ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM
ĐỀ TÀI:
THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH LƯƠNG THƯỞNG ĐỂ TẠO
ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN
Nhóm thực hiện: Nhóm 7
1. Trần Thị Luyến
2. Phạm Thị Nga
3. Vũ Thị Hà Ngân
4. Phan Ánh Ngọc
5. Nguyễn Ngọc Phú
6. Đặng Trần Phục
Hà Nội, 05/2012
LỜI MỞ ĐẦU
Tiền lương, thưởng là một phạm trù kinh tế tổng hợp, có ý nghĩa vô cùng
quan trọng đối với người lao động vì nó là nguồn thu nhập chính đảm bảo cuộc
sống của bản thân và gia đình họ. Thu nhập của người lao động được coi là vấn
đề quan tâm hàng đầu của mọi người và của toàn xã hội. Thông qua thu nhập bình
quân của người dân một quốc gia cũng nói lên phần nào sự phát triển về kinh tế xã
hội của quốc gia đó, bởi vậy, cải thiện và nâng cao mức sống cho người lao động
luôn là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ.
Đối với doanh nghiệp, tiền lương, thưởng có mối quan hệ mật thiết với hoạt
động sản xuất kinh doanh, đó là một yếu tố chi phí đầu vào quan trọng, là bộ phận
cấu thành nên giá thành của sản phẩm. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sức
lao động trở thành hàng hóa thì tiền lương, thưởng là một nhân tố quan trọng kích
thích người lao động tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao trình độ
tay nghề, gắn trách nhiệm của người lao động với công việc từ đó nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh khủng hoảng nền kinh tế toàn
cầu, lạm phát tăng cao, tác động của các yếu tố: lãi suất, trượt giá… làm mức thu
nhập thực tế của người lao động giảm khiến cuộc sống khó khăn, người lao động
động.
1.2. Bản chất
Tiền lương là một phạm trù gắn với phạm trù lao động. Song lao động là
một phạm trù vĩnh viễn, còn tiền lương là phạm trù lịch sử, nó ra đời tồn tại và
phát triển trong nền kinh tế hàng hoá. Tiền lương là một hình thức trả công lao
động.Trong nền kinh tế thị trường để đo lường hao phí lao động trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm người ta có thể sử dụng thước đo tiền tệ thông qua việc trả
lương.
Bản chất của tiền lương thay đổi tuỳ theo điều kiện, trình độ phát triển và
nhận thức của con người. Với trình độ khác nhau, trong những giai đoạn phát triển
khác nhau của xã hội loài người tiền lương được hiểu không giống nhau.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá, tiền lương là một phần của thu nhập quốc
dân. Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường thì tiền lương được coi là giá cả sức lao động. Giờ đây, tiền lương
không phải chỉ đơn thuần là giá cả sức lao động nữa mà nó còn bao gồm nhiều yếu
tố khác.
Tiền lương được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa người lao động
và người sử dụng lao động. Khác với trao đổi hàng hoá thông thường, tiền lương
4
là một phạm trù thuộc lĩnh vực phân phối,do đó nó phải xuất phát từ yêu cầu của
xã hội và do các quy luật xã hội quyết định. Bởi vậy, nguyên tắc trả lương, hệ số
lương và mức lương cụ thể của người lao động cao hay thấp phụ thuộc vào trình
độ phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ lịch sử nhất định.
Việc trả lương phải kết hợp hài hoà ba lợi ích:
- Đảm bảo cho doanh nghiệp hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Đảm bảo duy trì và phát triển doanh nghiệp (bảo toàn vốn, tái tạo tài sản
cố định,…).
- Đảm bảo đời sống của người lao động.
1.3. Vai trò
Tiền lương là một trong những công cụ kích thích lợi ích vật chất đối với
quản lý nguồn nhân lực. Do đó, việc lập ra được một chế độ tiền lương có tính
cạnh tranh là điều hết sức quan trọng đối với việc thu hút và lưu giữ nhân tài phục
vụ cho tổ chức, từ đó cung cấp được cơ sở vững chắc để doanh nghiệp có ưu thế
cạnh tranh trên thị trường.
2. Nguyên tắc điều chỉnh lương
Khi điều chỉnh tiền lương phải tuân thủ theo ba nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, tiền lương phải được trả trên cơ sở sức lao động và năng suất lao
động. Những lao động có trình độ nghề nghiệp cao, thành thạo và chất lượng cao
thì được trả công cao và ngược lại. Do vậy, tiền lương phải phản ánh đúng giá trị
của sức lao động và được coi là giá cả sức lao động.
