Cơ quan Cảnh sát điều tra trong TTHS Việt Nam - Pdf 35

1!

PHẦN MỞ ĐẦU
1.! Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (NQ49/TW) đã
chỉ rõ quan điểm về việc xây dựng thủ tục rút gọn: “… Xây
dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có
đủ một số điều kiện nhất định”. Hiến pháp 2013 (HP 2013) quy
định rõ về việc áp dụng TTRG để giải quyết một số loại vụ án.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành
(BLTTDS), các tranh chấp dân sự (TCDS) nói chung, cũng như
các tranh chấp kinh doanh, thương mại (TCKDTM) nói riêng
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đều được giải quyết
bằng một trình tự thủ tục tố tụng thông thường, áp dụng chung
mà không phân biệt giá trị tranh chấp, tính phức tạp hoặc đơn
giản của tranh chấp, có sự thừa nhận nghĩa vụ của đương sự... là
không hợp lý và làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, môi trường kinh doanh và làm tăng chi
phí trong hoạt động kinh doanh.
Nhiều nước đã xây dựng thủ tục rút gọn (summary
procedure) hay còn gọi là thủ tục giản lược (simplified
procedure) để áp dụng xử lý những vi phạm pháp luật nhỏ, giải
quyết những tranh chấp, khiếu kiện có giá trị thấp, những vụ
việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng.
Do đó, đề tài: “Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”
thực sự là cần thiết và cấp thiết trong bối cảnh trên.
2.! Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1.!Mục đích nghiên cứu
Một là, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về TTRG trong TTDS; Hai

3.2.!Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm: Các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, BLTTDS và
các văn bản pháp luật của Việt Nam liên quan đến TTDS và
TTRG; Thực trạng giải quyết TCKDTM tại Tòa án; TTRG
trong TTDS của một số quốc gia trên thế giới; Các quy định về
TTRG và các quy định liên quan trong Dự thảo BLTTDSSĐ.
4.!Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ cung cấp những nội dung,
thông tin quan trọng, tin cậy và có giá trị về cơ sở lý luận và cơ
sở thực tiễn cho việc xây dựng TTRG trong TTDS tại Việt
Nam, trong đó có tham khảo kinh nghiệm nước ngoài. Ngoài ra,
Luận án có giá trị tham khảo, phục vụ cho công việc nghiên
cứu, giảng dạy và học tập.
5.! Kết cấu của Luận án
Ngoài Phần mở đầu, Tổng quan nghiên cứu, Những công
trình liên quan đến Luận án đã được công bố, Danh mục tài liệu
tham khảo, Luận án bao gồm các chương sau đây: Chương 1:
Cơ sở lý luận về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự; Chương 2:
Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng thủ tục rút gọn giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại; Chương 3: Kiến nghị về
xây dựng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại.


3!

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.! Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.!Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Các tài liệu nước ngoài có thể chia ra làm ba nhóm sau: (i)

Marketplace” (Giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng và
chế tài trong thị trường toàn cầu; và bài viết “Three American
Ventures in Summary Civil Procedure” (Ba mạo hiểm đối với
nước Mỹ trong thủ tục tố tụng dân sự giản lược).


4!

Thứ ba, nhóm các tài liệu liên quan đến các tiêu chí xác định
một vụ án được giải quyết theo TTRG và trình tự, thủ tục, thời
hạn giải quyết tranh chấp theo TTRG, bao gồm hàng loạt các văn
bản pháp luật tố tụng của một số nước như: các Bộ luật tố tụng
dân sự của Pháp, Đức, Nhật v.v.
1.2.!Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các tài liệu về TTRG trong TTDS có thể được
phâ theo các nhóm vấn đề sau đây: (i) yêu cầu về tính hiệu quả
của việc giải quyết TCKDTM; (ii) nhu cầu và quan điểm về việc
xây dựng TTRG ở Việt Nam; (iii) xác định cơ sở lý luận và thực
tiễn để xây dựng TTRG trong TTDS tại Việt Nam; và (iv) giới
thiệu kinh nghiệm nước ngoài về TTRG, bao gồm tiêu chí xác
định vụ án được giải quyết theo TTRG, trình tự, thủ tục và thời
hạn giải quyết vụ án theo TTRG.
Thứ nhất, có một số ít tài liệu liên quan đến yêu cầu về tính
hiệu quả của việc giải quyết TCKDTM đều chung quan điểm
giải quyết TCKDTM phải đảm bảo tính hiệu quả, ngắn, gọn…
như sau: cuốn sách “Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp
kinh tế ở nước ta hiện nay”; đề tài nghiên cứu khoa học về “Thực
tiễn tranh chấp kinh tế với việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh”
do GS.TS.NGƯT. Mai Hồng Quỳ làm chủ nhiệm đề tài; cuốn
sách “Kinh tế luật” của TS. Lê Nết; và một số bài viết, kết quả

cứu khoa học cấp cơ sở: “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ
tục giải quyết vụ việc dân sự theo định hướng cải cách tư pháp”
do TS. Trần Anh Tuấn làm chủ nhiệm đề tài năm 2010; (ii) đề
tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở: “Giải quyết tranh chấp giữa
người tiêu dùng với tổ chức cá nhân kinh doanh bằng thủ tục rút
gọn trong tố tụng dân sự” do Thạc sỹ Đặng Thanh Hoa làm chủ
nhiệm đề tài năm 2013.
Thứ tư, nhóm tài liệu giới thiệu kinh nghiệm áp dụng TTRG
về tiêu chí xác định một vụ án có thể giải quyết theo TTRG,
trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết vụ án theo TTRG của một
số nước trên thế giới bằng tiếng Việt như sau cuốn sách
Japanese Law (Luật Nhật Bản); bài viết “Mô hình Tòa án đơn
giản ở Nhật Bản” của tác giả Ngô Cường; hai cuốn kỷ yếu: “Hội
thảo pháp luật về tố tụng dân sự ngày 9&10-11-2000” và “Hội
thảo pháp luật về tố tụng dân sự ngày 29&30-10-2001” của cùng
tác giả Jean-Marie Coulon.
1.3.!Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu
Nội dung sau đây của TTRG đã được các công trình khoa
học nghiên cứu: (i) nhu cầu, xu hướng áp dụng TTRG trong
việc giải quyết một số loại tranh chấp tại Tòa án; (i) mô tả kinh
nghiệm của một số nước về áp dụng TTRG giải quyết một số
loại tranh chấp tại Tòa án; (iii) các quan điểm và đề xuất xây
dựng TTRG ở Việt Nam.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây còn chưa đề
cập: (i) phân tích tương đối cặn kẽ tính hiệu quả của TTRG
trong mối tương quan với yêu cầu bảo đảm công lý và các
nguyên tắc tư pháp cơ bản; (ii) giới thiệu TTRG của nước ngoài
kết hợp có sự lý giải về bối cảnh, cơ sở, lý do của các quy định
về TTRG hoặc đưa ra quan sát, đánh giá, lý giải và đúc rút về
những điểm tương đồng của kinh nghiệm quốc tế đó; (iii) phân

3.!Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
3.1.!Giả thuyết nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu dựa trên giả thuyết: giải quyết
TCKDTM theo thủ tục tố tụng hiện nay tại Tòa án là dài, phức
tạp, không hiệu quả và chưa đáp ứng được yêu cầu cần phải được
giải quyết nhanh, gọn và dứt điểm.
3.2.!Câu hỏi nghiên cứu
Hai câu hỏi nghiên cứu trọng tâm là: (i) các tiêu chí cần thiết
để xác định một TCDS, bao gồm TCKDTM, được giải quyết
theo TTRG là gì?; (ii) TTRG bao gồm những đặc điểm nào?


7!

NỘI DUNG, KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC
RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm và tính hiệu quả của thủ tục rút gọn
1.1.1. Khái niệm thủ tục rút gọn
TTRG, thủ tục đơn giản hay thủ tục giản lược theo cách hiểu
của hai nước đại diện cho hai trường phái pháp luật phổ biến
trên thế giới, đều có nghĩa là một thủ tục tố tụng riêng biệt so
với thủ tục thông thường nhằm giải quyết một số loại vụ án
nhanh gọn hơn thủ tục thông thường nhưng vẫn bảo đảm công
lý.
Ở Việt Nam, TTRG là một khái niệm khá mới mẻ và được du
nhập từ bên ngoài. Tuy nhiên, một số nội dung của TTRG cũng
đã được thể hiện trong pháp luật của Việt Nam ngay từ trước
năm 1945 khi quy định về giải quyết một số loại vụ án có giá
ngạch thấp bởi Tòa án cấp sơ thẩm và không được phép kháng

đối với một số loại tranh chấp đơn giản hoặc có giá trị thấp.
1.1.2. Tính hiệu quả của thủ tục rút gọn
Xây dựng thủ tục tố tụng nói chung và thủ tục tố tụng đơn
giản, gọn nhẹ và nhanh chóng nói riêng, ngoài mục đích để bảo
đảm công lý còn phải được xem xét từ khía cạnh thời gian và
chi phí tố tụng.
Hiệu quả là một trong những mục tiêu cơ bản của kinh tế học.
Hiệu quả trong giải quyết tranh chấp là một trong những tiêu
điểm của kinh tế luật. Việc xây dựng TTRG trong TTDS giúp
tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng. Có một sự thừa nhận
chung rằng, nếu áp dụng một thủ tục tố tụng chung với tất cả
các TCDS nói chung và TCKDTM nói riêng mà không phân
biệt tính chất đơn giản, phức tạp, giá trị tranh chấp nhỏ hoặc
lớn, hay có hoặc không sự thừa nhận nghĩa vụ của các đương sự
sẽ gây lãng phí về thời gian và chi phí do quá trình giải quyết bị
kéo dài. Vì vậy, việc rút ngắn thời gian giải quyết các vụ án áp
dụng TTRG được xem là một đặc trưng quan trọng khi xây
dựng TTRG ở nhiều nước nhằm mục đích giúp cho đương sự,
Tòa án và xã hội tiết kiệm các chi phí phát sinh trong quá trình
giải quyết, hạn chế gián đoạn và tránh bỏ lỡ chi phí cơ hội trong
hoạt động kinh doanh của đương sự.
Như vậy, TTRG có ý nghĩa cơ bản là tiết kiệm thời gian và
chi phí tố tụng mà vẫn đảm bảo công lý và bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự.
1.2. Cơ sở pháp lý và định hướng xây dựng thủ tục rút gọn
1.2.1. Cơ sở pháp lý của việc xây dựng thủ tục rút gọn
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII về định hướng xây dựng TTRG và HP 2013 là
cơ sở chính trị và pháp lý của việc xây dựng TTRG.
1.2.2.!Định hướng xây dựng thủ tục rút gọn

các nguyên tắc hiến định nêu trên đối với việc giải quyết các vụ
án theo TTRG hay không để đề xuất sửa đổi Hiến pháp theo
hướng phù hợp làm cơ sở cho việc tiếp tục đơn giản và gọn nhẹ
TTRG. Đối với các nguyên tắc luật định sau đây, không nhất
thiết phải tuân thủ khi xây dựng TTRG: giám đốc việc xét xử,
quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, hòa giải trong
TTDS.
1.3.!Đặc điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
1.3.1. Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng đối với một số vụ án nhất định

Có sự tương đồng giữa các nước về các tiêu chí xác định một
vụ án được giải quyết theo TTRG khi có một trong các yếu tố
sau: (i) giá ngạch thấp; (ii) chứng cứ rõ ràng; hoặc (iii) đương
sự thừa nhận nghĩa vụ.
1.3.1.1. Tranh chấp có giá ngạch thấp
Theo Paul Ranjard, sau khi phân tích và so sánh TTRG của


10!

một số nước trên thế giới, nhận thấy giá ngạch của tranh chấp là
một căn cứ để Tòa án khi thụ lý quyết định tranh chấp đó được
giải quyết bởi Tòa án cấp thấp hơn theo thủ tục giản lược, ví dụ:
Ở Pháp những tranh chấp có giá trị nhỏ không vượt quá 4.000
Euro (EUR); Đức: dưới 6.000 EUR; Anh: 10.000 Bảng Anh
(GBP) trở xuống; Mỹ: từ 2.500 đô la Mỹ (USD) đến 25.000
USD: Nhật Bản: dưới 900.000 đồng yên Nhật (JPY); Thái Lan:
dưới 50.000 bạt Thái Lan (THB); Hàn Quốc: dưới 5.000.000
won Hàn Quốc (KRW) v.v.
Như vậy, kinh nghiệm nước ngoài cho thấy chỉ cần một tiêu


11!

quan điểm của phần lớn các nước cho rằng đây là quyền của
đương sự nhờ người khác bảo vệ quyền lợi của mình nên pháp
luật không can thiệp miễn là sự tham gia của họ không làm trì
hoãn hoặc cản trở đến việc áp dụng TTRG.
1.3.3. Rút gọn về trình tự và các bước tố tụng
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy,
TTRG giảm thiểu một hoặc một số trình tự, thủ tục và giai đoạn
tố tụng, phụ thuộc vào bản chất của tranh chấp được xét xử theo
TTRG. Cụ thể: (i) Đối với vụ án đương sự thừa nhận toàn bộ
nghĩa vụ, các trình tự thu thập chứng cứ, lấy lời khai, hòa giải là
không cần thiết và có thể được bỏ qua; (ii) Đối với vụ án đơn
giản, giá ngạch thấp và chứng cứ rõ ràng, các trình tự lấy lời
khai, hòa giải, thu thập, xác minh chứng cứ là không cần thiết
và có thể được bỏ qua toàn bộ hoặc một phần; (iii) Đối với vụ
án giá ngạch thấp, nhưng phức tạp hoặc chứng cứ chưa rõ ràng,
có mâu thuẫn... việc lấy lời khai, thu thập hoặc xác minh chứng
cứ là cần thiết và không được bỏ qua; (iv) Đối với vụ án mặc dù
giá ngạch lớn nhưng đơn giản và chứng cứ rõ ràng, các trình tự
lấy lời khai, hòa giải, thu thập xác minh chứng cứ là không cần
thiết và cũng có thể được bỏ qua.
1.3.4. Rút gọn về cấp xét xử
Đối với các phán quyết giải quyết theo TTRG ở nhiều quốc
gia, pháp luật tố tụng không cho phép kháng cáo hoặc cho phép
kháng cáo phúc thẩm nhưng nội dung kháng cáo bị hạn chế ở
việc chỉ cho phép kháng cáo về áp dụng pháp luật.
1.3.5. Rút gọn về thời gian giải quyết tranh chấp
Pháp luật TTDS của nhiều nước trên thế giới khi quy định về

xây dựng TTRG ở Việt Nam phải tuân thủ hai nguyên tắc hiến
định: xét xử công khai, bảo đảm tranh tụng và bảo đảm chế độ
hai cấp xét xử.
Thứ tư, về tiêu chí xác định một vụ án giải quyết theo TTRG:
nhiều nước trên thế giới quy định một vụ án có thể được giải
quyết theo thủ tục đơn giản hoặc rút gọn khi có một trong các
yếu tố: giá ngạch thấp, đơn giản và chứng cứ rõ ràng hoặc
đương sự thừa nhận nghĩa vụ.
Thứ năm, TTRG ngoài đặc điểm chỉ áp dụng đối với một số
vụ án đáp ứng tiêu chí nhất định, TTRG có những đặc điểm sau:
rút gọn thành phần giải quyết vụ án; rút gọn trình tự, thủ tục
hoặc giai đoạn tố tụng; và rút gọn thời hạn giải quyết tranh
chấp.
Thứ sáu, về TTRG đối với các TCKDTM: các nước không có
TTRG riêng áp dụng đối với việc giải quyết các TCKDTM.
Từ các kết luận trên đây, trong Chương 2 tiếp theo, tác giả sẽ
đánh giá các quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng các quy
định đó trong quá trình giải quyết TCKDTM và đánh giá việc
giải quyết TCKDTM tại Tòa án Việt Nam thông qua các vụ án
cụ thể làm cơ sở để tác giả đưa ra các đề xuất xây dựng TTRG
tại Việt Nam trong Chương 3 của Luận án.


13!

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG
THỦ TỤC RÚT GỌN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM
2.1. Xây dựng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại từ thực trạng pháp luật tố tụng dân sự

nhận nghĩa vụ, hoặc đương sự cố tình không thực hiện nghĩa vụ
v.v. chỉ mang tính hình thức.
Về thời hạn chuẩn bị xét xử, Điều 179 BLTTDS quy định


14!

thời hạn chung là chưa hợp lý bởi lẽ rất nhiều trường hợp thời
hạn chuẩn bị xét xử bốn tháng (đã gia hạn tối đa) không đủ để
giải quyết với các TCKDTM phức tạp, cần thu thập, nghiên cứu,
đánh giá chứng cứ và phân tích các vấn đề pháp lý có liên quan,
tiến hành hòa giải v.v. Trong khi đó, những vụ án về TCKDTM
đơn giản, giá ngạch thấp, bị đơn đã thừa nhận nghĩa vụ của
mình, chứng cứ rõ ràng không cần phải tiến hành khá nhiều
trong số các hoạt động tố tụng và như vậy thời hạn chuẩn bị xét
xử có thể không cần nhiều như vậy.
2.1.1.3.!Mở và tiến hành phiên tòa sơ thẩm
Về việc hoãn phiên tòa, quy định hiện nay về việc hoãn phiên
tòa trong trường hợp có một trong các đương sự hoặc người đại
diện hợp pháp của họ vắng mặt lần thứ nhất mà không cần nêu
lý do; thành phần giải quyết vụ án có sự tham gia của Viện kiểm
sát trong một số phiên tòa là những bất cập dẫn đến hoãn phiên
tòa làm kéo dài việc giải quyết tranh chấp một cách không cần
thiết.
Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ
thẩm, theo theo quy định tại Điều 234 BLTTDS, tại phiên tòa sơ
thẩm Viện kiểm sát chỉ phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp
luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án mà không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ

thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm bao gồm ba Thẩm phán
không phù hợp đối với những vụ án về TCKDTM có tiêu chí áp
dụng TTRG…
2.2.!Xây dựng thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại từ thực tiễn xét xử của Tòa án
2.2.1.!Đối với các tranh chấp mà đương sự thừa nhận toàn bộ
nghĩa vụ
Có khá nhiều vụ án đơn giản, bị đơn đã thừa nhận hoàn toàn
nghĩa vụ nhưng Tòa án vẫn phải tiến hành các thủ tục tố tụng
thông thường dẫn đến thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài mà
kết quả giải quyết không có gì khác ngoài việc tuyên một phán
quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa
án cấp phúc thẩm về cơ bản cuối cùng vẫn giữ nguyên bản án sơ
thẩm hoặc ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm (trong
trường hợp bị đơn rút kháng cáo) và không cần thiết để cần một
Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán thực hiện một công việc
không phức tạp như vậy.
Ví dụ: Vụ Ngân hàng Thương mại Kỹ thương Việt Nam kiện
Công ty TNHH Đầu tư Xây dựng Thương mại Xuân Định, Bị
đơn thừa nhận toàn bộ khoản vay gốc và khoản lãi chưa thanh
toán nêu trên nhưng cho rằng “nếu nguyên đơn giảm lãi thì bị
đơn tiếp tục thanh toán tiền gốc; nhưng nếu không giảm lãi thì
Tòa xử theo pháp luật.”
Vụ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Petrolimex kiện Ông
Nguyễn Quốc Thanh – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại
Vạn Phúc, Bị đơn thừa nhận toàn bộ các khoản tiền còn nợ nêu
trên và đồng ý trả toàn bộ tiền gốc nhưng xin giảm lãi...
Vụ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Á kiện Công ty



nghiệp).
Cũng có những trường hợp mà giá trị tranh chấp không lớn
nhưng việc xác định tính chất vụ án không đơn giản. Trong vụ
Ngô Lê Anh Chi kiện Công ty TNHH MTV Kem và H.Hai.O,
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn trả lại 3.000 USD tiền đặt
cọc. Trong vụ án này, việc đặt cọc bằng ngoại tệ có bị coi là vi
phạm hay không là vấn đề pháp lý còn có các quan điểm khác
nhau dẫn đến nhận định khác nhau giữa Tòa án cấp sơ thẩm và
Tòa án cấp phúc thẩm.
Về việc xác định chứng cứ rõ ràng, theo tác giả, đây là vấn đề


17!

phụ thuộc vào từng vụ án cụ thể và theo cách đánh giá chủ quan
của Thẩm phán dựa trên các tài liệu, chứng cứ của vụ án.
2.2.3. Đối với các tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng
nhưng giá ngạch lớn
Trên thực tế có khá nhiều tranh chấp giá trị lớn nhưng tính
chất của tranh chấp đơn giản về mặt áp dụng pháp luật và chứng
cứ rõ ràng để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên,
vì đây là các tranh chấp có giá trị lớn và việc quyết định áp dụng
thủ tục tố tụng nào sẽ có thể ảnh hưởng đến kết quả giải quyết
của vụ án và vì án phí của các vụ án cũng không nhỏ, cho nên,
tác giả thiết nghĩ, chỉ nên áp dụng TTRG để giảm thiểu chi phí tố
tụng khi có yêu cầu hoặc sự đồng ý của các đương sự của vụ án.
Trong vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 179/2012/TLSTKDTM ngày 27-11-2012, Nguyên đơn là Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Sài Gòn đã khởi kiện Bị đơn là Công ty TNHH Lắp
ráp điện tử Thương mại Kỹ thuật Sáng Tạo ra TAND quận 3
Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền lãi

việc nộp đơn khởi kiện và thụ lý vụ án; về cấp, tống đạt, thông
báo văn bản tố tụng; về lấy lời khai của đương sự; về tính hình
thưc của việc hòa giải bắt buộc trong nhiều trường hợp; về thời
hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm áp dụng chung cho các tranh chấp
mà không phân biệt tính phức tạp của tranh chấp, chứng cứ đã
rõ ràng…; về việc hoãn phiên tòa trong trường hợp đương sự,
người đại diện hợp pháp của đương sự được triệu tập hợp lệ lần
thứ nhất nhưng vắng mặt kể cả khi không có lý do chính đáng;
về thành phần tham gia giải quyết tranh chấp còn có những bất
cập theo hướng không cần thiết phải giải quyết các tranh chấp
đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá ngạch thấp bởi một hội đồng xét
xử tập thể và với sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát. Những
hạn chế này ảnh hưởng đến việc giải quyết nhanh chóng và đỡ
tốn kém các TCDS nói chung và TCKDTM nói riêng đơn giản,
chứng cứ rõ ràng hoặc đương sự thừa nhận nghĩa vụ…
Hai là, đánh giá về việc Tòa án giải quyết một số tranh chấp
đơn giản, đương sự thừa nhận nghĩa vụ, chứng cứ rõ ràng, giá
ngạch thấp cho thấy:
(i)!đối với các tranh chấp mà tất cả các đương sự thừa nhận
nghĩa vụ thì Tòa án chỉ cần kiểm tra tính hợp pháp của sự thừa
nhận nghĩa vụ của các đương sự để ra phán quyết công nhận sự
thừa nhận đó;
(ii)!đối với các tranh chấp mà Tòa án cho rằng đơn giản về
mặt áp dụng pháp luật, chứng cứ rõ ràng và giá ngạch thấp, Tòa
án có thể giải quyết đúng đắn các tranh chấp đó mà không cần
thiết phải tiến hành tất cả các trình tự, thủ tục tố tụng và cũng
không nhất thiết cần có sự tham gia của đại diện Viện Kiểm sát.
Tuy nhiên, đối với các loại tranh chấp nêu tại điểm (ii) nêu
trên nếu giá ngạch lớn thì kết quả giải quyết có tác động không
nhỏ đến lợi ích của đương sự, cho nên cần có sự đồng thuận

có thể được giải quyết theo TTRG: (i) Đương sự đã thừa nhận
hoàn toàn nghĩa vụ của mình; (ii) Vụ án đơn giản, có giá ngạch
thấp theo quy định của pháp luật, chứng cứ rõ ràng và không có
sự phản đối hợp lý của đương sự; hoặc (iii) Vụ án đơn giản,
chứng cứ rõ ràng (không phụ thuộc vào giá ngạch) mà các
đương sự đồng ý áp dụng TTRG.
3.1.2.!Về rút gọn thành phần tham gia giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết vụ án theo TTRG chỉ cần một Thầm phán và
với sự tham gia hạn chế của đại diện Viện kiểm sát.
3.1.3.!Rút gọn về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án theo TTRG
Cần bổ sung thêm một thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo
bằng phương tiện điện tử theo quy định của pháp luật giao dịch
điện tử. Không cần triệu tập đương sự đến Tòa án lấy lời khai
trong trường hợp vụ án được giải quyết theo TTRG. Không nên
quy định hòa giải là thủ tục bắt buộc đối với các vụ án được giải


20!

quyết theo TTRG. Cần mạnh dạn quy định phạm vi kháng cáo,
kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm theo TTRG chỉ
nên giới hạn ở việc kháng cáo, kháng nghị về việc áp dụng pháp
luật của Tòa án cấp sơ thẩm...
Về phiên tòa phúc thẩm, Dự thảo BLTTDSSĐ quy định
không cần mở phiên tòa phúc thẩm để giải quyết kháng cáo đối
với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng TTRG là chưa hợp
lý vì không phù hợp với nguyên tắc hiến định là việc xét xử phải
được tiến hành công khai, trực tiếp và bảo đảm việc tranh luận.
Do đó, việc giải quyết vụ án theo TTRG ở cấp phúc thẩm vẫn
phải được thông qua bởi phiên tòa.

21!

Thứ tư, về việc hoãn phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa sơ thẩm
vẫn tiến hành nếu bị đơn hoặc người đại diện của họ đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do chính
đáng. Trong trường hợp nguyên đơn hoặc người đại diện của họ
được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có lý do
chính đáng, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.
(ii) Đối với thủ tục phúc thẩm
Thứ nhất, về thời hạn kháng cáo, kháng nghị và kháng cáo
quá hạn, thời hạn kháng cáo của đương sự nên quy định rút
xuống còn năm ngày làm việc là phù hợp và thời hạn kháng
nghị của Viện kiểm sát cũng nên rút xuống còn mười ngày làm
việc là hợp lý.
Thứ hai, về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, thời hạn
chuẩn bị xét xử phúc thẩm nên rút xuống còn một tháng.
(iii) Về thủ tục cấp trích lục bản án, bản án
Nên rút ngắn xuống còn ba ngày đối với việc cấp trích lục
bản án và năm ngày đối với việc cấp bản án để Tòa án gửi cho
các đương sự và Viện kiểm sát.
3.2.!Giải pháp về hoàn thiện pháp luật về thủ tục rút gọn giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
3.2.2.!Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự
BLTTDS cần được sửa đổi, bổ sung những quy định như sau:
(i)! Bổ sung một Chương về việc giải quyết vụ án theo TTRG,
trong đó quy định về điều kiện áp dụng TTRG là các vụ án đáp
ứng được một trong những tiêu chí (như đã đề xuất ở trên) và
các thủ tục riêng biệt áp dụng cho vụ án được giải quyết theo
TTRG;
(ii)!Các điều 14, 86, Điều 87, 88, 181, khoản 3 Điều 179

dụng TTRG, nâng cao ý thức thực thi các quy định của pháp
luật tố tụng trong tất cả các khâu tố tụng, từ việc nhận đơn khởi
kiện của nguyên đơn, thụ lý đơn khởi kiện, ra các thông báo cần
thiết về thụ lý đơn khởi kiện, về áp dụng TTRG...
3.3.3.! Xây dựng cơ chế, tổ chức, nguồn lực và chế tài bảo đảm
thực hiện các quy định về thủ tục rút gọn
Cần xây dựng cơ chế và tổ chức thực hiện việc áp dụng
TTRG có sự phân công rõ ràng người chịu trách nhiệm “đầu
vào, đầu ra” và thời gian xử lý từng đầu việc, phân công Thẩm
phán chịu trách nhiệm xử lý các đơn khởi kiện có thể thuộc
trường hợp áp dụng TTRG, trách nhiệm của bộ phận nhận đơn
khởi kiện, mối quan hệ giữa Thẩm phán phụ trách và lãnh đạo
Tòa án trong việc cân nhắc có áp dụng TTRG, thẩm quyền xem
xét và quyết định về việc có chấp nhận sự phản đối của đương
sự đối với việc áp dụng TTRG, về việc chuyển vụ án đang giải
quyết theo TTRG sang thủ tục thông thường...
Ngoài ra, TANDTC cần xây dựng lộ trình sơ kết, kiểm tra,
tổng kết định kỳ, đột xuất việc thực hiện các quy định về TTRG,
đồng thời bảo đảm nguồn lực để sẵn sàng hướng dẫn kịp thời.


23!

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Việc xây dựng các tiêu chí để áp dụng TTRG phải mang tính
khả thi và phát huy từng nội dung của TTRG chứ không nhất
thiết phải bảo đảm tất cả các nội dung của TTRG. Có nghĩa
rằng, một vụ án có thể thuộc đối tượng rút gọn về thành phần
xét xử, hoặc trình tự, thủ tục tố tụng vẫn hoàn toàn có thể áp
dụng TTRG để giải quyết cho dù thời gian xét xử có thể không



24!

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Việc xây dựng TTRG ở nước ta cần được dựa trên những
nguyên lý cơ bản về TTDS nói chung và TTRG nói riêng, có
tham khảo các kinh nghiệm tốt được đúc rút từ các nền pháp lý
đã có trải nghiệm áp dụng TTRG một cách linh hoạt phù hợp
với hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
Cách tiếp cận hiện nay của các nhà làm luật theo hướng chỉ
hướng tới rút gọn về thời gian xét xử dường như sẽ lại đi vào
vết mòn cũ khi chưa đưa ra được các giải pháp khắc phục những
nguyên nhân còn tồn tại của việc chưa tuân thủ được các thời
hạn chuẩn bị xét xử theo luật định hiện nay. Điều đó rất có khả
năng dẫn đến một thực tế là TTRG sẽ không phát huy được ý
nghĩa căn nguyên của nó.
Các tiêu chí áp dụng TTRG đang được các nhà làm luật đề
xuất có thể dẫn đến thực tế là sẽ có quá ít vụ án có thể được áp
dụng TTRG. Luận án đưa ra hai đề xuất hoàn toàn mới với cách
tiếp cận xây dựng tiêu chí áp dụng TTRG theo hướng linh hoạt
và nội dung của TTRG cũng mang tính linh hoạt sẽ bảo đảm
được tính khả thi và hiệu quả cao của việc áp dụng TTRG trên
thực tế… Đây là một trong những điểm mới và có tính đột phá
của Luận án./.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status