MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển nhanh chóng và
mạnh mẽ, quan hệ quốc tế càng được mở rộng và quan trọng hơn nữa trong
quan hệ đối ngoại của mỗi nước, dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát
triển lại có thể tách biệt với thế giới, nhu cầu mở rộng sự giao lưu, phát triển
quan hệ với bên ngoài của mọi quốc gia, mọi dân tộc là một nhu cầu tất yếu.
Vì vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng, mỗi
quốc gia cần phải nhận thức đầy đủ về thế giới và vị thế của mình, từ đó xác
định cho mình hướng đi đúng đắn.
Như chúng ta đã biết, trong lịch sử thế giới nói chúng và lịch sử châu
Âu nói riêng, đế quốc Đức là một đế quốc hùng mạnh và khi trở thành một
cường quốc lớn thì Đức thực hiện chính sách đối ngoại hết sức cứng rắn.
Trong quá khứ, đế quốc Đức đã để lại những hậu quả hết sức đau thương cho
châu Âu nói riêng và loài người nói chung. Cho đến năm 1990, sự kiện hai
nước Đức thống nhất thành một nước CHLB Đức, nhân loại đang quan tâm
đến chính sách đối ngoại của nước Đức thống nhất có những tiến bộ gì so với
giai đoạn trước của đế quốc Đức.
Sau khi nước Đức thống nhất được một thời gian, Liên Xô và các nước
chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu sụp đổ.Sự sụp đổ của Liên Xô đã đánh dấu sự
chấm dứt trật tự hai cực Ianta được thiết lập từ trước chiến tranh thế giởi thứ
hai. Sự sụp đổ của hai cực Ianta đã cho ra đời một trật tự thế giới mới- trật tự
đa cực. Trong xu thế Mỹ luôn cố gắng với mong muốn trở thành bá chủ thế
giới, các quốc gia khác cũng đang tích cực đấu tranh để thiết lập một trật tự
thế giới đa cực, mà trong đó tiếng nói họ có trọng lượng. Trong khi đó, CHLB
Đức là một cường quốc lớn ở châu Âu và trên thế giới. Vì vậy, CHLB Đức đã
thực hiện chính sách đối ngoại như thế nào để thực hiện được mục đích ấy.
Đối với Việt Nam, từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, bắt đầu tiến
hành công cuộc đổi mới và đạt được một số thành tựu nhất định. Công cuộc
đổi tiếp tục được đẩy mạnh ở những năm 90 của thế kỷ XX và những năm
Vương Mạnh Hùng
2. Mục đích và nội dung nghiên cứu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu đường lối đối ngoại của CHLB Đức từ 1990 đến nay có
những khác biệt gì so với giai đoạn trước.
Vương Mạnh Hùng
2Lớp: Thông tin đối ngoại 32
Nghiên cứu quan hệ Đức – Việt từ 1990 đến nay sẽ cung cấp cho chúng
ta những kiến thức về quan hệ hai nước trong lịch sử phát triển một cách liên
tục.Từ đó, chúng ta có những chính sách phù hợp để thúc đẩy mối quan hệ
này phát triển hơn nữa trong tương lai.
2.2 Nhiệm vụ
Việc nghiên cứu quan hệ hai nước trong giai đoạn này góp phần tăng
thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước, đồng thời giúp chúng ta nhận thức
được cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ này.
Hiểu rõ những điểm khác biệt trong chính sách đối ngoại của CHLB
Đức từ 1990 đến nay.
Tiểu luận tập trung vào những thành tựu chủ yếu trong quan Đức – Việt
trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa giáo dục và một số
quan hệ khác.
Trên cơ sở những thành tựu trong quá trình phát triển quan hệ hai nước,
vai trò của mối quan hệ này trong quá trình phát triển của mỗi dân tộc trong
xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay.Từ đó rút ra những bài học trong
quan hệ hai nước, đồng thời nêu lên triển vọng về quan hệ hai nước trong
tương lai.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu ở đây chính là "Chính sách đối ngoại của Cộng
hoà Liên bang Đức và quan hệ Đức - Việt từ 1990 đến nay" chủ yếu trên lĩnh
1.Đối với Liên hợp quốc
Cộng hòa Liên bang Đức cho rằng Liên bang quốc đóng vai trò then
chốt, quan trọng nhất để giải quyết những vấn đề mang tinh toàn cầu và các
thách thức nảy sinh trong thế kỷ XXI. Nước Đức trong nhiều năm qua đã tích
cực hoạt động, tranh thủ các quan hệ để có thể trở thành thành viên thường
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Theo quan điểm của Đức, cần cải cách
Hội đông Bảo an theo hướng cân đối giữa các khu vực để Liên hợp quốc trở
thành một thế chế có khả năng hành động đối với việc giải quyết các vấn đề
quốc tế.
Đức đã đưa ra những sáng kiến nhằm tăng quyền hạn và trang bị
phương tiện hiện đại cho Liên hợp quốc. Quân đội Đức tham gia vào việc giữ
gìn hòa bình và ann ninh quốc tế trên cơ sở tôn trọng luật phát quốc tế và
Hiến pháp nước Đức. Theo đó, Đức đã và đang góp phần thúc đẩy các hoạt
động của Liên hợp quốc thực hiện sứ mệnh giữ gìn hòa bình và tăng cường
vai trò của Tổng thư ký Liên hợp quốc, chủ trương kiên quyết chống khủng
bố quốc tế trong khuôn khổ liên minh toàn thế giới, nhấn mạnh sự cần thiết
phải tăng cường hợp tác với Liên hợp quốc, EU, Mỹ, Nga trong việc giải
quyết xung đột ở khu vực Trung Đông.
Chính phủ Đưc cam kết đề cao các công cụ thực hiện trừng phạt vè
kinh tế, chủ trương mở rộng và củng cố điều đó bằng một quỹ hỗ trợ trừng
phạt.
2. Đối với châu Âu
Cộng hòa Liên bang Đức đặc biệt chú trọng đến quan hệ với các nước
thuộc EU và quá trình thống nhất châu Âu. Đức nhấn mạnh việc đẩy mạnh và
tăng cường vai trò của mình trong EU có ý nghĩa trọng tâm trong chinh sách
đối ngoại. Chính phủ Đức đã nổ lực góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng EU
và xây dựng EU trở thành trung tâm liên minh về chính trị, xã hội, kinh tế –
Vương Mạnh Hùng
5Lớp: Thông tin đối ngoại 32
về tài chính, liên kết những sáng kiến hiện có, cải tiến những tiền đề về tư
pháp, tài chính và tổ chức cho việc sử dụng và đào tạo lực lượng chuyên môn,
Vương Mạnh Hùng
6Lớp: Thông tin đối ngoại 32
tăng cường năng lực hoạt động của OSCE cho sứ mệnh phục vụ gìn giữ hòa
bình tại châu lục.
4. Đối với NATO
CHLB Đức luôn coi NATO là tổ chức không thể thiếu được đối với sự
ổn định và an ninh của châu Âu. Sự tham gia của Mỹ được đảm bảo thông
qua NATO và sự hiện diện của Mỹ ở châu Âu là tiền đề quan trọng cho an
ninh trên lục địa này. Đức ủng hộ NATO mở rộng sang phía đông và muốn
tận dụng việc mở rộng NATO và EU sang phía đông để tăng cường hợp tác
với các nước Đông Âu.
CHLB Đức khuyến khích sự hợp tác chặt chẽ, sự phối hợp hiệu quả và
sự phân công công việc hợp lý giữa NATO và các thể chế khác, trong đó có
OSCE và lực lượng phản ứng nhanh (RRF) của Tây Âu đối với việc đảm
nhận trách nhiệm cho nền an ninh của châu Âu. Hiện nay, tân Thủ tướng Đức
muốn tận dụng diễn đàn của khối NATO để Mỹ và châu Âu có thể đàm phán
giải quyết bất đồng qua đó “chung sống” một cách hài hòa hơn, chứ không trở
thành đối trọng của nhau.
5. Đối với Mỹ
CHLB Đức luôn khẳng định Mỹ là đối tác quan trọng nhất của Đức,
mối quan hệ hữu nghị chặt chẽ với Mỹ được dựa trên cơ sở những giá trị và
lợi ích chung. Mối quan hệ giữa Đức và Mỹ được vun đắp, mở rộng và tăng
cường là những tiền đề cơ bản cho việc thực thi chính sách hòa bình , ổn định
trước những thách thức mới trên bình diện toàn cầu.
Mối quan hệ hợp tác Đức – Mỹ trên các lĩnh vực góp phần tạo lập cục
Hiện nay, ở Đức đã thành lập Viện nhân quyền độc lập.
7. Chính sách viện trợ phát triển
Chính phủ CHLB Đức khẳng định sẽ tăng liên tục những ủy quyền cam
kết nhằm ngăn chặn xu thế suy giảm ngân sách cho viện trợ phát triển, phấn
đấu đạt mục tiêu 0,7% GDP đã được thừa nhận trên trường quốc tế. Đức nêu
rõ cần thực hiện một cuộc cải tổ trong việc thúc đẩy kinh tế đối ngoại, đặc
biệt việc cấp phát bảo hiểm xuất khẩu theo các tiêu chuẩn về sinh thái, xã hội
phải phù hợp với sự phát triển, ủng hộ những sáng kiến quốc tế về xóa nợ chơ
những nước nghèo nhất và vay nợ nhiều nhất.
CHLB Đức tiến hành thúc đẩy và coi trọng hoạt động của các tổ chức
phi chính phủ về phương diện thực hiện chính sách viện trợ phát triển. Phối
Vương Mạnh Hùng
8Lớp: Thông tin đối ngoại 32
hợp với các thành viên của EU thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ của mình
trong chính sách viện trợ phát triển. Đồng thời ủng hộ việc định hướng lại
chính sách thích ứng hóa cơ cấu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng
thế giới (WB). Chính phủ Đức đặc biệt nhấn mạnh vai trò của phụ nữ là
những người đảm trách quan trọng trong quá trình phát triển, do vậy càn tạo
điều kiện tốt cho họ về mọi mặt. Mặt khác, để chính sách viện trợ phát triển
đạt hiệu quả thiết thực, Chính phủ Đức nhấn mạnh sự cần thiết phải củng cố
lại các tổ chức và cải tiến quy trình kiểm tra kết quả các dự án viện trợ phát
triển.
8. Đối thoại giữa các nền văn hóa và tăng cường phối hợp quốc tế trong
bối cảnh toàn cầu hóa.
Theo quan điểm của CHLB Đức, để cùng nhau hành động trên phạm vi
toàn thế giới đòi hỏi có sự hiểu biết lẫn nhau vượt qua những khác biệt về văn
hóa. Do đó, càn thúc đẩy các cuộc đối thoại văn hóa thông qua việc tận dụng
được tăng cường không chỉ trên bình diện song phương mà cả đa phương.
Một trong những điểm đáng chú ý là sự tham gia chủ động và tích cực của
CHLB Đức trong khuôn khổ Diễn đàn Á – Âu ( ASEM) và cơ chế đối thoại
thường xuyên EU- ASEAN.
10. Đối với châu Phi
Nhìn chung quan hệ của CHLB Đức với châu phi còn ở mức thấp,mang
tính chất cầm chừng trong một vài dự án viện trợ nhân đạo và viện trợ phát
triển cho một số nước nghèo.Tuy nhiên gần đây Đức bắt đầu chú ý hơn đến
châu phi quan tâm thảo luận và đề xuất các giải pháp khắc phục các cuộc
xung đột tại châu lục nhất là ở khu vực Bắc Phi, Trung Phi và Bờ biển
Ngà.Quan hệ kinh tế xong Phương cũng được thúc đẩy cùng với sự tham gia
trong khuôn khổ hợp tác EU với các nước Địa Trung Hải.
Vương Mạnh Hùng
10Lớp: Thông tin đối ngoại 32
CHƯƠNG II
QUAN HỆ ĐỨC-VIỆT TỪ 1990 ĐẾN NAY - THÀNH QUẢ VÀ HẠN CHẾ
2.1 Quan hệ trước 1990.
Việt Nam là một nước có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong khu
vực Đông Nam Á nói riêng và khu vực châu Á Thía Bình Dương nói chung
mà trong một thời gian dài, vào thời kỳ chiến tranh lạnh được Mỹ xem là
chốt chặn. Do vậy, từ rất sớm Việt Nam đã trở thành một miếng mồi béo bở
của các đế quốc thực dân phương Tây xâm lược. Và năm 1884, Việt Nam trở
thành thuộc địa của thực dân Pháp.
Nước Đức là một đế quốc trẻ, khi vừa mới hình thành đã bị thực dân
phương Tây xâm lược. Khi nước Đức phát triển mạnh và bành trướng thuộc
thời với cả hai quốc gia CHDC Đức và CHLB Đức.
Từ đó quan hệ Việt Nam và Đức (CHDC Đức và CHLB Đức) ngày càng phát
triển sâu rộng hơn, với tầm vóc chưa từng có. Sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân
dân hai nước với nhân dân Việt Nam ngày càng sâu rộng, và sự hợp tác ngày
càng mở rộng, phù hợp với xu thế phát triển của tình hình thế giới.
Tháng 4 năm 1976, CHLB Đức lập Đại sứ quán ở Hà Nội. Tháng 8 năm
1976, Đại sứ đầu tiên của CHLB Đức sang Việt Nam nhận nhiệm vụ. Cuối
tháng 8 năm 1976, Việt Nam lập sứ quán tại Bon và tháng 3 năm 1977, Đại sứ
Việt Nam sang CHLB Đức làm nhiệm vụ.
Tháng 2 năm 1977, Bộ trưởng dầu khí Đinh Thức Thiện sang thăm
CHLB Đức và ký hợp đồng nguyên tắc về việc Công ty Dominex thăm dò và
khai thác dầu khí ở Việt Nam.
Tháng 4 năm 1977, Bộ trưởng thương mại CHLB Đức thông qua quyết
định viện trợ kỹ thuật cho Việt Nam.
Như vậy, trước năm 1990 quan hệ giữa CHLB Đức và Việt Nam đã có những
bước khởi đầu, mở ra một trang mới trong quan hệ hai nước về sau.
2.2 Quan hệ từ 1990 đến nay
Năm 1990, một sự kiện hết sức quan trọng trong nền chính trị Đức nói
riêng và nền chính tị thế giới nói chung đó là việc nước Đức tái thống nhất.
Việc tái thống nhất nước Đức cùng với nó sau đó là chiến tranh lạnh kết thúc,
mở ra quan hệ mới giữa Việt Nam và CHLB Đức.
Sau chiến tranh lạnh, Việt Nam có một vị trí chiến lược hết sức quan
trọng trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của CHLB Đức. Với sức
Vương Mạnh Hùng
12Lớp: Thông tin đối ngoại 32
mạnh tài chính- kinh tế đứng đầu châu Âu và hàng thứ ba thế giới, nước Đức
từ khi thống nhất đến nay đang tìm mọi cách để mở rộng phạm vi ảnh hưởng
13Lớp: Thông tin đối ngoại 32
những nước ủng hộ Việt Nam cải thiện và tăng cường quan hệ với EU. Kể từ
khi Việt Nam và EU bình thường hóa quan hệ (tháng 11/ 1990), thông qua
EU, chính phủ Đức đã đóng vai trò rất lớn tỏng việc phát triển mối quan hệ
Việt Nam- EU.
Từ năm 1990 đến nay, khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với liên
minh châu Âu thì mối quan hệ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
CHLB Đức ngày càng mật thiết hơn. Đó là các cuộc viếng thăm chính thức
của các nhà lãnh đạo Việt Nam như Võ Văn Kiệt - Thủ tướng chính phủ thăm
chính thức CHLB Đức tháng 6 năm 1993.
Và quan hệ hợp tác và trao đổi về phía quốc hội giữa hai bên Việt Nam
và Đức cũng được phát triển và mở rộng. Đáng chú ý nhất là chuyến đi của
Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh sang thăm CHLB Đức và Nghị viện châu
Âu năm 1995. Những cuộc đi thăm và tiếp xúc cấp cao của ngành lập pháp
giữa hai bên đã tạo ra những cơ sở chính trị quan trọng thúc đẩy sự phát triển
các mối quan hệ đa dạng trong nhiều lĩnh vực giữa hai nước: “Quan hệ Việt
Nam và CHLB Đức đang phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu”.
Đặc biệt năm 1995, Thủ tướng CHLB Đức thăm chính thức Việt Nam.
Đây là chuyến thăm đầu tiên của người đứng đầu chính phủ CHLB Đức sang
thăm chính thức Việt Nam kể từ khi hai nước đặt quan hệ ngoại giao vào ngày
23/09/1975. Đây là mọt sự kiện lịch sử quan trọng , đánh dấu một mốc mới
quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam và CHLB Đức. Trong chuyến thăm
này của Thủ tướng Đức H.Coll, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt hoan
nghênh chủ trương của chính phủ CHLB Đức và cá nhân ngài thủ tướng tăng
cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, đặc biệt là về kinh tế và
thương mại, khuyến khích các nhà doanh nghiệp Đức tăng cường đầu tư vào
Việt Nam. Trong buổi hội đàm, Thủ tướng đánh giá cao về sự giúp đỡ về kinh
tế và kỹ thuật do CHLB Đức dành cho Việt Nam. Có thể nói rằng chuyến
Hội nghị cấp cao ASEM 5 tại Hà Nội
Tại thành phố Vinh, trước đây trong quan hệ với nước Đức, Cộng hòa
dân chủ Đưc đã có một dự án đầu tư tại đây như dự án xây dựng Trường dạy
nghề Việt- Đức, Cung văn hóa Teleman (nay là Nhà văn hóa thiếu nhi ViệtĐức), và một số dự án khác. Phát huy truyền thống trong quan hệ trước đây,
những năm gần đây CHLB Đức đang có một số dự án đầu tư tại Thành phố
Vinh nói riêng và Nghệ An nói chung. Như dự án thoát nước và vệ sinh môi
trường tại Thành phố Vinh giai đoạn 1 (từ 2000 – 2003) bằng nguồn vốn
chuyển nợ thành viên viện trợ với tổng số vốn 103.889 tỷ đồng. Giai đoạn 2
(từ 2004- 2008) bằng số vốn vay từ nguồn vốn ODA của Đức với tổng số 9
triệu EURO- chương trình xử lý nước thai triệt để. Và dự án trồng rừng với số
vốn không hoàn lại 3 triệu USD được thực hiện tại 4 huyện Diễn Châu, Yên
Thành, Quỳnh Lưu và Thanh Chương trong thời gian 2000- 2005. Đặc biệt,
CHLB Đức hiện nay đang đầu tư nguồn vốn không hoàn lại tại trường dạy
nghề Việt- Đức giai đoạn 1(2000- 2005) với tổng số vốn 1 triệu USD bằng
xây dựng dây chuyền mộc. Giai đoạn 2 (2005- 2006) với số vốn 312 nghìn
USD bằng xây dựng hệ thống thiết bị điện và thiết bị dạy nghề. Như vậy,
Vương Mạnh Hùng
16Lớp: Thông tin đối ngoại 32
Nghệ An và Thành phố Vinh trong những năm gần đây CHLB Đức đã có một
số dự án và trong đó CHLB Đức quan tâm hơn đến vấn đề môi trường.
2.3 Thành quả đạt được và hạn chế
2.3.1 Thành quả đạt được
Bước vào đầu thập kỷ 1990, cùng với việc Chiến tranh lạnh kết thúc đã
làm cho thế giới có những thay đổi nhanh chóng và sâu sắc, xu thế hợp tác và
ngày càng phát triển, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước đang ngày càng trở
Về phía Việt Nam, Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định chính sách lâu
dài và nhất quán là coi trọng và không ngừng củng cố phát triển và mở rộng
quan hệ với CHLB Đức, bởi lẽ đối với Việt Nam, để hiện đại hoá đất nước thì
việc tranh thủ nguồn vốn và kỹ thuật bên ngoài, đặc biệt đối với CHLB Đức
là một cường quốc về công nghệ là điều cực kỳ quan trọng. Việt Nam ủng hộ
CHLB Đức mở rộng vai trò và đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ hoà
bình và an ninh khu vực, thúc đẩy hợp tác cùng phát triển trên thế giới và khu
vực. Điều này một mặt phản ánh xu thế bình đẳng hơn trong quan hệ quốc tế,
mặt khác cho thấy vị thế của cả hai nước đều đã cao hơn trước đối với các
nước khác, cũng như đối với nhau.
Có thể nói rằng, chính quan hệ Đức- Việt ngày càng phong phú và mở
rộng từ trước đến nay, đăc biệt là khi CHLB Đức thiết lập quan hệ ngoại giao
chính thức với Việt Nam năm 1975 và quan hệ từ 1990 đến nay, khi nước Đức
tái thống nhất nó đã tạo cơ sở để nhân dân hai nước ngày càng hiểu biết lẫn
nhau nhiều hơn. Đây chính là thành quả rất lớn mà khi chúng ta đề cập đến
quan hệ Đức- Việt nhất là từ 1990 đến nay.
