Đề tài: Chính sách lãi suất - Pdf 20

BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề ti
Chnh sch li sut
MỤC LỤC
  Ự Ậ 
 Đề a
 â
  Ụ Ụ 
   !   Ổ Ề Ấ Ơ Ả "
! #$ ự đờ "
% &ệ '
"(  )   * ố độ đế â ơ ả '
++   ! !       ,,,-Ự Í Ấ Ơ Ả Đ Ạ
,,.
//) $ % ủ ề ế.
$0   #$#1))$ 1  &,,2-,,â đềđặ đ ạ ă ,
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, lãi suất là một trong những biến số dược theo dõi một
cách chặt chẽ nhất trong nền kinh tế. Diễn biến của nó được đưa tin hàng ngày trên
các phương tiện thông tin đại chúng. Sự dao động của lãi suất ảnh hưởng trực tiếp
đến các quyết định của cá nhân, doanh nghiệp cũng như hoạt động của các tổ chức
tín dụng và toàn bộ nền kinh tế. Bài thuyết trình này sẽ cho người đọc thấy được và
hiểu được một số vấn đề cơ bản về lãi suất, phân biệt lãi suất với một số phạm trù
kinh tế, các nhân tố tác động đến lãi suất, và vai trò của lãi suất đối với nền kinh tế.
Từ đó người đọc sẽ thấy được vai trò, sự cần thiết của lãi suất.
Từ việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lãi suất, thấy rõ tầm quan trọng
của lãi suất,từ đó vận dụng vào thực tiễn vào Việt nam nhận thấy lãi suất được điều
hành dưới hình thức các chính sách lãi suất trong từng thời kỳ. Chính sách lãi suất là
một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát.lãi suất được sử dụng linh hoạt sẽ có tác
động tích cực đến nền kinh tế. Ngược lại lãi suất được giữ một các cố định, có thể

- Tăng trưởng tín dụng và mức tăng tổng phương tiện thanh toán: Là hai nhân
tố rất nhạy cảm với lãi suất cơ bản, thường được dung làm căn cứ cho việc điều
chỉnh lãi suất cơ bản ở Việt Nam.
4. Cách xác định lãi suất cơ bản:
Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng,
lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào
của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn. Theo Luật Dân sự, các tổ
chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản.
5. Các tác động của chính sách lãi suất cơ bản
Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình thành dựa trên sự ảnh hưởng
của lãi suất lên tổng cầu
i
, và đó cũng là điểm mấu chốt để sử dụng lãi suất trong việc
quản lý kinh tế. Trong cấu phần của tổng cầu có hai yếu tố sẽ chịu tác động trực tiếp
của việc thay đổi lãi suất là tiêu dùng và đầu tư. Trong đó, tiêu dùng sẽ giảm xuống
khi lãi suất tăng lên là do giá cả của việc vay mượn cho nhu cầu tiêu dùng trở nên đắt
đỏ hơn. Đối với đầu tư, chi phí vay mượn tăng làm cho khả năng sinh lời của các
khoản đầu tư trở nên thấp hơn. Vì thế mà việc tăng lãi suất cũng sẽ làm giảm mức độ
đầu tư, tuy nhiên, mức độ đầu tư giảm còn phụ thuộc vào sự co dãn của cầu đầu tư so
với lãi suất. Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống thì hành vi của người tiêu dùng và
nhà đầu tư thay đổi theo hướng ngược lại. Sự thay đổi đó được thể hiện bằng sự dịch
chuyển của đường tổng cầu (xem Biểu đồ 1).
Biểu 1: Ảnh hưởng lãi suất đến tổng cầu
Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn để
kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu. Cơ chế
truyền dẫn của lãi suất đến lạm phát thường được mô tả như sau: (xem Biểu đồ 2).
Biểu 2: Từ lãi suất đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Cầu nội
địa
Cầu

II. TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CƠ BẢN
GIAI ĐOẠN 2000 - 2010.
1. Tình Hình Chung Của Nền Kinh Tế.
a. Năm 2000 - 2001.
Tuy được nhắc đến trong Luật Ngân hàng Nhà nước và luật này có hiệu lực từ
ngày 1 tháng 10 năm 1998, song lãi suất cơ bản chỉ được công bố lần đầu vào ngày
30 tháng 5 năm 2000. Trong lần đầu được công bố, lãi suất cơ bản ở mức 7,2%/năm
theo quyết định 242/2000/QĐ - NHNN.
Đến ngày 02/08/2000 thay thế cơ chế lãi suất : tăng lãi suất cơ bản công bố lần
đầu ngày 30/05/2000 là 7,2%/năm lên 9%/năm ngày 05/08/2000
Thời kỳ này, nền kinh tế đi vào thời kỳ giảm phát:
+ Giá cả liên tục giảm.
+ Tình trạng ứ đọng sản phẩm, sản suất cầm chừng đặc biệt là khu vực nhà
nước.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm còn 6,75%/năm
+ Tình trạng ứ đọng vốn ở các ngân hàng lớn
Lãi suất cơ bản năm 2001 thay đổi 4 lần từ 9%/năm xuống còn 7,2%/năm.
Đến tháng 5-2001, ngân hàng nhà nước từng bước chuyển sang áp dụng hình
thức cho vay bằng ngoại tệ. Và kể từ sau tháng 5-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận
được áp dụng trong hoạt động tín dụng
Với những biện pháp đã áp dụng đã chặn được giảm sút về tăng trưởng kinh tế
; mức tổng cầu đã tăng lên đáng kể, đầu tư cho phát triển kinh doanh đã được phục
hồi nhanh: năm 2000 đã tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên 14,6% so với năm
1999;chi tiêu của Chính phủ thể hiện qua ngân sách nhà nước cũng tăng lên rõ rệt;
nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng lên khá nhanhNếu 6 tháng đầu năm 1999 khi chưa
thực thi chính sách thì tổng mức bán lẻ và dịch vụ chỉ tăng 1,5%thì năm 2000 chỉ tiêu
này là 9,1%; Xuất khẩu đã tăng từ 2% năm 1998 lên 23,3% năm 1999 và 25% năm
2000, năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 15,1 tỷ đô la tăng 45% so với
năm 2000; tình trạng ứ đọng hàng hoá , không tiêu thụ được trong năm 1998 dã được
đảy lùi; sản xuất có bước chuyển biến tích cực cả trong công nghiệp, nông nghiệp và

thực tế trong hai tháng đầu năm 2003 giá cả các mặt hàng của chúng ta đã tăng 3%,vì
vậy có nhiều người lo ngại là chúng ta không thể đạt được mục tiêu về lạm phát đã
đề ra là tỉ lệ lạm phát không quá 5%.
e. Năm 2004 -2007
Việt Nam đăng cai seagame lần thứ 23, bên cạnh măt tích cực đạt được thì hậu
quả của việc lạm phát là rất cao. Từ cuối năm 2006 đến giữa đầu năm 2007, nền kinh
tế Việt Nam nổi lên với nhiều sự kện, chỉ tiêu đầy hứa hẹn khi Việt Nam là thành
viên chính thức của WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào và kiều hối vào Việt
Nam tăng đột biến ( năm 2007 tăng 20 tỷ USD). Năm 2007 là năm ảm đạm của nền
kinh tế Mĩ khi mà đồng đô la xuống giá nghiêm trọng, sự suy thoái của nền kinh tế
lớn nhất này đã làm cho nhiều nền kinh tế khác trên thế giới chịu ảnh hưởng trong đó
co Việt Nam.
- Đồng tiền mất giá là ấn tượng đáng nhớ nhất năm 2007 và đầ năm 2008
Về nguyên tắc, khi luồng vốn đầu tư vào Việt Nam tăng, đồng Việt Nam sẽ lên
giá để tạo ra điểm cân bằng tuy nhiên Ngân hàng nhà nước vẫn công bố giữ vững ổn
định các mức lãi suất nhằm phát triển ổn định lãi suất thị trường, mặt bằng lãi suất
huy động và cho vay của tổ chức tín dụng vẫn giữ ở mức 8,25%/năm trong thời gian
dài tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư tăng trưởng kinh tế.
f. năm 2008 - 2010
- Ngày 01/02/2008 : Lãi suất cơ bản VNĐ tăng từ 8,25%/năm lên 8,75%/năm
- Quyết định ngày 16/2008/QĐ - NHNN ngày 16/05/2008 : Ấn định lãi suất
kinh doanh bằng VNĐ đối với khách hàng không được vượt quá 150% lãi suất cơ
bản.
- Năm 2008 kinh tế rơi vào khủng hoảng , lạm phát gia tăng do những tồn tại
và bất ổn của kinh tế Mỹ như: Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân thấp, nợ nước ngoài khổng lồ;
khủng hoảng nợ dưới chuẩn; khủng hoảng bất động sản. Khủng hoảng tài chính Mỹ
bắt nguồn từ việc các ngân hàng nước này quá dễ dãi, tùy tiện khi cho khách hàng
vay tiền để mua bất động sản qua các hoạt động cho vay không đạt tiêu chuẩn. Cuộc
khủng hoảng này tác động đến kinh tế Việt Nam trên một số mảng cơ bản: Lãi suất
cho vay liên ngân hàng quốc tế tăng dẫn đến nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân

Cuối tháng 6-2008, 2 tỉ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2 năm với lãi suất
11%/năm đã được huy động thành công(3). Mặc dù khối lượng không lớn nhưng dấu
hiệu này gợi mở khả năng tiếp tục duy trì các chính sách tiền tệ – tài chính vĩ mô.
Lưu ý rằng, chỉ hai tuần trước đó, phiên đấu thầu hai loại trái phiếu chính phủ ngày
13-6-2008 có kỳ hạn 2 năm và 3 năm đã không thu hút được bất kỳ thành viên nào
tham gia. Trên thị trường, có tổ chức tài chính sẵn sàng chuyển nhượng lượng trái
phiếu đang sở hữu với mức chiết khấu lên tới 40% mệnh giá, nhưng vẫn không tìm
được đối tác quan tâm.
So với giai đoạn khủng hoảng tiền tệ khu vực 1997-1998, chính sách tiền tệ
của Việt Nam trong năm 2008 sử dụng nhiều công cụ hơn và cường độ điều chỉnh
dồn dập hơn. Nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh vượt qua khó khăn trong bối cảnh
khủng hoảng tài chính khu vực, chính sách tiền tệ được mở rộng trong các năm từ
1997 đến 1999. Với mức lãi suất thực dương, các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác
động ổn định kinh tế vĩ mô. Chi phí lãi vay cao kết hợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp
lực lớn với sự vận hành sản xuất, kinh doanh trong năm 2008. Chấp nhận chi phí đầu
vào tăng cao, hạn chế mở rộng tín dụng là những dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân
hàng thương mại cũng gặp khó khăn với vấn đề thanh khoản. Điều này có thể là kết
quả của những khoản tín dụng chất lượng thấp đã cung cấp trong thời gian trước, với
tỷ lệ không nhỏ dành cho các dự án bất động sản và đầu tư tài chính.
2. Hai vấn đề đặt ra trong giai đoạn năm 2008 - 2010
Cơ chế điều chỉnh lãi suất một lần nữa trở thành tâm điểm chú ý của người làm
chính sách, cộng đồng kinh doanh và giới nghiên cứu – phân tích vào đầu năm 2010.
Ngân hàng nhà nước, ngày 26-2-2010, đã ra quyết định cho phép các ngân hàng thỏa
thuận lãi suất cho vay trung và dài hạn (có kỳ hạn trên 365 ngày) với doanh nghiệp.
Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) Lê Đức Thúy có ý kiến
tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ ngày 3-3-2010 rằng, Chính phủ có thể cân
nhắc dỡ bỏ trần lãi suất huy động 10,5% và nới rộng áp dụng cơ chế lãi suất thỏa
thuận cả với những khoản vay ngắn hạn (có kỳ hạn dưới 365 ngày). Tại thời điểm đó,
hai câu hỏi được đặt ra nhiều nhất: Thứ nhất, Ngân hàng nhà nước có tiếp tục sử
dụng lãi suất cơ bản làm công cụ chủ đạo điều tiết thị trường tiền tệ? Thứ hai, mặt

