vực so với hệ thống
doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Hơn nữa sự chênh lệch về thu nhập giữa
các ngành nghề là quá cao, lương của một giáo sư, một chuyên viên chính, một kỹ sư
trưởng ở cấp tỉnh cao nhất cũng chỉ khoảng 2-3 triệu/ tháng, kém xa so với thu nhập
một người làm bảo hiểm hoặc ca sĩ, cầu thủ bóng đá, thậm chí là còn kém hơn so với
lương của người phục vụ khách sạn. Bên cạnh đó, hệ thống thang bậc lương quá
nhiều làm phức tạp trong quá trình thực hiện, chế độ và chính sách thực hiện lương
chưa khuyến khích người lao động nỗ lực phấn đấu do tình trạng “sống lâu lên lão
làng”, cứ đến đúng thời hạn thì lại được xếp lên lương, những công chức, viên chức
dù có cống hiến nhiều, hiệu quả cao đến mấy thì cũng khó xét đặc cách lên lương.
Điều này, về lâu dài nếu không điều chỉnh sẽ làm triệt tiêu động lực lao động.
Tuy nhiên, với nguồn ngân sách giới hạn như ở nước ta hiện nay thì không thể

đồng bộ, cần được tiến hành một cách linh hoạt, thích hợp và nhất quán theo hướng
thị trường. Như vậy để có được một chính sách tiền lương hữu hiệu để người lao
động sống được bằng lương, trước mắt phải tiến hành cải cách hành chính, tinh giản
biên chế và bộ máy quản lý các cấp, các ngành; thúc đẩy sản xuất phát triển trên mọi
thành phần kinh tế chứ không chỉ dựa vào khu vực quốc doanh; tăng cường và quản
lý chặt chẽ các nguồn thu, chống thất thu thuế, đồng thời quản lý chặt chẽ các khoản
chi, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, điều chỉnh thu nhập từ những
người có thu nhập cao ...
Tóm lại, xác định mục tiêu đúng đắn, sử dụng hợp lý các phương pháp để
khơi nguồn động lực và giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêu và động lực trên cơ
sở vì con người, do con người : chính là những yếu tố giúp chủ thể và đối tượng
quản lý đạt được hiệu quả cao và sớm đạt được những mục tiêu đã xác định. Điều đó
cũng góp phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng
Câu 2: Phân tích chứng minh sự cần thiết khách quan vận dụng nguyên
tắc tập trung dân chủ. Liên hệ việc vận dụng nguyên tắc trên ?
7


BÀI LÀM
Trong công tác quản lý, việc nhận thức, nắm vững và vận dụng đúng các
nguyên tắc của quản lý là một trong những điều kiện đảm bảo sự thành công. Các
nguyên tắc quản lý là các quy tắc chuẩn mực, chỉ đạo những người quản lý phải tuân
thủ trong quá trình quản lý, những nguyên tắc ấy do con người định ra, vừa phản ánh
các quy luật khách quan nhưng cũng mang dấu ấn chủ quan của con người. Trong
thực tiễn quản lý, các nguyên tắc quản lý có tính chất và thứ bậc khác nhau, do nhiều
tổ chức, nhiều cấp đề ra, tuy nhiên trong đó có những nguyên tắc mang tính chất cơ
bản, nó định hướng cho sự hoạt động của người quản lý và sự vi phạm các nguyên tắc
này sẽ gây cho hệ thống một sự tổn thất nặng nề. Một trong những nguyên tắc cơ bản
của quản lý là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức phản ánh mối quan hệ giữa

