Danh sách thành viên nhóm 2:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Mai Thị Hồng Duyên
Y Duyên
A Dư
Lê Thị Hà
Lương Thị Hạnh
Nguyễn Thị Hảo (nghỉ luôn)
Nguyễn Thị Mộng Hảo
Siu Hiệp
Lương Thị Lệ Hoa
Kiều Bá Hoàng
Lương Công Hoàng
Nguyễn Thị Thu Hồng
Võ Lệ Huyền
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
+ Chức năng của Quốc hội: Y Duyên.
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội: Hạnh.
+ Quy trình của một cuộc bầu cử: Hiệp.
+ Cơ cấu tổ chức của Quốc hội: Hảo, Công Hoàng
+ Hình thức hoạt động của Quốc hội: Bá Hoàng, A Dư.
+ Đại biểu Quốc hội: Hồng, Hà.
+ Việc bãi nhiệm, mất quyền đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu xin thôi làm
nhiệm vụ đại biểu Quốc hội: Hoa.
III.
Kết luận:
Buổi họp kết thúc vào lúc 9h cùng ngày.
Buổi họp hoàn thành bài thuyết trình kết thúc vào ngày 13/04/2016.
Chủ trì cuộc họp
Thư kí
Nhóm trưởng
Lê Thị Hà
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Khoa GDCT-QLNN
Lương Thị Lệ Hoa
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Chủ trì cuộc họp
Thư kí
Nhóm trưởng
Lê Thị Hà
Lương Thị Lệ Hoa
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Khoa GDCT-QLNN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
3
Bình Định, ngày 08 tháng 04 năm 2016.
BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM
Đề tài: QUỐC HỘI.
I.
Thời gian, địa điểm, thành phần tham dự:
7. Thời gian: Lúc 7h00, ngày 13 tháng 04 năm 2016.
8. Địa điểm: Bãi cỏ gần thư viện Đại học Quy Nhơn.
9. Thành phần tham dự:
4
I.
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM……………………………………………
6
II.
VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA QUỐC HỘI…………………………………
8
1.Vị trí của Quốc hội……………………………………………………... 8
2.Tính chất của Quốc hội……………………………………………….. 9
III. CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI………………………………………… 9
IV.
NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA QUỐC HỘI……………………. 10
V.
QUY TRÌNH CỦA MỘT CUỘC BẦU CỬ……………………………. 12
A.Quy trình bầu cử……………………………………………………… 12
B.Nhiều điểm mới trong cuộc bầu cử ĐB Quốc hội khóa XIV…...
25
VI.
QUỐC HỘI
Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có trên 50 năm
tồn tại. Kể từ khi ra đời, Quốc hội luôn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong
bộ máy nhà nước. Vị trí đó được xác định bởi Hiến pháp: ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân
dân. Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, Quốc hội ngày càng
phát triển, phát huy được vị trí,vai trò của mình là cơ quan đại biểu cao nhất
của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
I. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM:
Quốc hội nước ta có tiền thân là Quốc dân đại hội, do Tổng bộ Việt Minh
triệu tập, họp trong hai ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào, Tuyên
Quang. Tham dự cuộc họp có 60 đại biểu, đại diện cho các tầng lớp nhân dân
và các tổ chức đoàn thể cách mạng của nhân dân trong toàn quốc. Đại hội
quyết định nhiều vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam, trong đó có
việc cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (tổ chức tiền thân của Chính
phủ nhân dân lâm thời Việt Nam), quyết định Quốc kỳ, Quốc ca của đất nước.
Quốc dân Đại hội Tân Trào không những góp phần quan trọng tạo nên thắng
lợi của cuộc Cách mạng Tháng 8/1945 mà Nghị quyết còn tạo ra những cơ sở
cho sự hình thành và ra đời của một thể chế Nhà nước mới, đặt nền móng cho
cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và xây dựng Hiến pháp đầu tiên của Việt
Nam (1946).
6
-
đấu tranh của nhân dân cả hai miền Nam Bắc”.
Quốc hội của các khóa sau tiếp tục tinh thần trên, và mỗi nhiệm kỳ mang
đặc điểm của từng thời kỳ cách mạng Việt Nam:
Quốc hội khóa II (1960 – 1964): Tiếp tục truyền thống của Quốc hội Khóa I,
củng cố, tăng cường Nhà nước Dân chủ nhân dân, lãnh đạo nhân dân tiến
hành công cuộc xây dựng cơ sở vật chất ban đầu cho thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm tiền đề cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
ở miền Nam.
