TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Điều tra thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học của loài mọt thuốc lá Lasioderma serricorme Fabricius
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tiến Hoàng
Lớp: Bảo vệ thực vật K46
Giáo viên hướng dẫn: Trần Đăng Hòa
Bộ môn: Bảo vệ thực vật
NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự cố
gắng và nổ lực của bản thân, tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm và
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
1.2. Mục đích của đề tài
1.3.Yêu cầu của đề tài
1.4.Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình nhập khẩu thức ăn chăn nuôi & nguyên liệu trong nước
tháng
11/2015 và 11 tháng đầu năm 2015
2.2.Tình hình nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi qua cảng Quy
Nhơn
2.3. Những nghiên cứu về mọt hại kho nước ngoài
2.3.1. Những nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật
2.3.2. Nghiên cứu về côn trùng gây hại nông sản lưu trữ trên thế giới
2.3.3. Một số nghiên cứu về loài Lasioderma serricorne (F.)
2.4. Một số nghiên cứu trong nước
2.4.1. Một số nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật
2.4.2 . Một số nghiên cứu về mọt thuốc lá L
asioderma serricorne (F.)
4.2.1. Thời gian phát dục của mọt thuốc lá L.serricorne ở các điều kiện
nhiệt độ khác nhau
4.2.2. Tỷ lệ sống của mọt thuốc lá L.serricorne qua các tuổi ở các điều
kiện nhiệt độ khác nhau.
4.2.3. Kích thước qua các pha phát dục của mọt thuốc lá L.serricorne ở
các điều kiện nhiệt độ khác nhau
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết Luận
5.2. Kiến nghị
PHẦN 6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
6.1. Tài liệu tiếng việt
6.2. Tài liệu tiếng anh
DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Chú giải
KDTV
Kiểm dịch thực vật
KNNK
Kim ngạch nhập khẩu
Việt Nam là một nước đang phát triển, kinh tế chủ yếu dựa vào sản
xuất nông nghiệp, tuy là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo với lượng gạo
xuất khẩu đạt xấp xỉ 4 triệu tấn nhưng hằng năm phải tốn trên 4 tỷ USD để
nhập các loại nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Số tiền để
mua nguyên liệu nhập khẩu này cao hơn nhiều lần so với số tiền thu về từ
xuất khẩu gạo. Theo Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, năm 2013, cả
nước phải chi khoảng 4,5 tỷ USD để nhập 9,2 triệu tấn nguyên liệu thức ăn
chăn nuôi.
Cảng Quy Nhơn là một cảng lớn của khu vực miền Trung Tây
Nguyên. Theo số liệu thống kê của Chi cục KDTV Vùng IV (Cục Bảo vệ
thực vật) thì lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập qua cửa khẩu Quy
nhơn được kiểm tra, kiểm dịch ngày càng gia tăng lần lượt là 4320,471 tấn
(năm 2012), 7627,953 tấn (năm 2013), sáu tháng đầu năm 2014 đã kiểm
dịch đến 28026,374 tấn. Dự kiến đến cuối năm 2014 hàng loạt nhà máy chế
biến thức ăn chăn nuôi mới được xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Định sẽ
lắp ráp xong dây chuyền công nghệ và đi vào hoạt động. Hiện nay cảng
thường nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như: Bã ngô
từ Mỹ, khô đậu nành từ Trung Quốc, cám gạo, ngô hạt, khô hạt cải từ Ấn
Độ, lúa mì từ Uruguay và Úc, bột đậu nành lên men, bột ngô lên men từ
Đài Loan…
Chính việc nhập khẩu các loại thức ăn chăn nuôi từ nhiều nước như
vậy đã tạo điều kiện cho các đối tượng sinh vật gây hại trên sản phẩm thực
vật xâm nhập vào nước ta. Một trong những nhóm sinh vật gây hại ảnh
hưởng rõ rệt nhất đến chất lượng sản phẩm là do sâu mọt gây ra. Sâu mọt
gây hại mang tính tiềm ẩn, chúng xuất hiện, phát triển và gây hại trong quá
trình bảo quản, vận chuyển và trong thương mại quốc tế.