Thứ hai, trả lương phải căn cứ vào điều kiện lao động cụ thể. Việc trả công
lao động phải tính đến thực trạng của quá trình lao động để kịp thời động viên
năng lực sẵn có, giải phóng sức lao động và bù đắp khó khăn mà người lao động
6
phải gánh chịu nhằm nâng cao năng suất lao động. Trong quá trình lao động,
người lao động chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố như điều kiện và môi trường
lao động, mức độ nặng nhọc của công việc, do vậy, việc trả lương phải đảm bảo
tính hợp lý, thông qua chế độ phụ cấp nhằm bù đắp hao phí lao động cho người
lao động.
Thứ ba, trả lương trên cơ sở của sự thoả thuận giữa người lao động và người sử
dụng lao động. Sự thoả thuận là yếu tố tinh thần căn bản của tiền lương trong quan
hệ hợp đồng lao động.
II. Tiền thưởng
1. Khái niệm
Tiền thưởng là một dạng khuyến khích tài chính được chi trả một lần
(thường là vào cuối quý hoặc cuối năm) để thù lao cho sự thực hiện công việc của
người lao động. Tiền thưởng cũng có thể đuợc chi trả đột xuất để ghi nhận những
thành tích xuất sắc như hoàn thành dự án công việc trước thời hạn, tiết kiệm ngân
sách hoặc cho các sáng kiến cải tiến có giá trị.
2. Nội dung
Thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm
-
Thưởng hoàn thành vượt mức năng suất lao động
-
Thưởng tiết kiệm vật tư, nguyên liệu.
Ngoài các chế độ và hình thức thưởng như trên, các doanh nghiệp còn
có thể thực hiện các hình thức khác, tuỳ theo điều kiện và yêu cầu thực tế
của hoạt động sản xuất kinh doanh.
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trả lương, thưởng cho người lao
động trong doanh nghiệp.
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc trả lương rất đa dạng, phong phú và có
thể chia thành 2 nhóm: nhóm các nhân tố khách quan; nhóm các nhân tố chủ quan
như: các yếu tố thuộc về doanh nghiệp, các yếu tố thuộc về công việc và yếu tố
thuộc về cá nhân người lao động. Tất cả những yếu tố này có ảnh hưởng tích cực
8
và tiêu cực đến việc trả lương trong doanh nghiệp. Do vậy, các doanh nghiệp khi
xây dựng chính sách tiền lương cho doanh nghiệp mình cần quan tâm tới sự ảnh
hưởng của các nhóm nhân tố đó.
1. Các yếu tố khách quan:
* Cung cầu lao động: Về bản chất kinh tế, tiền lương là giá cả sức lao động
vì vậy nó phụ thuộc không chỉ vào số lượng và chất lượng lao động mà còn chịu
sự chi phối của quan hệ cung cầu sức lao động nói riêng và thị trường lao động
nói chung. Tiền lương được ấn định bằng sự thoả thuận giữa người sử dụng lao
động hoặc bằng pháp luật và những quy định của Nhà nước. Khi xác định mức
lương bổng doanh nghiệp cần phải quan tâm tới các yếu tố cung cầu sức lao động,
mức lương trên thị trường, chi phí sinh hoạt, xu hướng phát triển của nền kinh tế,
pháp luật và những quy định của Nhà nước về tiền lương.
Trong nền kinh tế thị trường cung lao động lớn hơn cầu lao động thì tất yếu
dẫn đến hiện tượng có một lượng lao động dư thừa thiếu việc làm. Việc dư thừa
lao động và thiếu việc làm có thể dẫn tới tình trạng vì cần việc làm mà người lao
chính phủ bảo vệ vì vậy các doanh nghiệp khi sử dụng lao động cần tuân thủ
những quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến người lao động. Có chế
độ tiền lương, tiền thưởng hợp lý, đối xử công bằng với người lao động không
phân biệt nam nữ khi trả lương. Nhất là đối với các công ty nước ngoài cần tuân
thủ nghiêm ngặt những quy định này.
2. Các yếu tố chủ quan:
2.1. Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp:
Đây cũng là nhóm yếu tố có ảnh hưởng mạnh tới việc trả lương trong
doanh nghiệp. Tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền trong chi phí sản xuất kinh
doanh do đó phải tính đúng, tính đủ các yếu tố hợp thành tiền lương. Khi tăng
10
lương đảm bảo mức tăng năng suất lao động nhanh hơn mức tăng tiền lương, có
như vậy doanh nghiệp mới thực hiện được mục tiêu của mình.
* Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Đối với những doanh nghiệp lớn có
nhiều cấp quản trị, trong đó quản trị cấp cao thường xuyên quyết định cơ cấu thù
lao. Do vậy, có thể bất lợi cho những nhân viên cấp dưới vì các nhà quản trị cấp
cao ít có điều kiện sâu sát nhân viên. Ngược lại với doanh nghiệp có ít bậc quản trị
thì cấp quản trị trực tuyến sẽ quyết định các vấn đề lương bổng thì công nhân có
nhiều khả năng được hưởng lương hợp lý hơn.
* Bầu không khí, văn hoá doanh nghiệp: ảnh hưởng đến cách tuyển chọn
nhân viên, đến thái độ của cấp trên đối với cấp dưới, đến hành vi công tác do đó
nó ảnh hưởng đến việc sắp xếp mức lương.
Một số doanh nghiệp muốn đứng đầu trong việc trả lương, họ trả lương cao
hơn các doanh nghiệp khác để thu hút nhân tài, bởi vì họ cho rằng trả lương cao sẽ
thu hút được các ứng cử viên có trình độ và có tay nghề. Một số doanh nghiệp
khác lại áp dụng mức lương thịnh hành nghĩa là mức lương trung bình mà hầu hết
các doanh nghiệp khác đang áp dụng. Họ cho rằng việc trả lương này vẫn có khả
năng thu hút những người có năng lực đồng thời họ vẫn giữ được vị trí cạnh tranh
bằng cách không nâng giá sản phẩm hàng hoá dịch vụ của mình.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt các doanh nghiệp cần tạo
năng sáng tạo.
* Các yếu tố khác thuộc về cá nhân như kinh nghiệm, tiềm năng, thành
viên trung thành đều ảnh hưởng tới việc trả lương trong doanh nghiệp. Mỗi con
người đều có sức mạnh tiềm năng, chỉ khi có điều kiện môi trường thuận lợi thì
sức mạnh đó mới được phát huy và khi đó góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế
của doanh nghiệp.
2.3. Bản thân công việc:
12
Khi xây dựng mức lương, các doanh nghiệp cần quan tâm đến sự phù hợp
giữa mức lương với tính chất công việc. Cần phải đánh giá mức độ phức tạp của
công việc để lựa chọn nhân viên có khả năng đảm nhiệm công việc đó. Để đánh
giá đo lường công việc cần phải lựa chọn những yếu tố căn bản hiện diện trong
mọi công việc. Các yếu tố kỹ năng, mức cố gắng, trách nhiệm và các điều kiện
làm việc khác nhau nên phải xác định giới hạn cho từng công việc. Đánh giá công
việc là một thủ tục có tính hệ thống nhằm đo lường giá trị và tầm quan trọng của
công việc dựa trên nhiều nhân tố từ đó loại bỏ đi những bất bình đẳng trong cơ
quan chỉ vì trả lương bất hợp lý.
13
PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG, THƯỞNG TẠI
CÔNG TY DỆT KIM THĂNG LONG
I. Khái quát về Công ty Dệt Kim Thăng Long
Công ty Dệt Kim Thăng Long là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở
Công nghiệp Hà Nội. Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể chia ra
5 thời kỳ.
Thời kỳ năm 1959 đến năm 1975:
Tháng 2 năm 1959, xí nghiệp Dệt kim Cự Doanh được thành lập dựa trên
cơ sở công ty hợp doanh giữa Nhà nước với xưởng dệt Cự Doanh ở phố Hàng
Quạt - Hà Nội của nhà tư sản Trịnh Văn Căn.
Từ khi thành lập cho đến năm 1975, sản phẩm chủ yếu của xí nghiệp là áo
may ô và áo lót nam phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và trang bị cho quân đội
dưới 2 triệu chiếc. Giờ đây, của công ty đã mạnh dạn vững bước trên con đường
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với những thử thách và thắng lợi mới
Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty:
Công ty Dệt Kim Thăng Long có chức năng chính là chính là sản xuất kinh
doanh các sản phẩm dệt kim vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, vừa xuất
khẩu ra ngoài nước.
Các sản phẩm chủ yếu của Công ty:
15
+ Áo T-Shirt, Polo - Shirt, quần dài, quần áo lót là những mặt hàng xuất
khẩu của Công ty.
+ Áo jacket không phải là mặt hàng được sản xuất thường xuyên và mặt
hàng chủ yếu là nhận gia công.