Hai là, kết quả thứ hai trong quan hệ giữa hai nước Đức- Việt là trên
lĩnh vực đối tác thương mại của nhau.CHLB Đức là đối tác thương mại lớn
nhất của Việt Nam trong liên minh châu Âu (EU).Quan hệ thương mại thời
quan qua tương đối khả quan. Theo thống kê của Đức thì từ 1991 đến 1999
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng hơn 900%, với tổng kim ngạch
xuất khẩu hiện nay lên đến trên 1 tỷ USD. Cụ thể kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam sang Đức năm 1991: 6,7 triệu USD; năm 1995: 218,0 triệu USD;
năm 1997: 411,4 triệu USD; năm 1998: 587,9 triệu USD; năm 1999: 654,9
triệu USD; năm 2000: 730,1 triệu USD và 5 tháng năm 2001: 295 triệu USD.
Con số này phản ánh sự phát triển có lợi cho Việt Nam nhiều hơn cho Đức.
Trong mối quan hệ này, nhiều sản phẩm của Việt Nam đã dành chỗ đứng trên
Vương Mạnh Hùng
18Lớp: Thông tin đối ngoại 32
19Lớp: Thông tin đối ngoại 32
Bảng: Xuất nhập khẩu Việt Nam – Đức từ 2006 – 2012
(Đơn vị tính: 1000000 USD)
Năm
VN xuất
VN nhập
Tổng XNK
2006
1445
914
2359
2007
1855
1308
3163
2008
2073
1480
3553
2009
1885
1587
3472
nguồn tài chính nhằm thực hiện các dự án cho người Việt Nam từ Đức trở về
quê hương.CHLB Đức còn là nước đi đầu xóa nợ cho Việt Nam tại Hội nghị
câu lạc bộ Pari, tạo điều kiện để khai thông nguồn tài chính quốc tế cho Việt
Nam. Trong quan hệ song phương, để giải quyết phần nợ cho Việt Nam, hai
nước đã ký hiệp định giảm nợ năm 1994, theo đó năm 1996 CHLB Đức sẽ
giảm 40 triệu DM và năm 1998 giảm tiêp s36 triệu DM cho Việt Nam.
Ngoài ra, CHLB Đức cũng là một trong những nước hàng đầu trong
việc viện trợ phát triển chính thức cho Việt Nam. Điều quan trọng hơn là
ODA mà chính phủ Đức dành cho Việt Nam tăng theo từng năm. “Nếu như
năm 1990 mới đạt 12 triệu DM, thì đến năm 2000 đã kê tới 107 triệu DM”.
Hiện nay, CHLB Đức đứng thứ ba trong số các nước cung cấp ODA cho Việt
Vương Mạnh Hùng
20Lớp: Thông tin đối ngoại 32
Nam với tổng số tiền trên 868 triệu DM. Mặc dù gần đây CHLB Đức đã cắt
đáng kể nguồn ODA cũng như danh sách một số nước được nhận ODA (từ 178
nước xuống còn 78 nước) song Việt Nam vẫn là nước được ưu tiên. Các khoản
viện trợ này tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: hỗ trợ cải cách hành chính, bảo
vệ và tái tạo sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tăng cường phát triển nguồn nhân
lực, giáo dục đào tạo, sức khỏe, xóa đói giảm nghèo. Ngoài nguồn vốn ODA
định kỳ hàng năm theo các hiệp định đã ký, chính phủ CHLB Đức còn dành
một nguồn tài chính đáng kể viện trợ đột xuất cho Việt Nam.
Bảng: Tình hình ký kết vốn ODA của Đức cho Việt Namthời kỳ 1991 - 2005
ĐVT: Triệu Euro
Năm
1991
1992
1993
32,3
20,7
46,9
41,8
5,1
15,1
4,9
10,2
22,4
12,9
9,5
16,4
3,5
12,9
47,6
11,8
35,8
32,7
23,0
9,7
66,0
50,9
15,1
25,3
14,0
11,3
40,1
26,1
14,0
482,1
hai nước một cách thuận lợi, lâu dài và thiết thực.
