ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
======== ========
BÁO CÁO MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ 2
NGUYÊN NHÂN CUỘC KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ CHÂU Á 1997
GIẢNG VIÊN: NGUYỄN THỊ THÙY VINH
NHÓM: 20
Hà Nội, 26/05/2016
PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
HỌ VÀ TÊN
MSSV
PHÂN ĐOẠN
Nguyễn Thị Quỳnh Trang
(nhóm trưởng)
1411110635
Nhận xét, đánh giá và bài học kinh
nghiệm
Nguyễn Quỳnh Trang
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế thế giới đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ và tạo nên sự thay đổi
rõ rệt trong xã hội. Tuy nhiên nó cũng đã phải hứng chịu những thời kỳ suy thoái,
những cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ mà ảnh hưởng vẫn còn sâu sắc đến ngày nay.
Một đất nước từ trạng thái tăng trưởng cao ngay trước cuộc khủng hoảng có thể
chuyển biến rất nhanh chóng rơi vào tình trạng suy thoái, sụt giảm kinh tế trầm trọng.
Tìm hiểu nguyên nhân để rút ra những kinh nghiệm, bài học đối phó với những cơn
khủng hoảng bất ngờ này là vấn đề luôn gây đau đầu cho các nhà kinh tế học. Vì lý do
đó, nhóm chúng em chọn đề tài “Nguyên nhân cuộc khủng hoảng Tài chính – Tiền tệ
Châu Á 1997” để làm báo cáo với những nhận định về một trong những cuộc khủng
hoảng kinh tế trầm trọng nhất mà thế giới từng chứng kiến.
Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7
năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ
lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó
được coi như là "những con Hổ Đông Á".
I.
CÁC KHÁI NIỆM
1. Khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính,
dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính.
Dấu hiệu của Khủng hoảng tài chính:
-
Các Ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi
tiền.
3
thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền
tệ độc lập để ổn định giá cả và tự do lưu chuyển vốn. Chỉ có thể thực hiện đồng thời
hai trong ba chính sách này mà thôi. Thuật ngữ này còn dùng để chỉ tình thế kinh tế
dễ đổ vỡ khi mà một quốc gia cố tình thi hành ba chính sách trên cùng lúc.
II. DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG
1.
Trước khủng hoảng
Từ đầu thập niên 1990, tự do hóa tài chính được tiến hành với nhịp độ từ từ ở Đông
Á. Mặc dù vậy, chính phủ vẫn can thiệp trong phân bổ tín dụng, dẫn tới tâm lý ỷ lại.
4
Trong giai đoạn 1990-97, lượng vốn tư nhân chảy vào các nước đang phát triển tăng 5
lần từ 42 tỷ USD lên 256 tỷ USD. Đông Á là nơi thu hút một lượng lớn dòng vốn này,
chiếm tới 60% tổng vốn.
Tỷ giá hối đoái được cố định.
Kết quả:
- Tín dụng tăng trưởng cao, tỷ lệ nợ/vốn sở hữu của khu vực doanh nghiệp rất lớn, và
bong bóng giá tài sản xuất hiện.
- Tăng trưởng GDP cao: Giai đoạn 1990-96 của Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia và
Malaysia đạt 8%.
2.
Mất cân đối vĩ mô 1997
Từ năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Á bắt đầu chững lại.
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các nước Đông Á ở mức 19-21% trong
Khủng hoảng kép
Đi liền với khủng hoảng tiền tệ là khủng hoảng ngân hàng. Lãi suất cao trong thời
gian chính phủ bảo vệ tỷ giá buộc cả các tổ chức tài chính và các đối tượng vay vốn
lâm vào tình thế khó khăn.
Khi đồng nội tệ bị phá giá, trách nhiệm nợ phải trả tính ra đồng nội tệ của các khoản
nợ nước ngoài tăng vọt, kéo theo sự phá sản của nhiều doanh nghiệp và tổ chức tài
chính.
