ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ ANH DŨNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH
HỌC CỦA LOÀI THÔNG TRE LÁ NGẮN
(PODOCARPUS PILGERI FOXWORTHY)
LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO
TỒN, PHÁT TRIỂN LOÀI TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN PHIA OẮC - PHIA ĐÉN,
HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực. Chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả Vũ Anh Dũng ii
LỜI CẢM ƠN
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vii
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích 2
3. Mục tiêu 3
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
5. Địa điểm và thời gian tiến hành 3
6. Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu 4
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.2.1. Trên thế giới 6
1.2.2. Ở Việt Nam 13
1.3. Điều kiện tự nhiên - Kinh tế - Xã hội khu vực nghiên cứu 19
1.3.1. Điều kiện tự nhiên 19
1.3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội 21
Chương 2: NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1. Nội dung nghiên cứu 23
2.2. Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu 23
2.2.2. Phương pháp nội nghiệp 32
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VQG Vườn quốc gia
ĐDSH Đa dạng sinh học
KBT Khu bảo tồn
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
OTC Ô tiêu chuẩn
ODB Ô dạng bản
LSNG Lâm sản ngoài gỗ
UNESCO
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc
CIFOR Center for International Forestry Research
Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế
TFAP Tropical Forestry Action Plan
Chương trình hành động lâm nghiệp nhiệt đới
ITTA International Tropical Timber Agreement
Hiệp hội gỗ nhiệt đới quốc tế
IUCN
International Union for Conservation of Nature
Hiệp hội thế giới về bào tồn thiên nhiên
WWF
World Wide Fund For Nature
Quỹ bảo vệ động vật hoang dã
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Thân cây Thông Tre lá ngắn tại KBTTN Phia Oắc - Phia Đén 39
Hình 3.2. Đặc điểm lá cây Thông Tre lá ngắn 40
Hình 3.3. Quả non cây Thông Tre lá ngắn 41
Hình 3.4. Đào cây Thông Tre lá ngắn để bán 55
1
nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH đã và đang suy giảm.
2
Việt Nam được công nhận là một trong những điểm nóng về đa dạng
sinh học. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều
taxon bậc loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong
tương lai gần. Nhận thấy tầm quan trọng phải bảo vệ và phát triển rừng, Bộ
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã thành lập các vườn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên mục tiêu là đảm bảo các giá trị cảnh quan được gìn giữ, đa
dạng sinh học sẽ được bảo tồn. Hiện nay cả nước có khoảng 128 khu bảo tồn
nhằm gìn giữ nguồn gen của địa phương, là cơ sở quyết định cho sự phát triển
hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đa dạng và bền vững. Cũng
như các khu bảo tồn khác, khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén là nơi
lưu giữ những nguồn gen và các loài động thực vật có giá trị, đặc biệt là một
số loài thực vật quý hiếm như: Nghiến, Sến mật, Thông tre, Giảo cổ lam
Tuy nhiên việc nghiên cứu về các loài thực vật này còn rất hạn chế đặc biệt là
loài cây Thông Tre lá ngắn. Để có thể bảo tồn và phát triển loài cây Thông
Tre lá ngắn này tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm: “Nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học của loài Thông Tre lá ngắn (Podocarpus
pilgeri Foxworthy), làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển
loài tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, huyện Nguyên
Bình, tỉnh Cao Bằng".
2. Mục đích
Điều tra và đánh giá được thực trạng, tình hình phân bố và khả năng tái
sinh của loài Thông Tre lá ngắn tại xã Ca Thành, Khu bảo tồn thiên nhiên
Phia Oắc - Phia Đén. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và phát
triển loài thực vật đó, bảo vệ nguồn gen của chúng.
3. Mục tiêu
- Tìm hiểu sự hiểu biết của người dân địa phương về loài Thông Tre lá
nghiên cứu, và sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua. Từ đó
đánh giá được sự tác động của con người đối với tài nguyên rừng.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn các loài thực vật quý hiếm nói
chung và loài cây Thông Tre lá ngắn nói riêng.
- Đây là tài liệu tham khảo cho mọi người có nhu cầu tìm hiểu về các
vấn đề nêu trong đề tài.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của nghiên cứu
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài
nguyên ĐDSH trên thế giới cũng như của Việt Nam đã và đang bị suy giảm.
Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon
loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai
gần. Yêu cầu đặt ra là phải tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm sinh học của
các loài động thực vật để từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn
chúng một cách có hiệu quả.
Về cơ sở sinh học
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài hết sức cần thiết và quan trọng,
đây là cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật
quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường là cơ sở khoa học xây dựng mối
quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên.
Về cơ sở bảo tồn
Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện
pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên
ĐDSH của đất nước. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan
đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển
cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức cực kỳ nguy cấp.
+ Sắp nguy cấp (VU): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc
nòi bị đánh giá là sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc CR và Nguy cấp
(EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một
tương lai không xa.
+ Sắp bị đe dọa: là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc
nòi bị đánh giá là Sắp bị đe dọa khi nó sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt
chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa.
6
+ Ít lo ngại (Least Concern) - Ic: Bao gồm các taxon không được coi là
phụ thuộc bảo tồn hoặc sắp bị đe dọa.
+ Thiếu dẫn liệu (Data Deficient) - DD: Một taxon được coi là thiếu
dẫn liệu khi chưa đủ thông tin để có thể đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp về
nguy cơ tuyệt chủng, căn cứ trên sự phân bố và tình trạng quần thể.
+ Không được đánh giá (Not Evaluated) - NE: Một taxon được coi là
không đánh giá khi chưa được đối chiếu với các tiêu chuẩn phân hạng.
Dựa vào tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN và các tài liệu
kế thừa của Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén cho thấy: Tại Khu
bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén tồn tại rất nhiều loài động, thực vật
được xếp vào các cấp bảo tồn CR, EN, VU… cần được bảo tồn nhằm gìn giữ
nguồn gen quý giá cho đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói
chung. Cho nên việc nghiên cứu một số loài thực vật quý hiếm đặc biệt là loài
cây Thông Tre lá ngắn tại Xã Ca Thành và đề xuất các phương thức bảo tồn
các loài thực vật quý hiếm nói chung và loài Thông Tre lá ngắn nói riêng,
nhằm tránh khỏi sự mai một của các loài thực vật quý, hiếm và nguồn gen của
chúng là điều hết sức cần thiết. Đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến
đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận.
Để công tác bảo tồn có thể đạt được kết quả cao với một loài nào đó thì
vào nhóm DD. Ví dụ, trong năm 2002 danh sách tuyệt chủng đã giảm xuống
759 trước khi tăng lên như hiện nay.
Để có thể bảo tồn các loài động thực vật nói chung và các loài động thực
vật quý hiếm nói riêng trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã đưa ra các hoạt
động hướng tới phát triển bền vững và bảo tồn Đa dạng sinh học đặc biệt là ở
các khu vực vùng núi đá vôi, nơi giàu Đa dạng sinh học và khó khăn trong
công tác bảo tồn. Ở các vùng đá vôi ở Việt Nam cũng như ở nhiều nơi khác
trên thế giới hiện còn gặp nhiều khó khăn do những mâu thuẫn về lợi ích đến
từ nhiều phía. Những vùng này thường có phong cảnh đẹp, hữu tình, truyền
thống văn hoá dân tộc giàu bản sắc, tài nguyên rừng phong phú, nhất là các
8
sinh vật quý hiếm mà chỉ có ở vùng núi đá vôi, hệ sinh thái rừng trên núi đá
vôi,v.v. Nhưng công cuộc phát triển kinh tế-xã hội ở đó chủ yếu mới chỉ chú
trọng đến tăng trưởng kinh tế mà chưa chú ý đúng mức đến bảo vệ môi
trường, bảo tồn các loài động thực vật nhất là các loài quý hiếm v.v. Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO)Văn phòng
UNESCO Hà Nội, 2005 [18].
CIFOR (Centrer for Internationl Forestry Resarch) Trung tâm nghiên
cứu lâm nghiệp quốc tế thành lập năm 1993, trụ sở chính tại Bogor, Indonesia
với hoạt động chính là hướng tới một thế giới mà ở đó rừng được trú trọng
trong các định hướng chính sách, và con người nhận thức được giá trị thực sự
của rừng trong việc bảo đảm sinh kế và các dịch vụ từ rừng.
