Nghiên cứu tổng hợp α–tecpineol từ quá trình hydrat hóa α pinen trên xúc tác FCC và zeolit HY - Pdf 35

MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN........................................................................................................................4
Khối lượng riêng...................................................................................................................................17
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM..................................................................................................................29
PHỤ LỤC...............................................................................................................................................54


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
ASTM D4058-96

American Society for Testing and Materials – Hiệp hội vật liệu và
thử nghiệm Mỹ

BE

Backscattered electrons – Điện tử tán xạ ngược

DO

Diesel Oil – Dầu diesel

ĐHKHTN

Đại học Khoa học tự nhiên

ĐHQGHN

Đại học Quốc gia Hà Nội

FCC


PDMS

Polydimetylsiloxan

SBU

Secondary Building Unit – Đơn vị cấu trúc thứ cấp

SE

Secondary electrons – Điện tử thứ cấp

SEM

Scanning Electron Microscope – Kính hiển vi điện tử quét

TCA

Axit tricloaxetic

TCD

Thermal conductivity detector

TPD

Temperature programmed desorption – Giải hấp phụ NH3

USD


Hình 1.23. Ứng dụng của limonen trong đời sống
Hình 2.1. Sự phản xạ trên bề mặt tinh thể
Hình 2.2. Sơ đồ nguyên lý máy chụp SEM
Hình 3.1. Giản đồ nhiễu xạ tia X của xúc tác FCC
Hình 3.2. Giản đồ nhiễu xạ tia X của xúc tác HY
Hình 3.3. Kết quả SEM của mẫu xúc tác FCC và zeolit HY
Hình 3.4. Giản đồ TPD – NH3 của xúc tác FCC và zeolit HY
Hình 3.5. Kết quả chụp phổ hồng ngoại của mẫu vật liệu FCC và zeolit HY
Hình 3.6. Sơ đồ chuyển hóa của α-pinen
Hình 3.7. Sơ đồ quá trình đồng phân hóa α-pinen
Hình 3.8. Sơ đồ quá trình hydrat hóa α-pinen
Hình 3.9. Sơ đồ quá trình epoxyl hóa α-pinen


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Dữ liệu cấu trúc cơ bản của một số zeolit thông dụng.
Bảng 3.1. So sánh thông số của xúc tác FCC và HY với mẫu chuẩn.
Bảng 3.2. Kết quả TPD-NH3 của zeolit Y/ FCC
Bảng 3.3. Thành phần sản phẩm của phản ứng chuyển hóa α – pinen trên xúc tác FCC
ở nhiệt độ 60oC.
Bảng 3.4. Thành phần sản phẩm của phản ứng chuyển hóa α – pinen trên xúc tác FCC
ở nhiệt độ 80oC.


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ 21, ngành sản xuất hóa chất công nghiệp đang gặp phải những
thách thức lớn khiến nó không thể tiếp tục đi theo con đường phát triển như đã trải qua
trong các thế kỷ trước. Đó là các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, vấn