Cả các nhà đầu tư đều muốn chuyển vốn ra. Ngân hàng đòi lại vốn cho vay, từ chối
đảo nợ và ngưng cho vay mới; còn các nhà đầu tư chứng khoán thì bán chứng khoán,
đổi ra ngoại tệ và chuyển ra ngoài. Riêng trong năm 1997, hơn 20 tỷ USD ròng được
đưa ra khỏi 5 nước Đông Á chịu khủng hoảng, trong khi trong năm 1996 vẫn còn
nhận được gần 66 tỷ USD.
6
Hình: Sự phá giá tiền tệ và sụt giảm GNP một số nước
Nguồn: Wikipedia
III. NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG
1. Thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái ko linh hoạt
Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng Đông Á 1997 là do chính phủ Thái Lan và
một số nước Đông Nam Á đã cố gắng theo đuổi bộ ba bất khả thi:
- Ổn định tỷ giá hổi đoái mà cụ thể ở đây là cố định giá trị đồng nội tệ theo đồng
USD.
- Tự do hóa dòng vốn lưu chuyển.
- Chính sách tiền tệ độc lập.
Song song vs việc ổn định tỷ giá, chính phủ các nước này thực hiện các chính sách
nới lỏng việc kiểm soát buôn bán ngoại tệ nhằm khuyến khích nền kinh tế phát triển
từ khía cạnh tài chính bằng cách khuyến khích dòng chảy tư bản vào và tạo ra các cơ
Bảng 1. Tỷ giá hối đoái bình quân của một số nước Đông Á năm 1996 và 1997
Nước
Đồng tiền
1996
8
1997
Thái Lan
Baht/USD
25.61
47.25
Philipin
Peso/USD
26.29
39.05
Malaysia
Ringgit/USD
7.1
1993
8.2
1994
8.6
1995
8.7
1996
6.7
1997
-0.4
1998
-8.3
(%)
Tỷ giá hối đoái
Lạm phát (%)
Xuất khẩu
25.2
5.7
28.2
25.3
-36.2
-40.1 -48.2
-63.4
-60.9
-55.1
(tỷ USD)
Cán cân thương
-5.9
-4.16
-4.3
-7.7
-9.5
-1.5
mại ((tỷ USD)
Cán cân tài khoản
-7.59
39.61
45.84 60.99
65.0
49.0
97.0
43.6
45.7
45.6
37.0
38.7
23.0
-3.7
14.1
(tỷ USD)
Nợ ngắn hạn
(tỷ USD)
Hàn Quốc
Malaysia
Indonesia
Philipin
Hồng Kông
Singapore
Đài Loan
Trung Quốc
1994
19
14
20
8
17
11
24
9
25
1995
20
23
21
12
24
13
18
17
19
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ
việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau
năm 1987. Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng
xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng. Thâm hụt tài khoản
vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà
phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro.
3. Dựa quá nhiều vào nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn
Để bù đắp thâm hụt thương mại và để có vốn đầu tư bình quân mỗi năm, con đường
không thể tránh khỏi của chính phủ các nước là vay tiền các nước khác (từ các ngân
hàng, doanh nghiệp, các nhà đầu tư tài chính, chính phủ các nước), điển hình trong đó
có Thái Lan. Nợ nước ngoài của Thái Lan không ngừng tăng, từ 35,99 tỷ USD năm
1991 lên đến 97 tỷ USD năm 1997 và bằng 54% GDP nước này. Nợ ngắn hạn năm
1995 và 1996 gấp 1,18 lần dự trữ ngoại tệ quốc gia, tức là Thái Lan thực tế đã mất
khả năng thanh toán nợ nước ngoài từ năm 1995. Đến tháng 6/1997, nợ nước ngoài đã
bỏ xa dự trữ ngoại tệ của Thái Lan. Kết quả là dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, tỷ giá hối đoái
sẽ tăng, nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gia càng cao, nền kinh tế càng lâm
vào bế tắc.
Chính những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho
các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm để
đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài
mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro. Đây là hệ quả của
hiện tượng thông tin không đối xứng dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.