+ Quần áo thể thao là mặt hàng mới trong Công ty, được sản xuất theo đơn
đặt hàng, nó không phải là mặt hàng chủ yếu.
Ngoài ra, Công ty còn sản xuất theo đơn đặt hàng trong nước, có khi là
nhận gia công một số mặt hàng như: quần áo bơi, quần áo mưa, màn các loại.
II. Thực trạng công tác trả lương, thưởng tại Công ty Dệt Kim Thăng Long
1. Thực trạng chính sách lương
Hiện nay Công ty đang áp dụng 2 hình thức trả lương:
1.1. Hình thức trả lương theo thời gian:
Công ty Dệt Kim Thăng Long áp dụng chế độ trả lương theo thời gian đơn
giản để trả lương tháng cho lao động quản lý - phục vụ
Lao động quản lý - phục vụ ỏ Công ty Dệt Kim Thăng Long bao gồm:
+ Cán bộ lãnh đạo: Giám đốc, Phó giám đốc, Trưởng phòng, Phó phòng.
+ Những người lao động làm các công việc theo chuyên môn, nghiệp vụ
+ Các nhân viên khác: nhân viên y tế, bảo vệ, lái xe
Tiền lương của lao động quản lý - phục vụ được tính như sau:
TT
CD
TG
Lao động quản lý và phụ vụ xưởng tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm
nhưng công việc của họ góp phần phục vụ, phụ trợ cho hoạt động của công nhân
sản xuất. Do đó, lương sản phẩm của quản lý và phục vụ xưởng phụ thuộc vào hao
phí thời gian lao động của công nhân sản xuất, vào số sản phẩm của công nhân sản
xuất, phụ thuộc vào hệ số cấp bậc công nhân của từng người.
Tiền lương của lao động quản lý và phục vụ xưởng được tính như sau:
- Tính đơn giá lương sản phẩm của lao động quản lý và phục vụ xưởng:
ĐG
sp
= T
ql-pv
* ĐG
tg
Trong đó:
ĐG
sp
: đơn giá sản phẩm của lao động quản lý và phục vụ xưởng
ĐG
tg
: đơn giá của lao động quản lý và phụ vụ xưởng
T
ql-pv
: hao phí thời gian của lao động quản lý và phục vụ xưởng
17
- Tính tổng tiền lương trả cho lao động quản lý và phục vụ xưởng
L =
i
n
i
i
i
G§
1
*q
i
Trong đó:
L
cn
: Tiền lương mỗi công nhân sản xuất nhận được.
ĐG
i :
đơn giá công đoạn i
q
i
: số lượng công đoạn i
18
n: số công đoạn trong một sản phẩm.
2. Thực trạng chế độ thưởng
Hiện nay Công ty có các chế độ thưởng sau:
- Thưởng lễ 30/4 & 1/5, Ngày quốc khách, Tết Dương lịch:
•
Toàn bộ CBCNV được hưởng mức thưởng bằng nhau.
•
Số tiền thưởng từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng tuỳ thuộc vào kết
quả kinh doanh của Công ty.
- Thưởng tháng lương 13 (tết AL): được tính như sau:
Thưởng tháng 13 = tỷ lệ % * [tổng lương thực tế trong năm (không phải
lương hợp đồng) / 12 tháng].
- Thưởng chuyên cần:
•
lãng phí nguyên vật liệu,
Thứ hai: Chế độ trả lương cũng như trả thưởng chưa có tác dụng làm đòn
bẩy tạo động lực cho nhân viên
Thứ ba: Chế độ thưởng của Công ty vẫn còn đơn điệu, chưa gắn với chất
lượng sản phẩm, chưa có mối quan hệ giữa các chế độ thưởng.
Thứ tư: Chế độ trả lương và thưởng tách rời nhau
Điều đó nhất thiết cần phải thay đổi chế độ trả lương thưởng làm sao vừa
đảm bảo đời sống cho công nhân viên, vừa phải thúc đẩy họ làm việc, gắn bó họ
với Công ty.
20
PHẦN III: ÁP DỤNG MÔ HÌNH PHÂN TÍCH TRƯỜNG LỰC CỦA
LEWIN (1951) VÀO QUYẾT ĐỊNH THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH
LƯƠNG, THƯỞNG
I. Giới thiệu về mô hình phân tích trường lực
Phân tích trường lực do Lewin (1951) xây dựng và được sử dụng rộng rãi
để tìm hiểu quá trình hoạch định chính sách, đặc biệt trong việc xây dựng kế
hoạch và thực tiễn các chương trình về quản lý thay đổi tại tổ chức. Đó là một
phương pháp mạnh để có được một tổng quan toàn diện về những lực lượng khác
nhau ảnh hưởng đến vấn đề chính sách tiềm năng và đánh giá nguồn và điểm
mạnh của chúng.