thực hiện các chế độ, các hình thức đảm bảo quyền tham gia quản lý của chủ thể
người lao động. Dân chủ còn thể hiện thông việc thực hiện sự bình đẳng của các
thành phần kinh tế trước pháp luật, thông qua việc xác định rõ vị trí, trách nhiệm,
quyền hạn, của các cấp, các ngành, thực hiện các chế độ phân công, phân cấp trong
quản lý và thông qua quá trình thực hiện quy chế quyền dân chủ, quy chế dân chủ ...
Trong quan hệ tập trung dân chủ thì tập trung bao giờ cũng giữ vai trò chủ
đạo, nó định hướng cho các biện pháp dân chủ nhằm để đảm bảo sự tồn tại và tạo ra
khả năng phát triển của hệ thống. Mất đi sự tập trung là mất đi sự thống nhất trong
hoạt động của hệ thống dẫn tới tình trạng tổ chức sẽ bị biến dạng, đi chệnh mục đích,
mục tiêu. Ngoài ra, tập trung còn là cơ sở định hướng để giải quyết các nội dung,
biện pháp thực hiện dân chủ, còn dân chủ thì có vai trò tạo cơ sở về xã hội, kinh tế,
chính trị để thực hiện tốt tập trung trong quản lý. Chính nhờ dân chủ, các nhà quản lý
mới tạo ra được sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động nhằm đảm bảo tốt cho
yêu cầu tập trung trong quản lý. Ngược lại dân chủ cũng có vai trò tạo cơ sở cho xã
hội, kinh tế chính trị để thực hiện tốt tập trung trong quản lý, thông qua các giải pháp
dân chủ mà các nhà quản lý thực hiện được sự thống nhất trong quản lý một cách tốt
nhất. Như vậy, các biện pháp dân chủ nhằm bảo đảm cho sự lãnh đạo tập trung, càng
mở rộng dân chủ thì yêu cầu tập trung thống nhất càng cao, khắc phục tình trạng dân
chủ quá mức đưa đến tự do vô chính phủ cũng như tập trung quá mức dẫn đến
chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải
được thực hiện trong khuôn khổ tập trung. Nhấn mạnh tập trung dẫn đến tập trung
9


quan liêu, cứng nhắc, độc đoán; trái lại, mở rộng dân chủ mà không tập trung thì có
thể đi tới phân tán, dân chủ vô tổ chức, vô kỷ luật. Trong bản chất của nó, dân chủ
không đối lập với tập trung. Nó chỉ đối lập với quan liêu, chuyên chế, độc tài. Tập
trung càng không đối lập với dân chủ. Nó chỉ đối lập với phân tán, cục bộ, bè phái, tự
do vô chính phủ mà thôi. Tập trung đúng đắn, hợp lý sẽ làm tăng sức mạnh của dân
chủ. Dân chủ lành mạnh phải dựa trên cơ sở tập trung, không tách rời tập trung. Tách

đang xã hội hóa cao độ lực lượng sản xuất và các giá trị tinh thần, sự phát triển của
lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa ngày càng cao này đòi hỏi phải huy
động rộng rãi các nguồn tiềm năng và nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân, nên vừa
phải có tập trung để tránh mọi thất thoát, lãng phí, vừa phải có tính dân chủ để huy
động được mức tối đa. Dân chủ đã được thực tế thừa nhận như điều kiện không thể
thiếu cho tăng trưởng kinh tế nói riêng và phát triển nói chung
Mặt khác, để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của hệ thống quản lý thì
nguyên tắc tập trung dân chủ là hết sức cần thiết. Ngày nay, trong hoạt động kinh tế
xã hội cũng như hoạt động quản lý nhà nước luôn có sự phân công lao động cao từ đó
nảy sinh ra yêu cầu phải tổ chức hợp tác trong lao động. Trong sự hợp tác lao động
đó, mọi cá nhân, mỗi tổ chức, đơn vị nếu được tự chủ trong sản xuất kinh doanh thì
mới có thể phát huy tối đa tiềm năng vốn có, tính năng động sáng tạo trong thực hiện.
Mặt khác, với sự bùng nổ của khoa học công nghệ thông tin, việc mở cửa hội nhập,
toàn cầu hóa đang làm nền kinh tế xã hội ở các nước biến đổi nhanh chóng, tạo
những cơ hội và thách thức lớn, việc thực hiện dân chủ dưới hình thức phân quyền tự
chủ, tự quyết trong hoạt động kinh tế cũng như trong một số phạm vi quản lý nhà
nước còn nhằm gắn trách nhiệm và quyền hạn cho các cấp, các ngành để có thể nắm
bắt, ứng phó kịp thời trước những cơ hội hoặc rủi ro xảy ra trong thực tế, đồng thời
giảm bớt áp lực công việc của cấp trên và tạo cơ hội cho cấp dưới thể hiện tính tự lập
và rèn luyện, nâng cao năng lực quản lý. Đối với việc quản lý nhà nước, thực hiện
quy chế dân chủ với phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" còn tạo
điều kiện để nhân dân ngày càng tham gia sâu sắc vào công việc của Nhà nước, đồng
thời nhờ thực hiện nguyên tắc dân chủ tại cơ sở nên mới có thể phát hiện những sai
sót, những vi phạm trong hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh mà những sai sót
này đôi khi chỉ mới là dấu hiệu, mầm mống để kịp thời uốn nắn, sửa chữa. Ngoài ra,
trong hoạt động quản lý, để có những quyết định quản lý đúng đắn, khả thi và hiệu
quả, người quản lý không thể có đầy đủ những kiến thức và kinh nghiệm để tự mình
11