Ở một số nước đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm đưa mối quan hệ
giữa con người lên một mức độ khác. Qua đó con người có những tác động
tích cực vào rừng đem lại hiệu quả về mặt quản lí, rừng không bị suy giảm,
con người được hưởng lợi nhiều từ rừng. Trong các chương trình các nước
quy định quyền sử dụng đất của người dân. Tại Ấn Độ, nhà nước chỉ giao đất
không có rừng cho các cộng đồng địa phương, đất Lâm nghiệp do nhà nước
gồm các lá bào tử xếp xoắn ốc hoặc xếp vòng trên một trục ngắn có dạng nón.
Thụ phấn nhờ gió, ít khi nhờ côn trùng. Lá noãn mở không bao hạt, mang một
đến nhiều lá noãn ở nách hoặc mép. Hạt có phôi thẳng, mang một đến nhiều
lá mầm. Gỗ tương đối mềm, chỉ có quản bào chưa có mạch gỗ và sợi gỗ.
Trong 60 năm trở lại đây có chỉ có 4 chi được phát hiện mới cho khoa
học thuộc về lớp Thông là: Metasequoia Hu & C. Cheng được phát hiện từ
miền Trung của Trung Quốc vào năm 1948; Cathaya Chun & Kuang cũng
được phát hiện từ miền Trung của Trung Quốc vào năm 1958; Wollemia
W.G. Jones et al. Được phát hiện từ vườn Quốc gia Wollemi tại Úc vào năm
1995 (Farjon A). Và Xanthocyparis Farjon & Hiep là chi thứ tư được tìm thấy
ở khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang của
Việt Nam và được chính thức công bố vào năm 2002.
10
Trong năm 1999 - 2011, nhiều đợt nghiên cứu của dự án Bảo tồn thực
vật Việt Nam thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và Vườn Thực vật
Mit-xu-ri, Hoa Kỳ kết hợp với chuyên gia thực vật Liên bang Nga đã tổ chức
nhiều đợt nghiên cứu tại các khu bảo tồn thiên nhiên, trong quá trình nghiên
cứu, các nhà thực vật Việt Nam và nước ngoài đã công bố nhiều loài lớp
Thông, Lan và thực vật có hoa cho khoa học và cho hệ thực vật Việt Nam.
Họ Thông tre tên khoa học là Dopocarpaceae là một họ của thực vật hạt
trần. Họ này ở Việt Nam xuất hiện nhiều loài Kim giao (thuộc chi nageia) nên
trong văn bản người ta thường gọi là họ Kim giao, họ này có khoảng 18-19
chi với 170-200 loài. Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nam
bán cầu. Chi podocarpus phát tích từ các vùng thuộc lục địa cổ Gondwana,
người ta tìm thấy hóa thạch của các loài thực vật thuộc chi podocarpus có
niên đại từ 45-105 triệu năm trước ở nhiều vùng của Châu Phi, Nam Mỹ, Ân
Độ, Úc, New Guinea, New Caledonia, New Zealand. Chi này có 2 loài chi
podocarpus và Foliolatus.
Phân loại
Chi này có 2 phân chi là Podocarpus và Foliolatus
Phân chi Podocarpus. Thường thấy ở các khu rừng thuộc Tasmania, New
Zealand, nam Chile, một vài loài (nhưng hiếm thấy) ở vùng cao nguyên nhiệt
đới châu Phi và châu Mỹ.
Phân chi Foliolatus. Thường thấy phân bố tự nhiên ở châu Á và châu Úc.
Loài: Phân chi Podocarpus
- Đoạn Podocarpus (đông và nam châu Phi)
+ Podocarpus elongatus
- Đoạn Scytopodium (Madagascar, Đông Phi)
+ Podocarpus capuronii
- Đoạn Australis (đông nam Australia, New Zealand, New Caledonia,
nam Chile)
+ Podocarpus acutifolius
12
- Đoạn Crassiformis (đông bắc Queensland)
+ Podocarpus smithii
- Đoạn Capitulatis (trung Chile, nam Brasil, dãy núi Andes từ bắc
Argentina tới Ecuador)
+ Podocarpus glomeratus
- Đoạn Pratensis (đông nam Mexico tới Guyana và Peru)
+ Podocarpus oleifolius
- Đoạn Lanceolatis (nam Mexico, Puerto Rico, Tiểu
Antille, Venezuela tới vùng cao nguyên Bolivia)
+ Podocarpus coriaceus
- Đoạn Pumilis (miền nam quần đảo Caribe và cao nguyên Guyana)
+ Podocarpus angustifolius
- Đoạn Nemoralis (trung và bắc Nam Mỹ, về phía nam tới Bolivia)
một trong top 10 quốc gia châu Á có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú.