7
-
-
-
-
-
-
-
-
Quốc hội Khóa III (1964 – 1971) lãnh đạo nhân dân đánh thắng cuộc chiến
tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của Mỹ, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc và chi viện đắc lực cho cách mạng miềm Nam.
đó để thực hiện mục tiêu chính trị của mình. Việc sử dụng quyền lực nhà
nước được thực hiện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Do
đó,Quốc hội là cơ quan có vị trí đặc biệt trong bộ máy nhà nước.
1. Vị trí của Quốc hội:
Trong Hiến pháp 2013: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ
8
nghĩa Việt Nam” ( Điều 69). Tuy nhiên, khác với Hiến pháp năm 1992, Quốc
hội trong Hiến pháp 2013 không còn là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến.
2. Tính chất:
Quốc hội thể hiện tính nhân dân và tính quyền lực nhà nước trong tổ
chức và hoạt động của mình.
* Tính đại diện nhân dân của Quốc hội được thể hiện ở các mặt sau:
- Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo
nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
- Quốc hội thể hiện tập trung, rõ nét nhất khối đại đoàn kết toàn
dân, đại diện cho trí tuệ của dân tộc Việt Nam.
III. CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI:
Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ hơn, khái quát hơn trên ba phương
diện: thực tiễn quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước; giám sát tối cao với mọi hoạt động của Nhà nước. Trước
hết về thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp và thay quy định “Quốc hội
là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” bằng quy định “Quốc hội
thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”.
- Khắc phục tình trạng vừa thiếu pháp luật, vừa mâu thuẫn, chồng chéo trong
hệ thống pháp luật, thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng trong việc xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi hoạt
động của các cơ quan Nhà nước.
2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị
quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do
Quốc hội thành lập;
3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước;
4. Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa
đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ
chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới
hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân
sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân
sách nhà nước;
5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ,
Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm
toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành
lập;
7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch
Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ
tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính
phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người
đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên
khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh
sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia.
Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc,
Nhân dân và Hiến pháp;
QUY TRÌNH CỦA MỘT CUỘC BẦU CỬ
Quyền bầu cử, ứng cử
Quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là
một trong những quyền cơ bản về chính trị của công dân.Pháp luật hiện hành
đã quy định công dân có quyền bầu cử, có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội
đồng nhân dân.Theo đó, công dân Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên đều có
quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu
Quốc hội. Những công dân này không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú
đều được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu cử.
Ngoài ra, những người sau đây cũng không được tham gia ứng cử đại
biểu Quốc hội gồm: Những người không được tham gia bầu cử thì đương
nhiên không được ứng cử, người đang bị khởi tố về hình sự, người đang phải
chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án hoặc đã chấp hành xong
nhưng chưa được xóa án tích hay là những người đang chấp hành quyết định
xử lý hành chính khác.
A.
Trình tự tiến hành bầu cử
Trình tự tiến hành cuộc bầu cử là vấn đề trung tâm trong việc bầu
cử.Đó là một loạt các công việc từ ấn định ngày bầu cử, thành lập đơn vị bầu
cử, thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, công tác chuẩn bị bầu cử cho đến
việc lập danh sách cử tri, cư tri thực hiện bỏ phiếu và việc kiểm phiếu, công
bố kết quả.Đó cũng là một quy trình chặt chẽ được pháp luật quy định
nghiêm ngặt.
Trình tự tiến hành một cuộc bầu cử ở Việt Nam gồm các bước sau:
việc phụ trách bầu cử còn được sự hỗ trợ rất lớn từ phía Mặt trận Tổ quốc và
Hội đồng nhân dân các cấp.
Các tổ chức phụ trách bầu cử bao gồm:
• Hội đồng bầu cử
Giai đoạn tiếp theo của cuộc bầu cử là thành lập Hội đồng bầu cử. Thành
phần Hội đồng bầu cử bao gồm đại diện các tổ chức xã hội, tổ chức đảng,
Nhà nước.
Hội đồng bầu cử có nhiêm vụ:
1. Lãnh đạo việc tổ chức bầu cử chung; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các
quy định của pháp luật về bầu cử và tiến hành cuộc bầu cử.
2. Quy định mẫu thẻ cử tri và phiếu bầu cử; lập và công bố danh sách ứng cử
viên theo từng đơn vị bầu cử.
3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác của Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử và
Tổ bầu cử; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử do các tổ chức bầu cử cấp
dưới chuyển đến; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử; Giải quyết
khiếu nại về kết quả bầu cử.
4. Kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử do Uỷ ban bầu cử, Ban bầu cử
gửi đến; làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước; Xét và quyết định
việc bầu cử lại, bầu cử thêm hoặc huỷ bỏ kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử.
5. Công bố kết quả bầu cử trong cả nước, cấp giấy chứng nhận cho đại biểu
trúng cử.
13
• Ủy ban bầu cử
Lãnh đạo bầu cử ở các đơn vị do Ủy Ban bầu cử tiến hành. Việc bầu cử về
cơ bản lấy đơn vị hành chính cấp huyện là cơ sở, do vậy, mỗi địa phương,
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể có từ 2 đến 5 đơn vị. Để phụ
~ Phát thẻ cử tri cho cử tri chậm nhất là hai ngày trước ngày bầu cử, phát
phiếu bầu cử cho cử tri có đóng dấu của Tổ bầu cử. Bảo đảm trật tự trong
phòng bỏ phiếu.
~ Kiểm phiếu và làm biên bản kết quả kiểm phiếu để gửi đến Ban bầu cử.
~ Tổ chức thực hiện việc bầu cử lại, bầu cử thêm (nếu có).
3.
Sự tham gia của các cơ quan
14
Ngoài các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập mang tính lâm thời,
phục vụ cho các kỳ bầu cử, luật pháp Việt Nam còn quy định các cơ quan hữu
quan khác cũng tham gia vào quá trình bầu cử đó là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam các cấp và Hội đồng nhân dân các cấp.
4.
Về kinh phí họat động
Kinh phí trang trải cho hoạt động của bộ phận phụ trách cũng như trang
trải cho toàn bộ cuộc bầu cử được lấy từ ngân sách nhà nước.
Kinh phí dành cho mỗi cuộc bầu cử là khá lớn. Gần đây nhất là cuộc bầu
cử đại biểu Quốc hội khóa XII đã tiêu tốn đến 350 tỷ đồng tăng 1,5 lần so với
mức kinh phí của cuộc bầu cử năm 2002 (tốn hết 230 tỉ đồng).
5.
Phân chia đơn vị bầu cử
Song song với việc thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử là việc phân
phương hiện nay đi lại rất khó khăn mặt khác Việt Nam là một nước nghèo,
việc đầu tư cho hệ thống giao thông còn hạn chế, nhiều hệ thống giao thông
thi công kém do nhiều nguyên nhân đã nhanh chóng xuống cấp vì vậy gây
thêm khó khăn cho việc bầu cử.
Để thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử của mình, các đơn vị bầu
cử này thường phân chia thành các nơi bỏ phiếu. Mỗi khu vực có thể có từ
300 đến 2.000 cử tri hoặc có thể cao hoặc thấp hơn, miễn là bảo đảm thuận
tiện cho cử tri bỏ phiếu đồng thời cũng dễ cho đơn vị bầu cử.
Điều 12: Luật bầu cử Quốc hội quy định cụ thể như sau: Việc chia khu
vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do Uỷ ban nhân dân
cấp xã ấn định và phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Mỗi đơn vị bầu cử chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu. Mỗi khu vực bỏ
phiếu có từ 300 đến 2.000 cử tri.
+ Ở miền núi, hải đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có tới
ba trăm cử tri cũng có thể thành lập một khu vực bỏ phiếu.
+Đơn vị vũ trang nhân dân thành lập những khu vực bỏ phiếu riêng hoặc đơn
vị vũ trang nhân dân và địa phương có thể có chung một khu vực bỏ phiếu.
+Bệnh viện, nhà an dưỡng, nhà hộ sinh, nhà nuôi người tàn tật có từ 50 cử tri
trở lên có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.
+ Cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đối với những người đang chấp hành
quyết định xử lý vi phạm hành chính có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng.