4. Sự hình thành bong bóng kinh tế
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc
tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á.
11
Trong nền kinh tế nội địa, do sự gia tăng của nhập khầu, khu vực phi hàng hóa bao
thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bất chấp mạo hiểm để đi
vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà
phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro (Hệ quả của hiện tượng
thông tin bất cân xứng dẫn đến rủi ro đạo đức).
Bảng 4. Tình trang của hệ thống ngân hàng, tài chính một số nước Đông Á
trong năm tài chính 1/4/1997 - 31/3/1998
Nước
Tổng số
Số ngân
Số ngân
Số ngân
Số ngân
ngân
hàng bị
hàng bị quốc
hàng bị
hàng bị bán ngân hàng
hàng
11
56
64 (59%)
41 (68%)
83 (36%)
18 (32%)
Bảng 5. Tình trạng thua lỗ và phá sản của các doanh nghiệp một số nước Đông Á giai
đoạn 1996 – 1998
Nước
Thái Lan
Thời gian
1 - 5/1998
Số doanh nghiệp phá sản
3961 doanh nghiệp ngừng hoạt động trong đó
Malaysia
1996
có 582 doanh nghiệp phá sản
489 doanh nghiệp phá sản
Indonesia
Hàn Quốc
Năm 1996, tỷ giá bình quân đồng Won của Hàn Quốc là 844,2 Won/USD thì ngày
30/9/1997 là 914,8 won/USD. Ngày 14/12/1997 đồng Won được thả nổi. Ngày
23/12/1997 đạt kỷ lục 200 won/USD.
Sau khi các đồng tiền này lần lượt bị phá giá, giới đầu cơ đã quay sang tấn công vào
đồng đô la Singapore và đồng Ringit Mlaysia.
Đồng
Baht / USD
Rupi / USD
Peso / USD
MR / USD
SGD / USD
Tỷ giá so với USD
ngày 1/7 ngày 6/10
25,65
36,37
24,75
38,65
26,37
34,92
2,5
3,38
1,43
1,548
14
Mức
phá giá
42%
56%
nâng cấp trang thiết bị. Với sự mất giá của đồng tiền ĐNA từ 20% đến 50%, khu vực
tư nhân nói chung đang có nguy cơ lỗ nặng ở những khoản vay mượn ngoài.
15
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm
Theo dự đoán mới đây nhất, tổng sản phẩm quốc nội của Malaysia tăng khoảng 7,7%
trong năm 1997 và 7,6% trong năm 1998 so với năm 1996 là 8,3%.
GDP của Thái Lan dự tính sẽ tăng khoảng 1,9% trong năm nay và 2,3% trong năm
1996 là 7,2%. Trong khi đó GDP của Philippines có thể có mức tăng xấp xỉ mức tăng
của năm 1996 (5,8%) đạt 5,6% trong năm 1997 và 5,8% trong năm 1998.
Mức tăng trưởng GDP của Indonesia cũng ít bị ảnh hưởng và có mức tăng tương tự
như năm 1996 cho hai năm 1997 và 1998 là vào khoảng 7,5%.
Còn mức tăng GDP của Singapore so với năm 1996 (8,0%), thì trong năm 1997 có
thấp hơn chút ít đạt 7,5%.
Tác động đến toàn thế giới
Nguồn vốn đầu tư tư nhân vào nền kinh tế trong tháng 12 tại Thái Lan giảm 23% so
với cùng kỳ năm trước. Các khoản cho vay từ ngân hàng cũng giảm mạnh ở Hồng
Kông, Singapores, Thái Lan và Malaysia.
Cuộc khủng hoảng đã đẩy 40% nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Các nền kinh tế
lớn như Nhật Bản, Nga, Brazil…đã bị cuốn vào vòng xoáy của nó:IMF gần như mất
khả năng đóng vai trò “người chữa cháy” của nền kinh tế toàn cầu.Những thay đổi
trong chính sách tỷ giá hối đoái và buôn bán của Mỹ đối với Châu Á đã tác động tiêu
cực đến các nền kinh tế khu vực này.
Thị trường tiền tệ thế giới đang bị tác động mạnh của sự lưu chuyển vốn ồ ạt và ngắn
hạn. Vì vậy, những biến động ngắn hạn về tỷ giá hối đoái trở nên nhạy cảm và được
quy định bởi sự thay đổi không thể dự báo trước của quan hệ cung cầu tiền tệ. Nguồn
vốn thế giới chảy vào các nền kinh tế mới nổi ở khu vực này giảm mạnh từ mức 196
tỷ USD năm 1996 xuống còn 39 tỷ USD năm 1998, trong khi các nền kinh tế Âu Mỹ
phát triển ổn định khiến nguồn vốn lại chảy ngược từ các nước Châu Á trở lại Âu Mỹ
lâu dài được.
17
Những nhà kinh tế này cũng tin rằng, khủng hoảng là hậu quả tất yếu của các chính
sách bảo hộ, chính sách kinh tế vĩ mô không bền vững, cha đẻ của chính những khiếm
khuyết trong thị trường mà chúng có trách nhiệm phải loại bỏ, hạn chế. Nhà kinh tế
Frederic Mishkin chỉ ra vai trò của thông tin phi đối xứng trong thị trường tài chính
trong việc làm dấy lên "tâm lý bầy đàn" trong giới đầu tư đã thổi phồng lên một rủi ro
tương đối nhỏ trong nền kinh tế thực.
1.
Bài học thứ nhất: Phải có công cụ điều tiết luồng vốn
Không phải tình cờ khi hai nước châu Á ít bị ảnh hưởng nhất của cuộc khủng hoảng
tài chính, Trung Quốc và Ấn Độ, cũng chính là những nước không tự do hóa thị
trường vốn. Và trong số những nước đã tự do hóa thị trường vốn, cũng không phải
ngẫu nhiên mà nước khống chế tốt nhất những tác động của cuộc khủng hoảng,
Singapore, chính là nước có hệ thống luật pháp tốt nhất.
Do thiếu các biện pháp kiểm soát, nhiều nền kinh tế châu Á đã rơi vào tình trạng quá
phụ thuộc vào nguồn tài chính rất dễ biến động từ bên ngoài - đó là các khoản vay
ngắn hạn. Cuối năm 1996, các nước Đông Á đã nợ các ngân hàng châu Âu 318 tỷ
USD, ngân hàng Nhật Bản 260 tỷ USD và ngân hàng Mỹ 46 tỷ USD, đa số là dưới
hình thức vay ngắn hạn - dưới 1 năm.
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết trong 3 năm trước thời điểm 1997, các khoản nợ
ngắn hạn của Thái Lan chiếm tới 7-10% GDP, trong khi tổng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) chỉ chiếm 1% GDP.
Khi xảy ra khủng hoảng, các nguồn vốn ngắn hạn này biến mất cũng nhanh như khi
xuất hiện, vì không hề có các công cụ điều tiết.
2.
soát trực tiếp của họ.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á không phải chỉ do sự “tắc trách” của người châu
Á gây ra. Ngân khố của hầu hết các nền kinh tế châu Á đều ở mức cân bằng hoặc
thặng dư, và không hề có lạm phát. Cuộc khủng hoảng xảy ra phần nhiều là do những
thay đổi về mô hình của hoạt động trung gian tài chính quốc tế.
19
Thứ nhất, sự mở rộng đáng kể của khả năng thanh khoản quốc tế vào thập niên 90 đã
làm gia tăng sự cạnh tranh trong ngành dịch vụ tài chính trên toàn thế giới. Vì thế, các
giám đốc tài chính buộc phải tìm kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn, thông qua các
dự án đầu tư mạo hiểm.