Việt Nam đã có hàng ngàn người được đào tạo trong các trường Đại
học, các Viện nghiên cứu nổi tiếng của Đức,đặc biệt là trong các thập niên
gần đây, đã và đang giữ những trọng trách trong nhiều Bộ, ngành, các cơ quan
ở trung ương và địa phương. Hàng trăm nghìn lao động Việt Nam đã hoặc
đang còn làm việc ở Đức. Nước Đức cũng đã gửi sinh viên đến Việt Nam để
học tiếng Việt, nghiên cứu lịch sử, văn hoá Việt Nam… trong những năm qua.
Nhiều người trong số đó đã từng là những chuyên gia nổi tiếng và thông thạo
tiếng Việt không kém gì người Việt Nam.Đó chính là cơ sở chắc chắn để ngày
nay Việt Nam đã có khá nhiều lớp học tiếng Đức và ở Đức cũng có đủ lực
lượng để dạy tiếng Việt trong một số trường Đại học. Không những vậy, phía
CHLB Đức cho đến nay còn tiến hành nhiều hình thức đào tạo trực tiếp tại
Vương Mạnh Hùng
22Lớp: Thông tin đối ngoại 32
Việt Nam nhằm nâng cao trình độ năng lực về nhân tố con người phục vụ cho
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam.
Cùng với cái vốn con người đã được đào tạo và tiếp tục đào tạo, sự
thông thạo hiểu biết ngôn ngữ của nhau thì những kinh nghiệm và kết quả
trong quan hệ với nhau mà hai nước đã thu lượm được trong suốt mấy thập kỷ
qua là hết sức to lớn. Cho đến nay, có hàng trăm nghìn người Việt Nam biết
và thông thạo tiếng Đức, cũng như có hàng trăm nghìn người Đức thông thạo
tiếng Việt, cùng với đội ngũ cán bộ đông đảo. Đó có thể coi như những nhân
tố thuộc “cơ sở hạ tầng” rất quan trọng để hai nước tăng cường hơn nữa các
mối quan hệ Việt Nam - Đức, đặc biệt khi nước Đức đã là một thể thống nhất
vào ngày 3/10/1990, sau một thời gian dài chia cắt, với tên gọi đầy đủ là Cộng
hoà Liên bang Đức. Chính cơ sở hạ tầng đó là nền tảng để ngày nay CHLB
phẩm cũng như gây ra các cản trở khác trong giao thương. Môi trường pháp
luật trong nước còn gây những trở ngại đối với các doanh nghiệp xuất khẩu.
Trong các chính sách và quy định thương mại của Việt Nam còn có nhiều vấn
đề, vai trò của các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp vừa và nhỏ chưa được đề cao đúng mức trong kinh doanh xuất nhập
khẩu. Ngoài ra, luật pháp Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
còn chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ chưa có chế tài khoa học, chặt chẽ phù
hợp với điều kiện Việt Nam.
Đồng thời, một thực tế cũng cho thấy là quy mô và khối lượng đầu tư
của Đức vào Việt Nam còn ở mức quá khiêm tốn so với thực lực kinh tế của
Đức và còn xa mới đáp ứng được sự mong đợi của Việt Nam.Một số tập đoàn
lớn tuy đã có quan hệ thương mại với Việt Nam từ nhiều năm nay nhưng vẫn
chưa có đầu tư trực tiếp. Tỉ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký còn thấp, quy
mô dự án nhỏ... Bên cạnh đó, mặc dù hiệu quả viện trợ của Đức tại Việt Nam
được đánh giá cao nhưng công tác vận động và quản lý ODA của Việt Nam
hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: thiếu đề án vận động ODA dài
hạn, đầu tư tràn lan, dàn trải, tình trạng chậm trễ, ách tắc trong quy trình thực
hiện dự án, quy trình thực hiện ODA của mỗi nhà tài trợ khác nhau, thiếu
thông tin và các vấn đề liên quan đến thu hút quản lý dự án, tiến trình thực
hiện và giải ngân chậm trễ, hạn chế về nguồn nhân lực, bộ máy ban chỉ đạo và
ban quản lý cồng kềnh... Những lý do đó đã gây lãng phí và hạn chế hiệu quả
nguồn vốn viện trợ ODA từ Đức. Điều đó không chỉ làm hạn chế cho sự phát
Vương Mạnh Hùng
24Lớp: Thông tin đối ngoại 32
triển kinh tế mà còn có tác động tiêu cực đến các lĩnh vực văn hoá, giáo dục,
y tế, khoa học kỹ thuật, thông tin...
25Lớp: Thông tin đối ngoại 32