Nội quy phòng bỏ phiếu là tập hợp các quy định do Tổ bầu cử căn cứ
vào điều kiện cụ thể nơi bỏ phiếu đề ra, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến
hành dân chủ, đúng pháp luật và bảo đảm trật tự, an toàn. Nội quy phòng bỏ
phiếu gồm:
1. Các quy định của Luật bầu cử
2. Các quy định về bảo vệ an toàn, an ninh trật tự
3. Các quy định phòng cháy và chữa cháy
đến ngày, tháng, năm sinh (dương lịch) của năm sau.
Trường hợp không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 01 của tháng sinh
làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử. Trường hợp
không xác định được ngày và tháng sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm
sinh làm căn cứ để xác định tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.
Khi phát hiện thấy có sai sót trong việc lập danh sách thì cử tri báocáo với
cơ quan lập danh sách cử tri.Họ có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị về
những sai sót này.
Tuy vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho quân nhân thực hiện quyền bầu cử
của mình, pháp luật hiện hành cũng cho phép quân nhân có hộ khẩu thường
trú ở địa phương gần khu vực họ đóng quân thì có thể được ghi tên vào danh
sách cử tri nơi thường trú và được tham gia bỏ phiếu ở địa phương đó.
Thông thường, mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở
một nơi mình thường trú hoặc tạm trú. Từ khi niêm yết danh sách cử tri cho
đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào vì đi nơi khác, không thể tham gia bỏ phiếu ở
nơi đã ghi tên vào danh sách cử tri thì có quyền được ghi tên và bỏ phiếu ở
nơi khác. Ủy ban nhân dân nơi cử tri đã đăng phải ghi ngay vào danh sách
bên cạnh tên cử tri “Đi bỏ phiếu nơi khác”.
Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thường
xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu
bằng hình thức niêm yết, phát thanh và các phương tiện thông tin khác của
địa phương.
Cử tri là sinh viên, học sinh, học viên ở các trường chuyên nghiệp, trường
đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp và cử tri là quân
nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng
quân.
8.
đơn vị mình ứng cử đại biểu Quốc hội, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của Hội
nghị cử tri nơi người đó công tác.
18
Sáng suốt lựa chọn những người có đức, có tài để đại diện cho
nhân dân. Ảnh minh họa
9.
Vận động bầu cử
Giai đoạn này là một giai đoạn quan trọng trong tiến trình bầu cử, bởi
chính giai đọan này phần nhiều quyết định sự thành bại của ứng cử viên.
Kể từ khi lập danh sách cho đến ngày bỏ phiếu, các ứng cử viên cũng như
các chủ thể giới thiệu ứng cử viên được quyền bình đẳng trong việc vận động,
tuyên truyền bầu cử.
Ở Việt Nam, việc tổ chức vận động bầu cử phải tuân theo các quy tắc sau:
Nguyên tắc vận động bầu cử:
Nguyên tắc tiến hành vận động bầu cử là bảo đảm dân chủ, bình đẳng
đúng pháp luật và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Theo đó, việc bầu cử phải bảo đảm: Dân chủ, bình đẳng và xây dựng trong
vận động bầu cử, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng
cử và cử tri. Các ứng cử viên không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên
truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín
và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Không biến vận động bầu cử
thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo.Không được
lạm dụng uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý các phương tiện
thông tin đại chúng trong vận động bầu cử.Không được lợi dụng vận động
bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và ngoài nước cho tổ
Thể thức bỏ phiếu:
Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng
kiến của cử tri. Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu, họ sẽ nhận được một
phiếu bầu do tổ bầu cử phát ra sau khi lá phiếu đó đã được đóng dấu của tổ
bầu cử. khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri. Cử tri phải tự mình đi bầu, không
được bầu bằng cách gửi thư. Mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng
bỏ phiếu.
20
Luật quy định rõ cử tri phải tự mình đi bầu và phải tự nhận phiếu bầu,
không nhờ người khác nhận thay, tự mình viết phiếu bầu, tự mình gạch tên
ứng cử viên mình không tín nhiệm.
Trong trường hợp cử tri không thể tự mình viết được phiếu thì nhờ người
khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu, người viết hộ phải bảo đảm bí mật
phiếu bầu.
Về việc viết và bỏ phiếu, nếu họ không tự viết được phiếu bầu thì áp dụng
theo quy định: "Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác
viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật
phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ
người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu".