Thứ hai là chính sách kinh tế vĩ mô của các cường quốc kinh tế đóng vai trò quan
trọng trong sự mở rộng của khả năng thanh khoản quốc tế. Ví dụ như ở Mỹ, việc thâm
hụt ngân sách giảm xuống trong khi khả năng sản suất tăng lên đã dẫn đến tốc độ lạm
phạt giảm và do đó lãi suất giảm.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi luồng vốn đổ vào châu Á tăng lên, vì lãi suất ở châu
Á cao hơn, còn các nước châu Á nhận thấy việc vay mượn quy đổi bằng đồng đôla
Mỹ hoặc yên Nhật có lợi hơn là bằng đồng nội tệ.
Tuy nhiên, tình trạng mất cân đối này không thể kéo dài. Việc tăng nguồn vốn đã gia
tăng sức ép đối với việc tăng tỷ giá hối đoái, từ đó làm trầm trọng thêm tình hình
thâm hụt thương mại. Và khi thị trường tạo sức ép giảm giá đồng tiền, tình hình càng
trở nên xấu đi do sự rút vốn đột ngột của các nhà đầu tư nước ngoài. Thị trường tài
chính châu Á chao đảo.
Liệu điều tương tự có thể xảy ra lần nữa? Câu trả lời là hoàn toàn có thể.
Trong suốt thời gian diễn ra khủng hoảng, đã có khá nhiều thảo luận về việc hình
thành một “kiến trúc tài chính toàn cầu”. Tuy nhiên từ đó đến nay, cái “kiến trúc” đó
hầu như không có gì thay đổi. Vẫn chưa có được những công cụ điều tiết luồng vốn
một cách hiệu quả.
trọng, chính phủ các nước sẽ cố gắng tìm ra sự khác biệt đó để có các biện pháp đề
phòng.
21
KẾT LUẬN
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Thái Lan đã qua đi rất lâu nhưng những bài học
rút ra từ cuộc khủng hoảng vẫn còn nhiều giá trị. Cuộc khủng hoảng lần này cho thấy
trong bối cảnh tự do hóa toàn cầu cần phải có sự chuẩn bị thích đáng cho quá trình
này, nhất là tự do hóa tài chính – tiền tệ, vừa phải tự do hóa đồng bộ, vừa phải thận
trọng và tính đầy đủ đến tình hình kinh tế của mỗi nước. Qua cuộc khủng hoảng,
người ta cũng nhận thấy rằng Chính phủ cần có những quyết sách kịp thời và đúng
lúc, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, tránh để dẫn tới tình trạng phá giá tiền tệ một
cách bị động – nguyên nhân chính dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng
đến nền kinh tế của nhiều nước trong và ngoài khu vực.
Nước ta giai đoạn này chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới nên chưa bị ảnh
hưởng nhiều của cuộc khủng hoảng nhưng trongnhững năm gần đây, nền kinh tế nước
ta đã phát triển đáng kể và hội nhập toàn diện với nền kinh tế khu vực, thế giới. Do
vậy, nguy cơ khủng hoảng tài chính: do ảnh hưởng “dây chuyền” từ các nền kinh tế
khác (trong trường hợp xảy ra khủng hoảng ở những nước này), hoặc do chính những
bất hợp lý của nền kinh tế trong nước, cũng tăng cao. Đó là vì hệ thống tài chính dễ bị
tổn thương của các nước đang phát triển, và phản ứng dây chuyền giữa các nền kinh
tế này trong trường hợp xảy ra khủnghoảng ở một nền kinh tế. Mặc dù đã có sự cải
thiện đáng kể về sự trợ giúp của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF cũng như sự
hợp tác giữa các nền kinh tế, điều kiện tiên quyết để bảo vệ một nước đang phát triển
khỏi khủng hoảng tài chính là tự tăng cường hạ tầng tài chính về nhiều phương diện.
Nổi bật là những nhà quản lý và những chủ thể lớn có liên quan phải tham gia xây
dựng một hành lang pháp lý tinh vi để một mặt nó phải cởi mở và minh bạch để thu
hút vốn đầu tư từ nước ngoài, nhưng trước hết, như bài học từ cuộckhủng hoảng tài