kế các sản và quá trình giảm thiểu việc sử dụng và tạo ra các chất độc hại. Hóa học
xanh tìm cách giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm tại nguồn của nó. Một trong những
cách hiệu quả nhất chính là sử dụng “xúc tác xanh”.
Hiện nay, yếu tố then chốt có tính chất quyết định đối với 90% các quá trình
sản xuất nhiên liệu, vật liệu, hóa chất công nghiệp và hóa chất dân dụng là xúc tác.
Với lịch sử xuất hiện lâu đời, từ thời thượng cổ con người đã biết thêm men để giảm
thời gian ủ giấm, ủ rượu. Giờ đây xúc tác là “chìa khóa” để đẩy nhanh tốc độ phản ứng
của một quá trình hóa học. Nó thúc đẩy phản ứng hóa học diễn ra nhanh hơn với tính
chọn lọc cao hơn, tiêu thụ năng lượng ít hơn so với trường hợp thông thường. Chọn
đúng xúc tác sẽ giúp hiệu suất phản ứng tăng, thay thế xúc tác cũ bằng xúc tác mới
thân thiện làm giảm chất thải độc hại từ đó giúp bảo vệ môi trường sẽ góp phần phát
triển ngành công nghiệp xanh.
Ngày nay, xúc tác góp phần quan trọng cho ngành công nghiệp xanh, nó không
chỉ thay thế một phần chất tham gia phản ứng hoặc làm cho quá trình diễn ra hiệu quả
hơn (hiệu suất chuyển hóa cao hơn) mà còn giảm tác động xấu tới môi trường và giảm
chi phí cho các quá trình sản xuất hóa chất. Xúc tác xanh bao gồm: xúc tác dị thể,
đồng thể, xúc tác ánh sáng và xúc tác sinh học (sử dụng các enzym làm xúc tác cho
phản ứng hóa học). Xu hướng sử dụng các xúc tác ít độc, hoạt tính cao và giá thành
thấp được áp dụng thành công trong lĩnh vực tổng hợp xanh.
Xúc tác FCC và zeolit HY với đầy đủ những đặc điểm một xúc tác xanh chính
là đối tượng trong nghiên cứu khoa học này. Ở Việt Nam, Nhà máy Lọc dầu Dung
Quất sử dụng FCC cho quá trình cracking dầu mỏ, phần lớn xúc tác sẽ bị thải loại sau
3-5 năm sản xuất. Hằng năm, nhà máy thải ra khoảng 1.540 tấn chất thải xúc tác FCC,
tương đương 4,2 tấn/ngày. Mặc dù hoạt tính xúc tác FCC giảm nhưng nó vẫn đầy tiềm
năng trong các lĩnh vực khác như: dược phẩm, hóa mĩ phẩm.
Một trong những hóa chất được ứng dụng nhiều nhất cho mục đích chế biến
thuốc và làm đẹp đó là α–tecpineol. Nó là nguyên liệu sản xuất sản phẩm thường ngày:
tinh dầu thơm, nước hoa, dầu gió và thuốc bôi kháng khuẩn… Để điều chế được α–
tecpineol cần nguyên liệu α–pinen chiếm 80% trong tinh dầu thông. Tiến hành hydrat
hóa α–pinen có mặt xúc tác axit tại nhiệt độ thích hợp sẽ thu được rượu α–tecpineol.

1.1. Xúc tác FCC
Quá trình xúc tác là quá trình làm thay đổi tốc độ của một phản ứng hóa học
gây ra do tác dụng một chất gọi là chất xúc tác. Không giống các chất phản ứng trong
phản ứng hóa học, một chất xúc tác không bị mất đi trong quá trình phản ứng và có thể
sử dụng trong nhiều phản ứng khác nhau. Đối với ngành công nghiệp các chất xúc tác
giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Xúc tác không chỉ: tạo được nhiều sản phẩm và kinh tế
hơn (giúp tăng tốc độ phản ứng, giảm chi phí đầu tư, giảm năng lượng tiêu thụ …), mà
còn giúp giảm đáng kể lượng chất thải trong quá trình chế biến thành phẩm, hạn chế
khí thải độc hại và bảo vệ môi trường. Xúc tác giúp nâng cao độ chọn lọc cho ta sản
phẩm mong muốn, làm giảm lượng nguyên liệu, chất thải không mong muốn, thay thế
các nguyên liệu nguy hiểm và độc hại.
Xúc tác được phân chia thành các loại: xúc tác đồng thể, xúc tác dị thể, xúc tác
axit – bazo, phản ứng tự xúc tác và xúc tác men. Trong đó FCC (Fluid Catalytic
Cracking) là một xúc tác thuộc loại xúc tác dị thể. Xúc tác FCC được sử dụng phổ biến
và có ý nghĩa quan trọng trong ngành lọc hóa dầu. Nhờ những đặc điểm riêng trong
cấu trúc, FCC có vai trò quan trọng trong định hướng sản phẩm, nâng cao hiệu suất và
chất lượng các sản phẩm mong muốn.
1.1.1. Định nghĩa
Xúc tác FCC là loại bột mịn có cấu trúc có kích thước trung bình khoảng 65
micromet, về cơ bản đó là một axit rắn.

Hình 1.1. Xúc tác FCC


5
1.1.2. Thành phần
Xúc tác FCC gồm ba hợp phần chính là:
 Zeolit.
 Pha nền hoạt tính.
 Phụ gia.