12


thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, tạo dựng bầu không khí dân chủ,
cởi mở và tăng cường sự đồng thuận trong xã hội
Tại đơn vị nơi bản thân đang công tác, nhờ sự niêm yết, công khai hàng năm
những việc cán bộ - công chức phải được biết và thực hiện tốt quy định những việc
cán bộ - công chức tham gia ý kiến, hoạt động của đơn vị đã có những chuyển biến
tích cực như : việc giải quyết nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo và công khai thông
báo trong hội nghị cán bộ, công chức kết luận giải quyết đã có tác dụng ngăn ngừa
và làm giảm những sai phạm của cán bộ công chức trong đơn vị một cách rõ rệt, đơn
vị nhiều năm liền không xảy ra các vụ việc tiêu cực, tham nhũng. Việc quy định niêm
yết công khai các trình tự thủ tục và quy định trách nhiệm rõ ràng của bộ phận tiếp
dân, của những người đứng đầu các bộ phận đã buộc người quản lý, nhân viên thừa
hành và cả những người thực hiện thủ tục đều có thể tự kiểm tra lẫn nhau, hạn chế sự
nhũng nhiểu, hạch sách và nhờ đó hiệu quả giải quyết công việc đã tăng lên, rút ngắn
được thời hạn giải quyết và đáp ứng phần nào nhu cầu của tổ chức, công dân. Kế
hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đề bạt cán bộ, công chức
cũng được thực hiện đúng quy định, việc thông báo và xin ý kiến đóng góp về kế
hoạch công tác, kế hoạch phát triển ngành được thảo luận, xin ý kiến đóng góp công
khai ... đã tạo nên sự ổn định và đồng thuận của đơn vị trong quá trình thực hiện.
Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ có khi vẫn còn mang
tính hình thức và những hạn chế trong quá trình thực hiện nguyên tắc này không chỉ
riêng ở địa phương mà còn là tình hình chung của cả nước.
Trước hết, ta biết rằng việc hình thành và thông qua các quyết định, chủ
trương, chính sách, phương hướng, nghị quyết của nhà nước, của tỉnh - huyện, của
đơn vị .. về nguyên tắc phải thu hút được sự đóng góp trí tuệ rộng rãi của cán bộ,
đảng viên; phải được thảo luận thẳng thắn, triệt để. Song, trên thực tế có tình hình:
không ít cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân không thật sự tích cực tham gia ý
kiến vào việc xây dựng các văn bản trên, đồng thời cũng không phải mọi ý kiến của

quá khuôn khổ luật pháp, coi thường kỷ cương phép nước. Đặc biệt trong vấn đề
thực hiện giải phóng mặt bằng, một số người dân đã được đền bù đúng quy định
nhưng vẫn cố tình không bàn giao mặt bằng và kích động nhiều người khác tham gia
đòi tăng tiền đền bù. Một số người dân đã được giải quyết khiếu nại tố cáo đúng pháp