Việt Nam được thế giới công nhận là 1/16 quốc gia trên thế giới có tính đa
dạng sinh học cao, trong đó có hệ động thực vật hoang dã điển hình của rừng
nhiệt đới. Trên thực tế, việc bảo tồn, bảo vệ rừng đặc dụng là đóng góp tích
cực của Việt Nam đối với việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trên
toàn cầu, nhưng đang bị chính con người tàn phá và hủy diệt. Để đạt được
những thành quả đó Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách, bộ luật,
chương trình dự án nhằm quản lý bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng.
Các nghiên cứu về bảo tồn
Cụ thể là luật quản lý bảo vệ và phát triển rừng năm 1994, tháng 7/1993
luật đất đai ra đời quy định cụ thể các điều khoản chính sách về đất đai.
Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên được soạn thảo và chính thức công bố,
trong thời gian từ 1992 đến 1996 và năm 2007, đã thực sự phát huy tác dụng,
được sử dụng có hiệu quả trong các hoạt động nghiên cứu giảng dạy, quản lý,
bảo vệ nguồn tài nguyên động thực vật ở nước ta, đáp ứng yêu cầu phát triển
14
khoa học công nghệ, bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật, môi
trường thiên nhiên nước ta trong giai đoạn vừa qua.
Việt Nam đã có những cam kết và hành động cụ thể để quản lý, bảo tồn và
phát triển nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã. Điều này được thể hiện
bằng một loạt các văn bản, chính sách đã ra đời. Ba mốc quan trọng nhất trong
lĩnh vực bảo tồn của Việt Nam là sự ra đời của Nghị định 18/HĐBT (1992),
Nghị định 48/2002/NĐ-CP (2002) và Nghị Định 32-CP (2006). Nghị định
32/2006 CP được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006
nhằm quy định các loài động thực vật nguy cấp quý hiếm cần được bảo vệ. Theo
Nghị định này, các loài thực vật được chia thành 2 nhóm: Nhóm Ia là nhóm
thuộc diện nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, nhóm IIa là
nhóm bị hạn chế khai thác sử dụng. Nhóm Ia có 15 loài và tất cả các loài trong
dài hạn. Tác động tức thời như chăn thả quá mức có thể làm mất nguồn thức
ăn cho động vật hoang dã. Tác động lâu dài làm mất đi sự tái sinh tự nhiên
của các loài cây thân gỗ và lau sậy chiếm ưu thế. Cũng như đối với các dạng
điều tra khác, điều quan trọng là chúng ta phải hiểu sâu sắc các mục tiêu đánh
giá tác động của con người và vật nuôi lên các sinh cảnh. Chỉ khi đó ta mới
thu thập thông tin một cách chính xác và kịp thời để lên kế hoạch quản lý.
Một chiến lược quản lý KBT hoàn chỉnh bao gồm việc giám sát mức độ "quấy
nhiễu sinh cảnh" do tác động của con người để dự báo được mức độ tác động
trong tương lai và thực thi các biện pháp chống lại [5].
Đứng trước thực trạng trên Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu đối
với công tác quản lí bảo vệ rừng là: Rừng phải có chủ, hạn chế tình trạng phá
rừng, đốt nương làm rẫy, đưa người dân tham gia vào công tác bảo vệ nguồn
tài nguyên rừng với trương trình phát triển kinh tế xã hội đất nước theo hướng
bền vững.
Nghiên cứu về sinh thái, phân loại
- Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng,
đây là cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên,
16
Ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm,
ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, Lê Mộng Chân (2000) [8] đã
nêu tóm tắt khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Sinh thái thực vật
nghiên cứu tác động qua lại giữa thực vật với ngoại cảnh. Mỗi loài cây sống
trên mặt đất đều trải qua quá trình thích ứng và tiến hoá lâu dài, ở hoàn cảnh
sống khác nhau các loài thực vật thích ứng và hình thành những đặc tính sinh
thái riêng, dần dần những đặc tính được di truyền và trở thành nhu cầu của
cây đối với hoàn cảnh.
Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm