nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sự đa dạng di truyền nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý giống gà hồ và gà mía của việt nam - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ THỊ HƢƠNG GIANG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HƢƠNG GIANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SỰ ĐA DẠNG
DI TRUYỀN NHẰM PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG
HỢP LÝ GIỐNG GÀ HỒ VÀ GÀ MÍA CỦA VIỆT NAM Chuyên ngành: Chăn nuôi động vật


Vũ Thị Hƣơng Giang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ii
LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Sau Đại học và
thầy, cô hướng dẫn, tôi đã hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy cô trong
khoa Sau Đại học trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã quan tâm giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Mạnh Hà
và cô giáo PGS.TS Lê Thị Thúy đã chỉ bảo, giúp đỡ tận tình tôi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Văn phòng dự án GEF, cùng các thành viên của
Phòng Khoa học – Quan hệ và hợp tác quốc tế của Viên Chăn nuôi Quốc gia. Cán bộ

1.1.2. Đặc điểm của các giống gà nghiên cứu 4
1.2. Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2.1. Bản chất di truyền của tính trạng 4
1.2.2. Đặc điểm ngoại hình 5
1.2.3. Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng 5
1.2.3.1. Khái niệm sinh trưởng 5
1.2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của gà 7
1.2.4. Đánh giá tốc độ sinh trưởng 14
1.2.5. Tiêu tốn thức ăn ở gia cầm 15
1.2.6. DNA ty thể trong phân loại phân tử 16
1.2.6.1. Nguồn gốc và tiến hoá của ty thể 16
1.2.6.2. Đặc điểm mtDNA gà 16
1.2.6.3. Gen cytochrome b 18
1.2.6.4. Đoạn trình tự D-loop và khả năng sử dụng nó trong phân loại, đánh giá đa
dạng di truyền gà 18
1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
iv
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 19
1.3.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 21
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 24
2.2.1. Nội dung nghiên cứu 24
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu 24
2.3. Các chỉ tiêu theo dõi 26

3.2.1.2. Màu sắc lông gà Mía 37
3.2.2. Kích thước các chiều đo cơ thể của gà Hồ và gà Mía 38
3.2.2.1. Kích thước các chiều đo cơ thể của gà Hồ 38
3.2.2.2. Kích thước các chiều đo cơ thể của gà Mía 39
3.3. Tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trƣởng 40
3.3.1. Tỷ lệ nuôi sống 40
3.3.1.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà Hồ 40
3.3.1.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà Mía 41
3.3.2. Khả năng sinh trưởng 41
3.3.2.1. Sinh trưởng tích luỹ 41
3.3.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà Hồ và gà Mía 46
3.4. Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn 52
3.4.1. Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn của gà Hồ 52
3.4.2. Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn của gà Mía 54
3.5. Phân tích DNA trên ty thể gà 55
3.5.1.Tách chiết và tinh sạch DNA tổng số từ máu gà 55
3.5.2. Xác định trình tự gen mã hóa cytochrome b ở các mẫu gà 56
3.5.2.1. Nhân vùng trình tự gen mã hóa cytochrome b ty thể ở gà 56
3.5.2.2. Xác định đa hình gen mã hoá cytochrome b bằng enzyme giới hạn 57
3.5.2.3. Phân tích trình tự gen mã cytochrome b ty thể ở các mẫu gà 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

:Mitochondrial DNA – DNA ty thể
NADH
:Nicotinamide adenine dinucleotide
Nxb
:Nhà xuất bản
PCR
:Polymerase Chain Reaction
(Kỹ thuật nhân các đoạn gen ngoài cơ thể)
rpm
:Vòng/phút
T
:Timin
TAE
:Tris - Acetate - EDTA
Taq polymerase
:DNA-polymerase chịu nhiệt

:Thức ăn
Tm
:Melting Temperature (Nhiệt độ nóng chảy)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Số lượng gà Hồ nuôi tại huyện Thuận Thành - Bắc Ninh 32
Bảng 3.2. Số lượng gà Mía nuôi tại Sơn Tây - Hà Nội 33
Bảng 3.3. Tình hình chăn nuôi gà Hồ trong nông hộ 34

Hình 3.8: Ảnh điện di sản phẩm PCR trên gel agarose 0,8 % 57
Hình 3.9: Ảnh điện di sản phẩm cắt bằng HincII trên gel agarose 1,5% 57
Hình 3.10: Ảnh điện di sản phẩm cắt bằng HhaI trên gel agarose 1,5% 58
Hình 3.11: Ảnh điện di sản phẩm cắt bằng NcoI trên gel agarose 1,5% 59
Hình 3.12: Ảnh điện di sản phẩm cắt bằng SaII trên gel agarose 1,5% 59
Hình 3.13: Trình tự gen Cyt b của hai mẫu gà nghiên cứu 61 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1

MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, chúng ta đang đứng trước tình trạng báo động về môi trường, hệ
sinh thái bị phá vỡ và hiện tượng thoái hóa nhanh chóng các giống vật nuôi. Theo
báo cáo của FAO, khoảng 37% tất cả các giống gia cầm của Asian (chiếm 18% toàn
cầu) đang ở tình trạng nguy hiểm. Con số trên là tiếng chuông cảnh báo về sự mất
mát đa dạng di truyền các giống gia cầm. Một trong những nguyên nhân bị mất
nguồn gen gia cầm bản địa quý giá là do thiếu các thông tin về đặc điểm và các tính
năng sản xuất, thiếu chương trình cải tạo giống hợp lý.
Các giống gà nội Việt Nam được gọi với nhiều tên gọi khác nhau căn cứ vào sự
phân bố địa lý và đặc điểm ngoại hình. Trong quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo,
thực chất các giống đã bị lai tạp, thoái hoá và được vận chuyển đi khắp cả nước.
Các giống gà nội tuy năng suất thấp nhưng mang các gen quý, đặc thù về tính
thích nghi với điều kiện sinh thái khắc nghiệt, sức chống chịu bệnh tật, chất lượng thịt,
trứng thơm ngon đang bị xói mòn và mất dần.

của kinh tế - xã hội Việt Nam, các đặc điểm nguyên gốc của hai giống gà có còn
được bảo tồn không? Hai giống gà trên có chịu ảnh hưởng xấu và bị thoái hóa, làm
mất dần phẩm chất giống hay không?
Do đó, trong xu thế bảo vệ và khai thác sự phong phú các giống vật nuôi quý
hiếm hiện nay thì việc nghiên cứu, bảo tồn, phát triển và sử dụng hợp lý các giống
địa phương là vấn đề cần thiết. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh
học, sự đa dạng di truyền nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý
giống gà Hồ và gà Mía của Việt Nam” sẽ giúp cho việc đánh giá lại các đặc điểm
sinh học, xác định sự đa hình gen của hai giống: gà Hồ và gà Mía, nhằm mục đích
chọn tạo những giống gà tốt, phục vụ công tác lai tạo, nhân giống và phục vụ công
tác tìm kiếm, bảo tồn nguồn gen quý hiếm.
1.2. Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá lại hiện trạng 2 giống gà trên thông qua nghiên cứu các đặc điểm sinh
học và tính năng sản xuất trong hệ thống chăn nuôi gia cầm mang tính truyền thống.
- Đánh giá sơ bộ sự khác biệt di truyền của hai giống gà thông qua việc nghiên
cứu sự đa hình gen cytochrome b.
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đánh giá sự đa hình gen của hai giống: gà Hồ và gà Mía, từ đó góp phần đánh
giá sơ bộ sự khác biệt di truyền giữa hai giống gà, tạo điều kiện cho những nghiên cứu
sâu hơn về phân loại phân tử, quan hệ chủng loại và đa dạng sinh học.
- Các số liệu thu được phục vụ cho công tác giống sau này, giúp cho việc khai
thác và sử dụng hợp lý nguồn gen các giống gà nội trên, góp phần bảo tồn nguồn gen
quý của Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

Ở Việt Nam, gà rừng được thuần hoá và nuôi sớm nhất ở vùng Vĩnh Phú, Hà
Bắc, Hà Tây … Từ giống gà nuôi ban đầu là tiền thân của giống gà Ri hiện nay, nhân
dân ta đã tạo được nhiều giống gà: gà Mía, gà Ác, gà Ri, gà Tre, gà Đông Tảo …
Theo Nguyễn Ân (1983) [3] và nhiều tác giả, trong hệ thống phân loại sinh giới,
gà nhà có vị trí phân loại như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
Giới Động vật (Animal)
Ngành Động vật có xương sống (Chordata)
Lớp Chim (Aves)
Bộ Gà (Galliformes)
Họ Trĩ (Phasianidae)
Giống Gallus
Loài Gallus gallus
Phân loài Gallus gallus domesticus
1.1.2. Đặc điểm của các giống gà nghiên cứu
* Giống gà Hồ: Là giống gà có nguồn gốc từ vùng Hồ, nay là làng Lạc Thổ, thị
trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Chính nơi đây gà Hồ đã được tạo ra, tồn
tại và phát triển qua nhiều thế kỷ. Sự hình thành và phát triển của gà Hồ gắn liền với
tập quán cổ truyền, với nền văn hiến vùng quê Kinh Bắc cổ kính
* Giống gà Mía: Là giống gà truyền thống được nuôi giữ nhiều đời ở xã
Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội. Gà Mía là giống gà thịt nổi tiếng từ xưa đến nay, là
một trong các giống gà nội địa ở nước ta có khối lượng cơ thể thuộc loại hình to, nó
phù hợp với tập quán nuôi gà to để cúng tế và có thể nói nuôi chăn thả tốt trong nông
hộ. Sức kháng bệnh tốt cũng là một tính trạng quý của gà Mía nên được nhân dân địa
phương thích nuôi.
1.2. Cơ sở khoa học của đề tài
1.2.1. Bản chất di truyền của tính trạng

nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Khi mới nở, gia cầm có lông tơ che phủ, trong
quá trình phát triển lông tơ dần dần được thay thế bằng lông khác. Màu lông do một số
gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào. Lông gia cầm có
màu sắc khác nhau là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố Melanin trong các tế bào
lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm Lipocrom thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc đỏ,
nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng.
Thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, nếu gà có màu lông loang thì
đã bị pha tạp, vì vậy màu sắc lông là chỉ tiêu chọn lọc giống.
Chân: Gia cầm có 4 ngón, cổ và bàn. Ngón chân thường có vẩy sừng bao kín,
cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có vuốt và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh
sinh sản và đấu tranh sinh tồn của loài.
Mào: Là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái. Mào gà rất
đa dạng cả về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Theo
hình dạng mào người ta phân biệt các loại: Mào cờ (mào đơn), mào hạt đậu, mào hoa
hồng, mào nụ.
1.2.3. Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
1.2.3.1. Khái niệm sinh trưởng
Trần Đình Miên và cs (1975) [25] đã cho rằng: Đứng về phương diện sinh học
thì sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
Theo Lee và Gatner (1898): Sự sinh trưởng, trước hết là kết quả của sự phân
chia tế bào, tăng thể tích, tăng các chất ở mô tế bào để tạo nên sự sống, trong đó
tăng số lượng và tăng thể tích tế bào là quan trọng nhất (trích theo Trần Đình Miên
và cs 1992) [24]
Mozan (1977) (trích theo Chamber, J. R, 1990) [47] đã định nghĩa: “Sinh trưởng
là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này
không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh

7
dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô cơ và một phần rất ít tạo nên mỡ. Đến giai
đoạn cuối của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng vẫn tiếp tục sử dụng nhiều để cấu tạo
hệ thống xương, cơ, nhưng lúc này hai hệ thống này đã giảm bớt tốc độ phát triển. Càng
ngày con vật càng già và chất dinh dưỡng chuyển sang tích lũy mỡ. Trong cơ thể gia
cầm, khối lượng cơ chiếm tỷ lệ nhiều nhất, ở gà từ 42 - 45 %, vịt từ 40 - 43 %, ngỗng từ
48 - 50 %, gà tây 52 - 54 % (Ngô Giản Luyện, 1994) [20]
Sự sinh trưởng ở động vật tuân theo những quy luật nhất định. Theo Trần Đình
Miên và cs (1992) [24] thì Midedorpho (1987) là người đầu tiên đã phát hiện ra quy
luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc. Ông cho rằng ở gia súc non phát triển
mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó phần tăng khối lượng giảm dần theo tuổi. Theo
Kislowsky D. A. (1930) trong tài liệu của Nguyễn Ân (1984) [1] đã khẳng định: Thời
gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh
trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau. Sự sinh trưởng không đều còn thể
hiện ở từng bộ phận cơ quan (mô, xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển
nhanh, nhưng ở thời kỳ khác lại phát triển chậm.
1.2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của gà
a, Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền, dòng, giống và tính biệt
Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tốc độ sinh
trưởng của cơ thể gia cầm. Theo Chambers J. R (1990) [47] có nhiều gen ảnh hưởng đến
sinh trưởng và phát triển của cơ thể, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có gen
ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng và có
gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng.
Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [3] các tính trạng năng suất (trong đó có tốc độ
sinh trưởng) là các tính trạng số lượng hay còn gọi là tính trạng đo lường được như khối
lượng cơ thể, kích thước, chiều đo. Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) [33] cho
biết: Các tính trạng số lượng chi phối bởi nhiều gen còn gọi là đa gen (polygen).
Các gen này hoạt động theo 3 phương thức đó là sự cộng gộp, trội - lặn và tương
tác giữa các gen
G = A + D + I

về hệ số di truyền:
- Các tính trạng có hệ số di truyền thấp (từ 0 - 0,2): thường bao gồm các tính
trạng thuộc về sức sinh sản như tỷ lệ đẻ, tỷ lệ nuôi sống, số con đẻ ra trên lứa, sản
lượng trứng…
- Các tính trạng có hệ số di truyền trung bình (0,2 - 0,4): thường bao gồm
các tính trạng về tốc độ sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng…
- Các tính trạng có hệ số di truyền cao (từ 0,4 trở lên): thường bao gồm các tính
trạng thuộc về phẩm chất sản phẩm như khối lượng trứng, tỷ lệ mỡ sữa, tỷ lệ nạc trong
thân thịt.
Sự tồn tại của các gen hoặc nhóm gen trong các dòng và giống gia cầm rất khác
nhau. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã chứng minh rất rõ vấn
đề này. Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [6] khi nghiên cứu so sánh chỉ tiêu năng suất
của gà thương phẩm thịt 4 giống gà AA, Lohmann, ISA Vedete và A vian nuôi trong
cùng một điều kiện đã cho thấy, chỉ số sản xuất (PN) của gà broiler tại 49 ngày tuổi ở
4 giống gà là khác nhau: Gà broiler AA là 187,97; gà Lohmann 215,33; gà ISA
Vedette là 211,83; gà Avian là 204,95. Như vậy, gà broiler Lohmann và ISA Vedette Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
là cao nhất và thấp nhất là gà AA. Với gà lông màu, các công trình của Trần Công
Xuân và cs (1997) [44] khi nghiên cứu hai dòng gà Tam Hoàng 882 và Jang Cun vàng
đều cho kết luận rất rõ là các giống khác nhau và thậm chí trong cùng một giống thì
các dòng khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau.
Tài liệu của Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [10] cũng cho biết sự khác nhau
về khối lượng giữa các giống gia cầm là rất lớn. Các giống gà kiêm dụng nặng hơn gà
hướng trứng khoảng 500 đến 700 gam (từ 15 - 30 %).
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể còn ảnh hưởng bởi
tính biệt, gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái. Những sai khác này được
biểu hiện về mặt cường độ sinh trưởng, được quy định không phải do hoocmon sinh

10
* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng
Chế độ dinh dưỡng là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến
toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng phát triển của vật nuôi nói chung và của gia cầm nói
riêng. Đặc biệt đối với gia cầm non, do không được bú mẹ như ở động vật có vú nên
thức ăn của chúng ở giai đoạn đầu có tác dụng quyết định đến khả năng sinh trưởng và
khối lượng cơ thể của chúng sau này. Theo Trần Đình Miên và cs (1975) [25] thì việc
nuôi dưỡng mà chủ yếu là thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sinh trưởng của gia
súc, gia cầm. Theo Bùi Đức Lũng (1992) [17] để phát huy khả năng sinh trưởng cần
phải cung cấp thức ăn tốt được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein với các axit amin
và năng lượng. Ngoài ra trong thức ăn cần được bổ sung các chế phẩm hóa sinh học
không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh trưởng và làm tăng chất
lượng thịt.
Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả như Nguyễn Thị Mai (1994) [22],
Trần Công Xuân và cs (1999) [45], đều khẳng định ảnh hưởng rất lớn của thức ăn và
dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm.
Theo Lê Hồng Mận và cs (1993) [23] đã xác định được nhu cầu về Protein
thích hợp nuôi gà Broiler cho năng xuất cao, ngoài ra vấn đề tỷ lệ năng lượng và
Protein trong khẩu phần thức ăn cũng rất quan trọng, cần được quan tâm
Theo Ioxida (1978) cho biết khả năng sinh trưởng của gà dò sẽ đạt ở mức cao nhất
khi tỷ lệ protein với các chất dinh dưỡng là 1:3,8 (trích theo Neumesiter H., 1978) [27]
Ở gà Broiler, năng lượng của thức ăn một phần để duy trì, một phần để tăng khối
lượng. Cá thể có tốc độ tăng trưởng nhanh thì sẽ cần ít năng lượng để duy trì hơn, tiêu tốn
thức ăn ít hơn. Tăng khối lượng nhanh do cơ thể đồng hóa tốt, trao đổi chất được tăng cường
làm cho việc sử dụng thức ăn có hiệu quả tốt hơn. Theo Chambers J. R và cs (1984) [48] thì
mối tương quan giữa khối lượng của gà Broiler và lượng thức ăn tiêu tốn từ 0,5 - 0,9.
Gà có tốc độ tăng trọng cao thì yêu cầu thức ăn có tỷ lệ Protein cao hơn, hiệu quả sử
dụng thức ăn tốt hơn (Praudman J. A và cs, 1970) [62]; (Pym R. A. E và cs, 1978) [63].
Dinh dưỡng không chỉ cần thiết cho quá trình sinh trưởng mà còn cần thiết để thể hiện
khả năng di truyền của sinh trưởng.

dục của chúng.
Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ là những tác động của nó liên quan đến việc tiêu
thụ thức ăn, ngoài ra còn làm tăng hoạt động sinh lý của hệ tuần hoàn, hô hấp gây
stress mạnh. Nhiệt độ thích hợp nhất cho gà là 15
0
C đến 25
0
C. Những thay đổi nhiệt
trên và dưới ngưỡng này đều có thể gây stress và ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng,
phát triển của gà.
Theo Bùi Đức Lũng và cs (1993) [18], tiêu chuẩn nhiệt độ trong khi nuôi gà
thay đổi theo lứa tuổi của chúng với khung nhiệt độ thích hợp như sau:
Tuổi
Nhiệt độ trong chuồng nuôi (
0
C)
1 - 3 ngày tuổi
33 - 32
4 - 7 ngày tuổi
31 - 30
Tuần thứ 2
29 - 27
Tuần thứ 3
27 - 26
Tuần thứ 4
25 - 23
Tuần thứ 5
22 - 21
Tuần thứ 6 - 8
20 - 18

giai đoạn phôi thai. Phisinhin (1985) (Trích từ Đào Văn Khanh, 2002) [11] xác nhận, gà
con nở vào mùa xuân, thường sinh trưởng kém trong 15 ngày đầu, sau đó tốc độ sinh
trưởng kéo dài đến 3 tháng tuổi. Smetner (1975) (Trích từ Đào Văn Khanh, 2002) [11]
đã chứng minh rằng: Gà con nở vào mùa xuân và mùa hè, thời gian đầu sinh trưởng
kém, ngược lại nở vào mùa thu thì gà sinh trưởng tốt ngay trong những ngày tuổi đầu.
Như vậy trong điều kiện khí hậu tối ưu, ẩm độ thấp, thời tiết mát mẻ sẽ ảnh hưởng tốt
đến sinh trưởng của gia cầm.
Ngoài ra, gia cầm cũng rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà
con và giai đoạn gà đẻ. Thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho gà ăn, uống, vận động, ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng. Theo
Bùi Đức Lũng và cs (1993) [18] gà Broiler cần được chiếu sáng 23 giờ/ngày khi
nuôi trong nhà kín.
* Ảnh hưởng của kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng
Chăn nuôi gia cầm là ngành đang phát triển mạnh ở nước ta, song chăn nuôi nói
chung và chăn nuôi gà nói riêng là vấn đề nan giải đối với những nước có khí hậu
không thuận hòa. Khí hậu nước ta thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trong quá
trình chăn nuôi, khí hậu đã có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi như nhiệt độ, độ
ẩm không khí, ánh sáng cho nên ở nước ta, nhất là ở miền Bắc phải có những biện
pháp bảo vệ chuồng nuôi chu đáo. Những biện pháp như che gió, thông thoáng, sưởi
ấm nhằm tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi tối ưu, cũng như nuôi ở mật độ hợp lý, vận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
dụng một cách linh hoạt tùy thuộc vào sự biến động của thời tiết là một việc làm cần
thiết để triệt tiêu hoặc làm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của môi
trường, sẽ giúp chăn nuôi đạt kết quả cao.
Thành phần của tiểu khí hậu chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Hướng
chuồng, trang thiết bị kỹ thuật, quy trình kỹ thuật chăn nuôi và đặc biệt là mật độ
chuồng nuôi. Khi tiểu khí hậu chuồng nuôi không đảm bảo sẽ làm giảm sự thu nhận

C.
Mật độ nuôi cũng là một vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng tới hiệu quả và năng suất
chăn nuôi gia cầm. Nuôi mật độ thưa lãng phí lao động, lãng phí chuồng trại và hiệu
quả sản xuất thấp. Nuôi ở mật độ cao không hợp lý ảnh hưởng tới tiểu khí hậu chuồng
nuôi. Ảnh hưởng của mật độ nuôi gồm nhiều yếu tố:
- Mật độ nuôi ảnh hưởng tới hàm lượng khí độc sinh ra trong chuồng nuôi. Khí độc
trong chuồng sinh ra từ quá trình phân hủy phân, nước tiểu, nước thải, thức ăn thừa tạo
thành các khí NH
3
, CO
2
, H
2
S, CH
4
, Khí NH
3
khi đi vào cơ thể, làm cho hàm lượng kiềm
dự trữ trong máu tăng, gia cầm rơi vào trạng thái trúng độc kiềm (Đỗ Ngọc Hòe, 1995) [9]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
Khi hàm lượng NH
3
trong chuồng ở mức 25 ppm sẽ làm giảm lượng hemoglobin trong
máu, giảm sự trao đổi khí, giảm hấp thu dinh dưỡng và làm giảm tăng trọng của gà tới 4%
(theo Coldhaft, 1971) (trích theo Đỗ Ngọc Hòe, 1995) [9]. Cùng với NH
3
, khí H

hoặc ít hơn là cần thiết để cơ thể tỏa nhiệt thuận lợi.
1.2.4. Đánh giá tốc độ sinh trưởng
- Sinh trưởng tích lũy: Là sự tăng khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo
trong một đơn vị thời gian nhất định. Khối lượng cơ thể ở tại một thời điểm nào đó là
chỉ tiêu được sử dụng quen thuộc nhất để chỉ khả năng sinh trưởng. Xác định được
khối lượng cơ thể sau các khoảng thời gian nhất định, ví dụ như 1 tuần tuổi, 2 tuần
tuổi sẽ cho ta những số liệu về sinh trưởng tích lũy. Đối với gà thịt, sinh trưởng tích
lũy là chỉ số năng suất quan trọng nhất làm căn cứ để so sánh các cá thể, các dòng hoặc
giống khác nhau.
Đối với gà đẻ trứng, sinh trưởng tích lũy (đặc biệt giai đoạn hậu bị) liên quan
chặt chẽ đến khả năng sinh sản của gà ở giai đoạn đẻ trứng. Nếu khối lượng cơ thể nhỏ
thì khả năng sinh sản thấp, nếu khối lượng cơ thể lớn thì tiêu tốn thức ăn tăng. Như
vậy, khối lượng cơ thể gà mái đẻ trứng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế.
Trần Long (1994) [16] đã nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các dòng gà
V
1
, V
3
, V
5
thuộc giống gà Hybro, đường cong sinh trưởng của 3 dòng gà có sự khác
nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái cũng có sự khác nhau. Tốc độ sinh
trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi đối với gà trống và 6 - 7 tuần tuổi đối với gà mái. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể
trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng
parabon.

2,94 - 2,9 kg. Theo Phùng Đức Tiến và cs (1999) [37] gà kiêm dụng trứng thịt Ai Cập
tiêu tốn 2,33 kg thức ăn/10 quả trứng trong 43 tuần.

Trích đoạn Đoạn trình tự D-loop và khả năng sử dụng nó trong phân loại, đánh giá đa Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nội dung nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status