14


luật, chính sách nhưng vẫn không chịu thực hiện quyết định và đến cơ quan nhà nước
nhiều lần gây rối mất trật tự, thậm chí thách thức cả công an, cả chính quyền.
Tóm lại, qua những kiến thức đã học về nguyên tắc tập trung dân chủ và liên
hệ một số việc ở địa phương cho thấy rằng nguyên tắc tập trung dân chủ là rất cần
thiết trong hoạt động quản lý , nhưng việc nhận thức và vận dụng đúng nó đòi hỏi
phải xử lý thận trọng, tinh tường từng vấn đề, từng trường hợp cụ thể. Buông lỏng sự
lãnh đạo tập trung vừa mở đường cho sự tự do vô kỷ luật, vừa đẩy dân chủ đến chỗ
mất phương hướng và vô giá trị. Thu hẹp dân chủ không những làm triệt tiêu sức
mạnh tập thể, mà còn khiến cho sự lãnh đạo tập trung phạm phải sai lầm. Người quản
lý phải nhận thức sâu sắc điều đó để có phương thức quản lý phù hợp và hiệu quả.
Trong thực tể lãnh đạo đơn vị, muốn điều hành tốt và hiệu quả thì phải lắng nghe,
phát huy dân chủ trong thảo luận, chọn lựa phương án thực hiện nhưng sau cùng
người quản lý phải biết chọn lựa ý kiến tập trung nhất, hợp lý nhất để quyết định
cuối cùng và chịu trách nhiệm với quyết định của mình.
Câu 3: Phân tích mối liên hệ giữa các phương pháp trong quản lý. Liên hệ
vận dụng phương pháp kinh tế tại địa phương và đơn vị công tác ?
BÀI LÀM
Trong hoạt động của một cá nhân hay một tập thể đều phải hướng đến một mục
tiêu đã được đề ra và để điều hành hệ thống đạt được mục tiêu đó, chủ thể quản lý
phải tác động vào đối tượng quản lý bằng những phương pháp quản lý để cho bộ máy
dưới sự quản lý của mình đạt được kết quả tốt nhất. Việc nhận thức và sử dụng các
phương pháp quản lý hiệu quả sẽ mang đến những thành công lớn cho nhà quản lý

phương pháp khác nhau. Dựa trên phương thức tác động, có thể phân ra thành 3
phương pháp quản lý : phương pháp tổ chức hành chính, phương pháp tâm lý giáo
dục và phương pháp kinh tế, mỗi phương pháp quản lý đặc trưng cho một thủ pháp
tạo động cơ và động lực thúc đẩy đối tượng quản lý
Phương pháp tổ chức - hành chính là phương pháp dựa vào quyền uy tổ
chức của chủ thể quản lý để bắt buộc đối tượng quản lý phải chấp hành mệnh lệnh
quản lý một chiều từ trên xuống Phương pháp này mang tính bắt buộc, cưỡng chế
đơn phương mà cơ sở tác động là quyền lực của chủ thể quản lý ở trong hệ thống
quản lý, quyền lực này được xác lập theo pháp luật, quy chế, cơ chế…. Hiệu lực, hiệu
quả quản lý phụ thuộc nhiều vào việc thực hiện đúng hay không đúng quyền lực của
16