Trong nhóm sâu mọt gây hại hiện nay, loài mọt thuốc lá Lasioderma
serricorne Fabricius (Coleoptera: Anobiidae) là loài xuất hiện thường
thái học của loài mọt Lasioderma serricorne Fabricius.
Phát hiện kịp thời loài sâu mọt thuộc danh mục dịch hại kiểm dịch thực
vật (KDTV) của Việt Nam làm cơ sở dữ liệu của ngành KDTV.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cung cấp các dẫn liệu để đề ra biện pháp phòng trừ thích hợp đế
quản lý dịch hại kiểm dịch thực vật của Việt Nam nói chung, sâu mọt hại
nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nói riêng một cách khoa học, góp phần phục
vụ công tác xuất nhập khẩu.
Xác định ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến một số đặc
điểm sinh học của mọt thuốc lá L. serricorne làm cơ sở cho công tác dự
tính dự báo.
Làm cơ sở để đưa ra biện pháp quản lý giúp tăng hiệu quả bảo quản, đảm
bảo chất lượng nông sản phẩm trong kho.
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình nhập khẩu thức ăn chăn nuôi & nguyên liệu trong nước
tháng 11/2015 và 11 tháng đầu năm 2015
Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu TĂCN và
nguyên liệu trong tháng 11/2015 đạt 233 triệu USD, giảm 12,72% so với
và tăng 6.003,09% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch
nhập khẩu 11 tháng đầu năm 2015 lên 108 triệu USD, tăng 7.343,03% so
với cùng kỳ năm trước.
Ngoài ba thị trường kể trên, Việt Nam nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu
từ các thị trường khác nữa như: Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và
Indonesia với kim ngạch đạt 256 triệu USD, 168 triệu USD, 101 triệu USD;
98 triệu USD; và 71 triệu USD.
Bảng 2.1. Tình hình nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong 11
tháng đầu năm 2015.
Nguồn: Tổng cục Hải quan,
2015
Ghi chú : KNNK: Kim ngạch nhập khẩu
TĂCN : Thức ăn chăn nuôi
2.2.Tình hình nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi qua cảng Quy
Nhơn
Thực hiện chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020 của
Thủ tướng Chính phủ, trong những năm qua ngành chăn nuôi đã phát triển
mạnh theo hướng trang trại, công nghiệp nên thúc đẩy ngành công nghiệp
chế biến thức ăn chăn nuôi (TACN) trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh
chóng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 20062010 đạt 56%/năm và
giai đoạn 20112015 đạt đến 88%/năm. Trong thời gian tới, dự báo ngành
này tiếp tục tăng trưởng nhanh. Qua quá trình hình thành và phát triển, đến
nay trên địa bàn tỉnh hiện có 12 nhà máy chế biến TACN (năm 2010 là 5
nhà máy) với tổng công suất đạt trên 2 triệu tấn/năm (năm 2010 là 245.000
nước thành viên.Việc công bố những loài sinh vật thuộc dịch hại KDTV là
một trong những điều cần thiết đối với công tác quản lý xuất nhập khẩu
hàng hoá thuộc diện KDTV, do vậy các nước đã đề ra những quy định riêng
của mình.
Trung Quốc: Đã đưa ra 84 loài sinh vật thuộc diện dịch hại KDTV,
trong đó có 24 loài côn trùng . Liên Bang Nga công bố 75 loài sinh vật
thuộc diện dịch hại KDTV, trong đó có 52 loài côn trùng. Indonexia công
bố: 164 loài sinh vật thuộc diện dịch hại KDTV, trong đó có 52 loài côn
trùng. Ở mỗi quốc gia công tác KDTV còn có nhiệm vụ xác định những
vùng có dịch hại nguy hiểm, từ đó đưa ra những quyết định cụ thể nhằm
ngăn chặn, tránh để lây lan ra những vùng lân cận.