Người viết phiếu hộ phải đảm bảo giữ bí mật phiếu bầu của cử tri nhờ viết,
không được tiết lộ với bất cứ ai, kể cả những người trong tổ chức phụ trách
bầu cử về việc người nhờ mình bầu cho ứng cử viên nào. Nếu người viết
phiếu hộ mà tiết lộ là vi phạm nguyên tắc bỏ phiếu kín của cử tri.
Mỗi cử tri chỉ có quyền bỏ một phiếu bầu.Khi cử tri viết phiếu bầu, không
ai được đến xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử; nếu viết hỏng, cử tri có quyền
đề nghị Tổ bầu cử đổi phiếu bầu khác.
Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu mà chưa
kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới được
hoặc người được uỷ nhiệm có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại
về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm
phiếu.
Việc kiểm phiếu bao gồm các bước sau:
1. Thống kê, lập biên bản, niêm phong tất cả số phiếu bầu không sử dụng
đến.
2. Xác định tổng số phiếu đã phát ra.
3. Xác định tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu.
4. Nghiêm cấm việc bỏ phiếu sau khi đã mở hòm phiếu.
5. Kiểm tra hòm phiếu và tiến hành mở hòm phiếu (cả hòm phiếu phụ nếu
có).
6. Xác định tổng số phiếu được lấy ra từ hòm phiếu.
7. So sánh tổng số phiếu được lấy ra từ hòm phiếu với số phiếu đã phát
ra và với tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu.
8. Xác định số phiếu hợp lệ và không hợp lệ.
Phiếu hợp lệ là phiếu bầu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát, có dấu
của Tổ bầu cử. Phiếu bầu đủ hoặc ít hơn số đại biểu Quốc hội mà đơn vị bầu
cử được bầu. Phiếu bầu gạch tên các ứng cử viên không được tín nhiệm bằng
cách gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang, nhưng phải gạch hết
họ và tên.
Phiếu không hợp lệ là phiếu không theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát.
Phiếu không có dấu của Tổ bầu cử (phiếu không do Tổ bầu cử phát ra). Phiếu
để số người được bầu quá số đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu. Phiếu gạch
xoá hết tên những người ứng cử (hay còn gọi là phiếu trắng).Phiếu ghi tên
người ngoài danh sách ứng cử.Phiếu có viết thêm.Phiếu có gạch vào khoảng
cách giữa họ và tên hai ứng cử viên.Phiếu không xác định được cử tri bỏ
22
phiếu cho ai (như phiếu gạch không đúng vị trí của tên ứng cử viên hay số
đơn vị bầu cử của mình.
Biên bản phải ghi rõ: Số lượng ứng cử viên, tổng số cử tri trong đơn vị
bầu cử, số lượng cử tri tham gia bỏ phiếu, số lượng phiếu thuận của từng ứng
cử viên (số phiếu bầu cho mỗi người) và những vấn đề khác có liên quan đến
bầu cử. Cuối cùng là danh sách những người trúng cử.
Biên bản được thành lập thành năm bản, có chữ ký của Trưởng ban, các
Phó Trưởng ban và Thư ký. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử, Uỷ ban
bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chậm nhất là năm ngày sau
ngày bầu cử.
Theo quy định của pháp luật về bầu cử, trong số đại biểu mà đơn vị bầu cử
được bầu, người ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu
hơn là người trúng cử.Trong trường hợp nhiều người được số phiếu ngang
23
nhau thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử. Đối với đại biểu Hội đồng
nhân dân, trong trường hợp có nhiều số phiếu ngang nhau thì theo đề nghị của
ban bầu cử cùng Mặt trận Tổ quốc cùng cấp thì hội đồng bầu cử sẽ quyết
định.
13.
Công bố kết quả bầu cử
Sau khi nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban
bầu cử, Uỷ ban bầu cử và giải quyết các khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng
bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước.
Hội đồng bầu cử căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước
công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội
đại diện của cơ quan, tổ chức đơn vị mình ra ứng cử. Theo báo cáo nhanh của
các địa phương cho thấy, các hoạt động đang được triển khai tốt.Chỉ có điểm
vướng là thực tế rất phong phú nhưng Luật chưa thể điều chỉnh hết được.
Điều này đòi hỏi các ngành, các cấp cần vận dụng sáng tạo Luật Bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trên tinh thần dân chủ, khách
quan, bình đẳng để phối hợp tổ chức tốt cuộc bầu cử.
25