mình. Ưu thế của phương pháp này so với các phương pháp khác là thể hiện tính kỷ
cương trong tổ chức thực hiện công việc nhờ đó đem lại hiệu quả nhanh chóng, thống
nhất, triệt để, vì vậy phương pháp này thường phù hợp với các tình huống quản lý cấp
bách, khẩn trương và là phương pháp không thể thiếu được trong tất cả các cơ quan,
các tổ chức. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là dễ dẫn đến tình trạng
quan liêu, độc đoán …. do đó để giảm bớt mức độ quan liêu hóa, nhà quản lý khi xác
lập cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý phải tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, có
quan tâm đến điều kiện cụ thể của các thành viên trong tổ chức.
Phương pháp tâm lý - giáo dục : là phương pháp sự tác động tới đối tượng
quản lý thông qua các quan hệ tâm lý, tư tưởng, tình cảm. Phương pháp này dựa vào
uy tín của người quản lý để lôi cuốn mọi người trong tổ chức hăng hái, tích cực tham
gia công việc, uy tín được được xác lập dựa trên nhân cách người lãnh đạo quản lý .
Công cụ tác động của phương pháp này là vận dụng các quy luật, nguyên tắc tâm lý
và giáo dục, nhờ đó người quản lý nắm được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, mong
muốn, tình cảm, đạo đức, lý tưởng của mỗi người và có biện pháp tạo lập trong mỗi
người niềm say mê, phấn khởi, ý thức trách nhiệm, tinh thần sáng tạo đối với công
việc. Trong phương pháp này, đối tượng quản lý là con người được xem như một

sức coi trọng việc vận dụng phương pháp kinh tế. So với các phương pháp quản lý
khác, phương pháp kinh tế có ưu điểm là đặt mỗi người vào điều kiện tự mình được
quyết định làm việc như thế nào có lợi nhất cho mình và cho tổ chức. Lao động, làm
việc càng hiệu quả thì lợi ích vật chất nhận về càng nhiều. Phương pháp kinh tế có
thể giúp cho người ta thoát khỏi cơ chế, giấy tờ, thủ tục của chủ nghĩa quan liêu và
những rắc rối trong thể chế tình cảm xã hội. Tuy vậy phương pháp kinh tế cũng có
những hạn chế vốn có của nó. Nếu lạm dụng phương pháp kinh tế dễ dẫn người ta
đến chỗ chỉ nghĩ đến lợi ích vật chất, thậm chí chỉ lệ thuộc vào vật chất, tiền của mà
quên những giá trị đạo đức, tinh thần, đạo lý, có dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật.
Động lực từ lợi ích cá nhân của mỗi người nếu không được định hướng và kiểm soát
nó sẽ dẫn người ta đến chỗ làm ăn phi pháp.
Từ những phân tích trên chúng ta thấy rằng trong hoạt động điều hành
quản lý, 3 phương pháp quản lý trên luôn có mối liên hệ với nhau. Sự liên hệ ấy bắt
nguồn từ đối tượng tác động của phương pháp quản lý chính là con người. Mỗi
phương pháp quản lý tác động đến con người theo một hướng nhất định, hiệu quả tạo
động cơ, động lực thúc đẩy con người với các mức độ khác nhau. Tuy nhiên phương
18


pháp quản lý này chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu sử dụng cùng với phương pháp
khác, bởi vì mỗi phương pháp quản lý suy cho cùng chỉ là tác động đến một vài trong
rất nhiều những nhu cầu của con người, mà con người thì chỉ có thể làm việc tốt nhất
trong điều kiện có khuôn khổ tổ chức chặt chẽ, rõ ràng; có lợi ích thoả đáng; có sự
hiểu biết và niềm say mê với công việc. Phương pháp kinh tế kích thích con người vì
thỏa mãn nhu cầu vật chất nhưng nếu như công việc nhàm chán, không tạo niềm say
mê, không có những thách thức, hứng thú hoặc không nhận được sự quan tâm, công
nhận, tôn trọng của người quản lý, của xã hội thì lúc đó những lợi ích kinh tế không
đủ để lôi cuốn người ta làm việc. Ngược lại nếu người quản lý có phẩm chất tuyệt
vời, quan tâm đến gần gủi đến người lao động, có phong cách và phương thức quản
lý tốt nhưng nếu chỉ áp dụng biện pháp, cơ chế trả lương cho người lao động theo

yếu tố tâm lý đó để sử dụng những phương pháp thích hợp nhằm phát huy ưu điểm,
hạn chế nhược điểm, kích thích đúng động cơ, đáp ứng đúng nhu cầu để họ có thể
làm việc có chất lượng và hiệu quả cao.
Ngoài ra, lựa chọn các phương pháp quản lý phải phù hợp, có tác động thiết
thực trong việc điều chỉnh đối tượng quản lý. Các phương pháp quản lý khi xác lập
và vận dụng phải có căn cứ khoa học và thực tiễn, bảo đảm cho đối tượng quản lý có
thể thực hiện được một các tự giác và tích cực.
Trước đây trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chúng ta đã cường điệu
hóa, tuyệt đối hóa phương pháp quản lý tổ chức hành chính và phương pháp quản lý
tâm lý giáo dục, coi nhẹ phương pháp quản lý kinh tế vì cho đó là nặng về lợi ích cá
nhân, điều này làm cho tình trạng quản lý ở mọi tổ chức đều mang tính chất quan liêu
hình thức, hạn chế rất nhiều tính chủ động sáng tạo của mỗi người. Chuyển sang nền
kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế xã hội được nhận thức và vận dụng một cách
đầy đủ hơn, trong đó lợi ích kinh tế được coi trọng. Do đó phương pháp kinh tế trở
thành phương pháp tác động chính đến đối tượng quản lý, lợi ích thiết thân của mỗi
người được coi là điểm xuất phát để xác lập hệ thống lợi ích tập thể và lợi ích xã hội.
Thực chất của việc xác lập và vận hành các phương pháp quản lý ở nước ta hiện nay
là quá trình thực hiện dân chủ hoá toàn bộ quá trình quản lý các tổ chức kinh tế - xã
hội theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Do vậy trong quản lý cũng không thể coi nhẹ
phương pháp tổ chức - hành chính và phương pháp tâm lý - giáo dục. Thực tế cũng
đòi hỏi đội ngũ những người quản lý phải nâng cao trình độ sử dụng tổng hợp các
phương pháp quản lý, phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ và
20


phẩm chất, trao dồi và nâng cao trình độ quản lý của mình cho phù hợp với yêu cầu
của công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Bản thân công tác nhiều năm trong đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc lĩnh vực
tài nguyên và môi trường, trong môi trường làm việc đó thì cả 3 phương pháp tổ
chức - hành chính, tâm lý - giáo dục và kinh tế đều cần thiết.

đương nhiên sẽ áp dụng các biện pháp hành chính hoặc giáo dục để ngăn ngừa những
vi phạm, nâng cao đạo đức nghề nghiệp nhưng về lâu dài khi phương pháp quản lý
kinh tế kích thích lợi ích vật chất không được áp dụng thì hiệu quả chất lượng công
tác thấp, tỉ lệ những người tài bỏ ngành càng cao, đầu vào của ngành không đạt yêu
cầu thì không thể nói đầu ra tốt được.
Ngày nay, với sự điều chỉnh của Luật Đất đai, trong đó có việc tách bạch rõ
ràng giữa dịch vụ hành chính công và công tác quản lý thì việc vận dụng phương
pháp kinh tế sẽ có thể áp dụng tốt hơn. Ở các đơn vi sự nghiệp thực hiện dịch vụ hành
chính công, người quản lý có thể sử dụng phương pháp kinh tế để kích thích công
nhân viên bằng hình thức khoán việc, trả lương theo năng suất lao động. Ở bộ phận
quản lý nhà nước, sự giảm bớt áp lực công việc cùng với sự tăng lương theo quy định
mới cũng khuyến khích sự hăng hái hơn trong công việc.
Tuy nhiên, về lâu dài, để có một bộ máy nhà nước thật sự hiệu quả, trong sạch
và vững mạnh, một đội ngũ công chức yêu nghề, tận tụy, sáng tạo thì cần phải tiếp
tục thực hiện công cuộc cải tổ tiền lương và xây dựng một cơ chế, chính sách khuyến
khích tăng thu nhập hợp lý và áp dụng đồng bộ các đòn bẩy kinh tế để kích thích sự
đầu tư chất xám của cán bộ công chức và thu hút nhân tài.
Câu 4: Trình bày các mô hình cơ cấu tổ chức quản lý. Liên hệ phân tích
mô hình cơ cấu tổ chức của quản lý ?
BÀI LÀM
I. Cơ sở khoa học hình thành cơ cấu tổ chức quản lý:
1. Khái niệm và tiền đề khách quan:
Cơ cấu tổ chức quản lý là 1 chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng, quyền
hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí thành
từng cấp, từng khâu, thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã xác định.
Một cơ cấu tổ chức quản lý bao giờ cũng gồm nhiều bộ phận hợp thành, có
mục tiêu riêng, đồng thời đều nhằm vào mục tiêu chung, mục tiêu cuối cùng của hệ
22



23


lảnh đạo cao nhất đến người thấp nhất; người thừa hành chỉ nhận mệnh lệnh từ 1
người phụ trách trực tiếp. (sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý trực tuyến, trang 90)
Ưu điểm của mô hình này là đề cao vai trò người lãnh đạo quản lý; tạo điều
kiện thuận lợi cho việc thực hiện chế độ 1 thủ trưởng. Tạo ra sự thống tập trung cao
độ, chế độ trách nhiệm rõ ràng. Thông tin trực tiếp, nhanh chóng và chính xác.
Nhược điểm: Người lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện để chỉ đạo tất cả các
bộ phận quản lý chuyên môn; hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình độ nghiệp
vụ cao về từng mặt quản lý; khi cần hợp tác, phối hợp công việc giữa 2 đơn vị, hoặc 2
cá nhân ngang quyền thuộc các tuyến khác nhau thì phải đi theo đường vòng qua các
kênh đã định. Vì thế cơ cấu này thường chỉ áp dụng ở các đơn vị có quy mô nhỏ,
không phù hợp cho quy mô lớn.
2.Cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng:
Ra đời vào đầu TK 20, khi XH chuyển từ nền SX nhỏ sang nền SX lớn. Cha đẻ
của mô hình này là Taylor.
Cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng là loại hình cơ cấu tổ chức, trong đó
từng chức năng quản lý được tách riêng do 1 cơ quan hay 1 bộ phận đảm nhiệm,
những nhân viên chức năng phải là người am hiểu chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ
trong phạm vi quản lý của mình.
Đặc điểm của cơ cấu quản lý theo chức năng là các bộ phận quản lý cấp dưới,
người thực hiện quyết định nhận mệnh lệnh từ bộ phận chức năng giúp việc cho lãnh
đạo. (sơ đồ SGK trang 91)
Ưu điểm của mô hình này là người lãnh đạo được sự giúp sức của các chuyên
gia giỏi chuyên môn giải quyết các vấn đề chuyên môn tốt hơn, không đòi hỏi người
lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện, chuyên sâu về nhiều lĩnh vực. Các quyết định
đưa ra có cơ sở khoa học. Song có nhược điểm là vi phạm nguyên tắc 1 thủ trưởng;
cấp dưới phải phục tùng nhiều đầu mối chỉ đạo khác nhau của 1 cơ quan quản lý cấp
trên nên sẽ gây khó khăn cho việc thi hành, dễ xảy ra các quyết định chồng chéo nhau

quyết định trong đơn vị mình phụ trách. Những người lãnh đạo chức năng không có
quyền ra quyết định trực tiếp cho những người ở các tuyến. Mô hình này ra đời năm
1930, hiện nay đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta.
Đặc điểm của kiểu cơ cấu tổ chức qlý trực truyến - chức năng là qhệ giữa cấp
trên và cấp dưới vẫn theo nguyên tắc trực tuyến, nhưng bên cạnh người lãnh đạo
chung có bộ phận chức năng giúp việc, là đội ngũ những chuyên gia giỏi về chuyên
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status