2.3.2. Nghiên cứu về côn trùng gây hại nông sản lưu trữ trên thế giới
Tổng kết sự có mặt và gây hại của côn trùng, tác giả RL. Semple, J.
V. Lozara và Casterman cho rằng trên thế giới có khoảng trên 100 loài côn
trùng liên quan đến các sản phẩm kho. Trong đó bộ cánh cứng chiếm tỷ lệ
60% và bộ cánh vảy chiếm 810%.
Hầu như ở đâu có sự tồn trữ và lưu trữu, ở đó xuất hiện các loài sinh
vật gây hại. Nhiều khi chỉ cần sau vài tuần, sinh vật gây hại đã phát triển
thành quần thể với số lượng lớn và gây ra những “vụ cháy ngầm”, tiêu hủy
một phần hoặc hoàn toàn hàng hóa bảo quản ở trong kho (Bùi Công Hiển,
1995). Sự phá hoại của côn trùng hại kho có thể nói là rất đa dạng và phổ
biến.
Côn trùng vượt qua tất cả các loài dịch hại khác về số lượng cá thể và
số lượng loài, chúng cạnh tranh với con người về nguồn cung cấp lương
thực, lan truyền dịch bệnh cho con người, cho cây trồng và gia súc của họ.
Đặc điểm nổi bật của dịch hại là chúng thích nghi cao với điều kiện cuộc
sống trên trái đất, điều này có nghĩa là chúng có thể tồn tại và hoạt động
trong cả điều kiện khô hạn (Van der Laan, P.A., 1981).
Trên thế giới đã có nhiều những nghiên cứu về côn trùng hại kho,
trước nhất và chiếm đa số là những nghiên cứu về thành phần loài. Có thể
đó là: Họ ngài đêm( Ephestia elutella Hbn) và mọt thuốc bắc( Stegobium
panoceum L.).
Về đặc điểm sinh thái của mọt thuốc lá và mọt thuốc bắc tác giả
Gunasekaran, Baskaran, & Rajendran (2003), cho biết: Mức độ ảnh hưởng
của mọt thuốc bắc Stegobium panoceum, mọt thuốc lá Lasioderma
serricone phụ thuộc vào thành phần và mức độ axits uric có trong cây, hạt
rau Mùi, rễ cây Nghệ. Có hơn 1.000 loài bọ gặm nhấm được mô tả. Phần đa
là mọt đục thân gỗ. Nhưng có hai loài là mọt thực phẩm (mọt thuốc bắc
Stegobium panoceum L.) (được biết tới ở Anh là mọt bánh qui) và mọt
thuốc lá Lasioderma serricone : Chúng tấn công các sản phẩm được bảo
quản.
Sâu mọt hại các sản phẩm được bảo quản gây ra thiệt hại khổng lồ
cho các sản phẩm sau thu hoạch và hạt giống, các sản phẩm đóng gói kể cả
các sản phẩm có nguồn gốc động vật và thực vật [30].
Nhiệt độ, độ ẩm ảnh hưởng trực tiếp tới điều kiện sống của sâu mọt
nói chung trong đó có mọt thuốc bắc và mọt thuốc lá. Nghiên cứu về sự
phụ thuộc các yếu tố môi trường tác giả Cox & Simms (1978): Có 24 loài
côn trùng bao gồm: Ahasverus advena, Cryptolestes frrugineus, Ephestia
elutella , Lasioderma serricorne, Plodia ỉnterpunctella, Ptinus tectus,
Stegobium panoceum... được tìm thấy trên bột đậu nành. Khi độ ẩm đạt
70% và nhiệt độ 25°C hoặc30°C là điều kiện tốt nhất để côn trùng sinh
sống và trưởng thành.
Cũng Theo Cox & Simms (1978): So sánh ở hai mức độ ẩm, ở mức
80% các loài sâu mọt phát triển trên các loại thức ăn, còn ở mức 70% phát
triển ít hơn. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của một số loài.
Đánh giá trên số lượng con trưởng thành và các pha. Các loài có thể tấn
công vào bột đậu nành và dược liệu ở trong điều kiện nhiệt độ môi trường
như: Stegobium panoceum, Ptinus tectus, Tineola bisslliella, Ephestia
al., 2000).
Ryan (1999) đã đề cập đến khả năng lựa chọn thức ăn của mọt thuốc
lá rất phong phú, chúng tấn công trên 50 loại sản phẩm nông sản khác
nhau.Theo Arbogast et al 2002, mọt thuốc lá là loài đa thực, chúng có phổ
thức ăn rộng, có thế ăn nhiều loại sản phẩm của cây trồng và được coi là
loài dịch hại nguy hiểm đối với kho bảo quản nông sản nói chung và kho
nguyên liệu thuốc lá nói riêng
Theo mô tả của Ryan (1999), trưởng thành mọt thuốc lá dài 2,0 –
3,7mm, có màu nâu sáng, trọng lượng cơ thể từ 1,6 4,4 mg. Kích thước
của mọt phụ thuộc chủ yếu vào thức ăn, nhiệt độ và độ ẩm trong quá trình
phát triển. Thông thường trưởng thành cái thường lớn hơn trưởng thành
đực. Phân biệt trưởng thành đực và trưởng thành cái thông qua mấu lồi của
bộ phận sinh dục. Con cái thường có mấu lồi hình chữ V, con đực có mấu
lồi hình chữ U.
Arbogast et al., 2002 đã mô tả mọt thuốc lá là loài có kích thước từ
23 mm. Trưởng thành có màu nâu đỏ, thân hình tròn hoặc bầu dục. Mọt
trưởng thành có thể bay xa tới 3 km, điều này giải thích khả năng xâm hại
và phát tán của chúng trong các kho bảo quản. Chúng thường bay vào buổi
chiều muộn hoặc ban đêm khi có ánh sáng, đặc biệt bay mạnh khi chúng đẻ
trứng (Ryan, 1999). Theo kết quả nghiên cứu của Sannino (1980), hoạt
động sinh sản của mọt thuốc lá L. serricome có liên quan chặt đến nhiệt độ.
Ở nhiệt độ 15°Ccon cái sẽ giao phối sớm hơn ở nhiệt độ 29°C.Theo kết quả
nghiên cứu của Howe (1957), vòng đời của mọt thuốc lá phụ thuộc vào
nhiệt độ và thức ăn, nhưng chúng thường kéo dài 40 90 ngày.
Theo Koehler (1994) (dẫn theo Trần Văn Nguyên, 2007), mọt trưởng
thành trong điều kiện bình thường chúng có thể sống được 34 tuần, trưởng
thành cái đẻ tới 100 trứng. Trứng thường nở sau khi đẻ 610 ngày tuỳ theo
nhiệt độ. Thời gian một vòng đời (từ trứng tới trưởng thành và đẻ quả trứng
virus là dịch hại thuộc diện KDTV ... Trong đó đã nhiều lần phát hiện dịch
hại thuộc diện KDTV của Việt Nam như: Radopholus similis; Ephilis
oryzae; Trogoderma granarium; Trogoderma inclusum; Spongospora
subterranea; Lolỉum temulentum; Zabrotes subfasciatus; Acanthoscelides
obtectus... .
Đặc biệt năm 2002: Toàn ngành đã phát hiện 531 lần dịch hại thuộc
diện KDTV, một trong những dịch hại quan trọng đó là bệnh ghẻ bột khoai
tây phát hiện tới 350 lần và 124 lần phát hiện Trogoderma inclusion, 53 lần
phát hiện Trogoderma granarium... Trong những năm qua SVGH xuất hiện
trên hàng thực vật nhập khẩu ngày càng tăng, đa dạng về loài; đặc biệt là
các dịch hại thuộc diện KDTV bị phát hiện gần 900 lần. Chúng có nguồn
gốc xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Những dịch hại
trên đã được xử lý triệt để tại các cửa khẩu [5].