Để đảm bảo hấp dẫn, mức huy động lãi suất các ngân hàng phải rơi vào
khoảng trên 11,5%/năm trở lên với lãi suất kỳ hạn 3 tháng. Để có thêm chi tiết, có
thể xét lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng theo công bố của Vietcombank ngày 13-3 là
10,49% (VND) và 3,2% (USD). Ở mức kỳ vọng lạm phát thấp nhất, lãi suất VND 3
tháng phải đạt 11,79% và ở mức cao nhất (của phép tính giả định tại đây): 12,78%.
Rõ ràng không thấy sức hấp dẫn với lãi suất tiền đồng của ngân hàng, vì ở dưới các
cận này, tình trạng đô-la hóa sẽ gia tăng vì lợi ích của người gửi tiền. Từ quan sát
chuyển động vi mô này, chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu chứng khoán và bất động
sản được hưởng lợi từ sự dịch chuyển ý thức đầu tư vừa xét (5).
Câu hỏi thứ nhất gây nhiều lúng túng hơn. Bỏ lãi suất cơ bản đồng nghĩa với
việc Ngân hàng nhà nước mất đi một công cụ điều tiết thị trường? Cơ chế thỏa thuận
đã từng được áp dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, vậy lần áp dụng này có gì
mới?
Hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam ra đời ngày 23-5-1990 khi Ngân
hàng nhà nước được cấu trúc lại cho phù hợp với chức năng của ngân hàng trung
ương hiện đại, tách biệt với chức năng ngân hàng thương mại. Các ngân hàng trực
thuộc Ngân hàng nhà nước trước đây và ngân hàng chính sách vào thời điểm đó cũng
lần lượt được chuyển đổi để trở thành ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước,
gọi là ngân hàng thương mại nhà nước hay ngân hàng thương mại quốc doanh. Bốn
Ngân hàng thương mại nhà nước hình thành đầu tiên gồm: Ngân hàng Nông nghiệp
Việt Nam, Ngan hàng Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam và Ngân hàng Ngoại thương.
Tuy nhiên, để cả hệ thống ngân hàng chuyển sang vận hành theo cơ chế hai
cấp cần nhiều thời gian hơn hẳn việc ban hành các quyết định và văn bản. Dù đã
được giao quyền chủ động kinh doanh tín dụng, trong đó có quyền thỏa thuận lãi
suất, nhưng các Ngân hàng thương mại vẫn lệ thuộc rất nhiều vào ý kiến chỉ đạo từ
Ngân hàng nhà nước trong việc ra quyết định cho vay và cho vay với giá nào. Thực
tế này yêu cầu phải có một công cụ ít mang tính hành chính hơn, nhưng cũng không
hoàn toàn là thị trường tự do để điều hành lãi suất./.
Ngân hàng nhà nước thông báo những điều chỉnh trong chính sách điều hành

sự biến động của thị trường. Đạt cực đại vào tháng 6/2008 là 14%/năm và xuống với
mức thấp nhất là 2/2009 là 7%/năm, và hiện tại giữ mức lãi suất là 9%/năm.
Qua đây cũng cho chúng ta thấy sự linh hoạt của Ngân hàng nhà nước trong
chính sách lãi suất cơ bản để điều tiết và phát triển kinh tế.
1. Hiệu quả của sử dụng lãi suất cơ bản
Việc điều hành linh hoạt lãi suất, vừa là công cụ điều tiết thị trường, vừa là
động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều hành chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước là thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, đã và đang trở
thành một chỉ số kinh tế quan trọng trên thị trường tài tiền tệ, được các tổ chức, các
nhân trong và ngoài nước quan tâm, theo dõi, dự báo và có phản ứng khá nhanh
nhạy, tích cực về hoạt động đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng. Kết quả này có ý nghĩa rất
quan trọng, thể hiện được vai trò và những tác động tích cực của chính sách tiền tệ
đối với việc kiềm chế lạm phát và điều tiết kinh tế vĩ mô.
Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù hợp với quy định của Luật Ngân hàng
Nhà nước và Bộ luật Dân sự. Tuy vậy, cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là công cụ
can thiệp trực tiếp đối với lãi suất kinh doanh của Ngân hàng thương mại, có hạn chế
nhất định việc thử nghiệm và đưa ra thị trường các sản phẩm tín dụng có độ rủi ro
cao, nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường. Xử lý vấn đề này, Thống đốc Ngân
hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TT-NHNN hướng dẫn về lãi suất
thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ
đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đi kèm
theo đó là cơ chế thống kê, theo dõi và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2009. Thông tư được ban hành nhằm
thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ
về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng
kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số
627/VPCP-KTTH ngày 23 tháng 01 năm 2009 của Văn phòng Chính phủ về áp dụng
lãi suất cho vay thoả thuận của các tổ chức tín dụng.
2. HẠN CHẾ
- Trước hết đó là do bộ máy quản lý còn kém hiệu quả; Vai trò điều tiết của

hành lãi suất cơ bản cho phù hợp với thực trạng nền kinh tế hiện nay.
- Khi nghiên cứu sửa đổi về lãi suất cơ bản thì các cơ quan, các ngành có liên
quan phải xem xét để không mâu thuẫn với quyết định của các bộ luật.
4. KẾT LUẬN
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thời gian tới, việc Ngân hàng
Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là một giải pháp thích
hợp, phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô, cung - cầu vốn thị trường. Việc điều tiết
lãi suất thị trường theo hướng ổn định, được thực hiện kết hợp giữa điều tiết khối
lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp, điều hành linh hoạt các mức lãi suất chủ
đạo và làm tốt công tác truyền thông. Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo
hướng tự do hoá phải trên cơ sở đánh giá một cách khoa học và thực tiễn các điều
kiện kinh tế, thị trường tài chính - tiền tệ ở trong và ngoài nước, cũng như các rủi ro
có thể xảy ra và các biện pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, sự an toàn và
phát triển của hệ thống tài chính.

i


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status