Các bước chi tiết:
-
Bước 1: Xác định lĩnh vực có thay đổi
-
Bước 2: Liệt kê những lực lượng ủng hộ sự thay đổi (bên trái),
liệt kê những lực lượng chống lại sự thay đổi (bên phải)
-
Bước 3: Chấm điểm các yếu tố động lực và cản trở theo cường
độ từ 1 (yếu) đến 5 (mạnh)
-
công ty.
- Tạo sự trung thành, gắn bó lâu
dài, giữ chân nhân viên giỏi do
họ thấy được sự quan tâm của
công ty, của ban lãnh đạo dành
cho họ.
- Thu hút được nhân lực giỏi từ
bên ngoài với chính sách lương
thưởng hấp dẫn.
- Tránh tình trạng đình công do
tổng thu nhập quá thấp, không
đảm bảo cuộc sống
- Tăng chi phí, gây khó khăn cho
doanh nghiệp.
- Tư duy bảo thủ của ban lãnh
đạo: Lợi nhuận = Doanh thu –
Chi phí, cắt giảm chi phí xuống
mức thấp nhất để tối đa hóa lợi
nhuận. Điều này đồng nghĩa với
việc cần hạn chế ở mức thấp
nhất tăng lương thưởng cho nhân
viên.
- Sợ thất bại: chính sách tăng
lương thưởng có tác dụng không
nhiều trong việc nâng cao hiệu
quả công việc của nhân viên.
- Ban lãnh đạo thấy chưa cần thay
đổi: nhân viên làm việc ở mức
năng suất hiện tại là đạt yêu cầu
rồi, chưa cần thay đổi chính sách
hoàn thiện, đưa chính sách mới
hợp lý hóa thành văn bản.
- Sợ thay đổi quá nhiều gây xáo
trộn hoạt động của tổ chức vốn
đã đi vào ổn định.
Trong quá trình phân tích trường lực, ban lãnh đạo cần chú ý một số vấn đề sau:
+ Gánh nặng tài chính: Hiệu quả kinh tế mang lại từ kết quả làm việc của nhân
viên cần có thời gian và việc đo lường không phải lúc nào cũng đơn giản và rõ
24
ràng. Trong khi đó, ngân sách nhân sự lớn hơn hiển hiện hàng tháng. Ngoài ra, để
kéo được một nhân tài đang công tác ở công ty khác chỉ bằng chính sách lương
thưởng cao không phải đơn giản vì doanh nghiệp khác có thể sẵn sàng đưa ra đề
nghị hấp dẫn hơn nữa để giành được nhân tài.
+ Hình thành khoảng cách trong nội bộ: doanh nghiệp khó có thể đưa ra mức
thưởng cao cho tất cả nhân sự. Như vậy, sẽ hình thành một nhóm nhỏ có nhận
được quyền lợi nhiều hơn hẳn đa số còn lại. Điều này có thể mang lại hai tác động.
Thứ nhất, động lực cạnh tranh và cải thiện kết quả làm việc trong nhóm đa số
được khuyến khích. Mọi người đều cố gắng hết mình để được lọt vào nhóm đầu.
Thứ hai, phần đông còn lại có cảm giác về sự bất bình đẳng, chỉ làm việc cầm
chừng hoặc vì cho rằng với mức đối đãi từ công ty thì đóng góp của mình đã đủ
rồi, những người nhận được đặc quyền mới cần thể hiện tinh thần và trách nhiệm
lớn nhất với công việc.
+ Gia tăng xung đột lợi ích giữa bên sở hữu và bên điều hành doanh nghiệp:
khi doanh nghiệp đưa ra các quyền lợi hấp dẫn, tất nhiên doanh nghiệp kỳ vọng
lớn vào kết quả kinh doanh của đội ngũ nhân sự, đặc biệt là các cá nhân chủ chốt.
Với áp lực từ mục tiêu phải đạt được và mong muốn bản thân tiếp tục có điều kiện
hưởng thụ quyền lợi từ công ty, các cá nhân nắm giữ vị trí quản lý quan trọng có
thể đưa ra các quyết định hướng tới tăng trưởng kết quả kinh doanh ngắn hạn và
sẵn sàng hy sinh tính hiệu quả của sử dụng nguồn lực cũng như lợi ích dài hạn của