Việc phát hiện, nắm rõ thông tin khoa học và thành phần SVGH cũng
như nguồn gốc xuất xứ của các lô vật thể thuộc diện KDTV làm cơ sở để
phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại từ đó đề xuất những biện pháp xử lý
và quản lý SVGH trên hàng nhập khẩu vào Việt Nam.
2.4.2. Một số nghiên cứu về mọt thuốc lá Lasioderma serricorne.
Theo Vũ Quốc Trung (1981): Mọt thuốc lá có tên khoa học
Lasioderma serricorne Fabricius thuộc họ Anobiidae, bộ Coleoptera.
*
Phân bố và tác hại: Mọt thuốc lá phân bố khắp thế giới, trong
đó có Việt Nam.
Hàng năm loài mọt này gây thiệt hại lớn tới thuốc lá. Ngoài thuốc lá
loài mọt này còn phá hoại chè, dược liệu, quả khô, cá khô, các loại hạt có
dầu, tiêu bản động vật, tài liệu, sách báo,... có khi còn gặp chúng trong các
kho lương thực. Mọt thuốc lá L. serricorne là loài sâu hại có tính ăn rộng,
nó gây thiệt hại rất lớn cho thuốc lá và nhiều nông sản khác.
*
Mọt không thích ăn, ưa ánh sáng yếu, cường độ chiếu sáng khoảng
50 Lux thu hút mọt rất mạnh, nó hoạt động ở ánh sáng mờ nhạt. Ở điều
kiện 25°C và độ ẩm 70%, con cái sống 31 ngày, con đực 28 ngày, chúng
hoạt động mạnh vào lúc hoàng hôn và ban đêm (Vũ Quốc Trung, 1981).
Trưởng thành vũ hóa sau 3 ngày thì giao phối, đẻ trứng. Ở 25°C đẻ ít
nhất 103 trứng, nhiều nhất 120 trứng. Với độ ẩm cao, thời gian trứng
khoảng 6 ngày, sâu non lột xác 4 lần. Thời gian từ tuổi 1 đến tuổi 5 trung
bình 19,2 ngày và thời gian nhộng là 3,8 ngày. Vòng đời là 29,1 ngày (Vũ
Quốc Trung, 1981).
Trong điều kiện nước ta, mọt thuốc lá mỗi năm có 36 lứa. Vòng đời
của mọt là 44 70 ngày, thời kỳ Trứng và sâu non 3050 ngày, nhộng 810
ngày. Mỗi con cái đẻ được 10 100 trứng, thường đẻ rải rác mọi nơi, đẻ
trên đống lương thực, trong kẽ bao bì, trên gân thuốc lá hay kẽ lá. Chúng
thường hoạt động mạnh vào ban đêm và những ngày râm mát, những ngày
nắng không hoạt động, mọt bay, bò và giả chết (Vũ Quốc Trung, 1981).
Theo Bùi Công Hiển (1995), mỗi con trưởng thành cái có thể đẻ từ 10
100 trứng, ở nhiệt độ dưới 20°C mọt cái thường không đẻ trứng. Trong
điều kiện khí hậu ở nước ta, mọt thuốc lá L. serricorne có thể sinh sản
được 36 lứa một năm, vòng đời từ 44 70 ngày, thời kỳ trứng từ 6 10
ngày, sâu non từ 3050 ngày, nhộng từ 6 10 ngày.
2.5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
2.5.1 .Cơ sở lý luận
Bất cứ sinh vật nào nhân tố thức ăn được xem là nhân tố sinh thái rất
quan trọng, đối với côn trùng cũng vậy. Forbxom (1988) đã viết: “Trong tất
cả các yếu tố môi trường xung quanh không có gì ảnh hưởng đến chúng
một cách mạnh mẽ, phức tạp và sâu sắc như các yếu tố thức ăn, ngay cả
loài L. serricorne , với mức độ phổ biến và gây hại khá cao. Tuy nhiên việc
điều tra về thành phần loài và nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài
sâu mọt này còn nhiều hạn chế .
Chính vì vậy nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến một số đặc điểm
sinh học của loài L.serricorne ở trong phòng thí nghiệm là cơ sở hết sức
quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn . Nghiên cứu nhằm xác định thành phần
sâu mọt hại trong kho bảo quản, ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau
đến loài L. serricorne giúp đề ra biện pháp phòng trừ đúng lúc, đúng giai
đoạn và trên từng loại thức ăn khác nhau đem lại hiệu quả cao và kinh tế.
Bên cạnh đó làm cơ sở và giúp cho công tác quản lý dịch hại kiếm dịch
thực vật của Việt Nam nói chung, sâu mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn
nuôi nói riêng được thuận lợi hơn, góp phần phục vụ công tác xuất nhập
khẩu tại cảng Quy Nhơn.
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cồn 70º, formol 5%...
Ngoài ra còn có: Vợt bắt mẫu, bộ rây sàng mọt, túi đựng mẫu, ống
nghiệm, kính lúp, thùng nhựa nuôi mọt, lưu mẫu và các dụng cụ thí nghiệm
khác panh, bút lông, giấy lọc, bông, cồn...
3.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.3.1. Thời gian
Đề tài được thực hiện từ 05/2015 đến 03/2016
3.3.2. Địa điểm nghiên cứu
Tại cảng Quy Nhơn và một số kho bảo quản của các đơn vị tham gia
nhập khẩu tại Bình Định.
Tại phòng thí nghiệm côn trùng, bộ môn Bảo vệ thực vật, khoa Nông
học, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế.
3.4. Nội dung nghiên cứu
Điều tra thành phần và mức độ phổ biến của các loài mọt gây hại
trên nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn.
Nghiên cứu xác định một số đặc điểm hình thái qua các pha phát dục
của mọt thuốc lá.
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến đặc điểm sinh vật học của
mọt thuốc lá.
3.5. Phương pháp nghiên cứu
3.5.1. Phương pháp điều tra mọt hại trên nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và bảo quản sau nhập khẩu
+ Phương pháp điều tra thành phần sâu mọt
Thực hiện theo Tiêu chuẩn ngành: 10 TCN 960/2006 Kiểm dịch
thực vật – qui trình kiểm dịch thực vật.
Đối với sâu non, nhộng: Ngâm vào dung dịch Paml hoặc cồn 70%.
Dung dịch Paml được pha chế theo tỷ lệ:
Nước cất: 30%
Cồn 96 o : 15%
Formaldehyt 40%: 6%
Acid acetic đậm đặc: 4%
Glyceryl: 5 giọt
Mẫu vật được tiến hành giám định trực tiếp bằng hình thái bên ngoài
hoặc giám định bằng tiêu bản giải phẫu bằng mắt thường, kính lúp, kính
lúp soi nổi có độ phóng đại từ 4070 lần theo khóa phân loại của CABI
(2007), Bousquet (1990), Haines (1991), Bùi Công Hiển (1995); Vũ Quốc
Trung (1978) để giám định.
+ Tính độ thường gặp của loài Lasioderma serricorne F. trong
thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu.
Phương pháp tính toán : Tính độ thường gặp (%) để đánh giá mức độ
phổ biến của từng loài côn trùng theo không gian điều tra
Na
C (%) =
x 100
(1)
N
Trong đó: Na: Số điểm điều tra có chứa loài a
N: Tổng số điểm điều tra
* Mật độ của loài được tính theo công thức:
Tổng số con (con)
Mật độ mọt (con/kg) =
Đơn vị lấy mẫu (kg)