– Zeolit tự nhiên


6
Chúng được hình thành tự nhiên từ những vỉa mạch trầm tích hoặc pecmatit
trong những điều kiện khắc nghiệt. Các zeolit này có độ kém bền, độ tinh khiết luôn có
xu hướng chuyển sang các pha khác bền hơn như analcime. Có hơn 40 loại zeolit tự
nhiên nhưng chỉ có một số ít mới có khả năng ứng dụng thực tế làm chất hấp phụ như
ferierit, chabazit, analcime, mordenit và cũng chỉ phù hợp khi sử dụng với số lượng
lớn, không cần độ tinh khiết cao.
– Zeolit tổng hợp
Zeolit tổng hợp được điều chế bằng cách dựa vào những điều kiện tương tự như
trong tự nhiên, cho đến nay có hơn 200 chủng loại zeolit tổng hợp, tiêu biểu như zeolit
A, Faujazit (X,Y), họ ZSM-5.
Các Zeolit tổng hợp đã khắc phục được những hạn chế của zeolit tự nhiên, với
những ưu điểm vượt trội, tiêu biểu là:
+ Cấu trúc đồng đều, tinh khiết, đa dạng về chủng loại.
+ Điều chỉnh được kích thước hạt, kích thước lỗ xốp, thay đổi tỉ lệ Si/Al tăng
diện tích bề mặt.
+ Có độ bền cơ, độ bền nhiệt lớn hơn nhiều các zeolit tự nhiên, đáp ứng tốt nhu
cầu công nghiệp.


Phân loại theo đường kính mao quản
Phân loại theo kích thước mao quản rất thuận lợi trong việc nghiên cứu ứng

dụng zeolit. Theo cách này, người ta chia zeolit làm 3 loại:
+ Zeolit có mao quản rộng: đường kính mao quản lớn hơn 8Å.
+ Zeolit có mao quản trung bình: đường kính mao quản từ 5Å ÷ 8Å.
+ Zeolit có mao quản nhỏ: đường kính mao quản nhỏ hơn 5Å.

cao hơn.


Phân loại theo hướng không gian của các kênh hình thành cấu trúc mao

quản
Dựa theo hướng không gian của các kênh hình thành mao quản, người ta chia
zeolit làm 3 loại:
+ Zeolit có hệ thống mao quản một chiều như Analcim, ZSM-22.
+ Zeolit có hệ thống mao quản hai chiều như Mordenit, ZSM-5.
+ Zeolit có hệ thống mao quản ba chiều như Zeolit X, Y.
• Cấu trúc tinh thể của zeolit
Cấu trúc zeolit là cấu trúc không gian ba chiều được hình thành từ các đơn vị sơ
cấp là các tứ diện TO4 (T: Al, Si). Trong mỗi tứ diện TO 4, có 4 ion O2- bao quanh một
cation T và mỗi tứ diện liên kết với 4 tứ diện quanh nó bằng cách ghép chung các
nguyên tử oxy ở đỉnh. Khác với tứ diện SiO4 trung hoà điện, trong tứ diện AlO4–, Al có
hoá trị 3 nhưng có số phối trí 4 nên tứ diện này còn thừa một điện tích âm. Vì vậy,
khung mạng zeolit tạo ra mang điện tích âm và cần được bù trừ bởi các cation kim loại


8
n+

n+

M nằm ngoài mạng. Các cation M này thường là cation kim loại thuộc nhóm I và II
trong bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá học.

Hình 1.2. Cấu trúc tứ diện của zeolit
Sự liên kết các tứ diện TO 4 theo một trật tự nhất định sẽ tạo thành các đơn vị

Zeolit

Nhóm

SBU

Kiểu đối xứng

Na-A

3

4-4 ; 4 ; 8 ; 6-2

Na-P1

1

Na-X(Y)

4

3,1 x 4,5 ;
2,8 x 4,8
7,4 ; 2,2

• Tính chất xúc tác bề mặt:
Sự hình thành các tâm axit trong xúc tác.
Khái niệm về độ axit bề mặt của xúc tác rắn xác phát từ quá trình quan sát thực
nghiệm từ các công trình trước. Một số phản ứng được xúc tác bởi chất rắn cho các

Al

Si

Al

O

O

O

O

O

O
Si
O

O

O

R -N H 2

+

n+



O
-

Si
O

-1 +

O

H2O

O

-

Al
O

O
Si

O

-

-1

..

O

-

O

Al
O

(a ) La (O H )
O
Si

-

Al
O

O

O

H

O

O

O



O H /A l = 1/ 3

H
+

(b ) La (O H )2
O

-

O

H

O
Si

Si
O

H

Al
O

O

O



Si

-

Al
O

O

O

O
Si

O

O

Hình 1.4. Quá trình biến đổi trong zeolit
Lực axit của tâm axit Bronsted phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thành phần hoá
học (đặc biệt là tỷ số SiO2/Al2O3), cấu trúc của tinh thể zeolit…. Lực axit tăng khi tỷ
số SiO2/Al2O3 tăng. Lực axit cũng thay đổi khi thay đổi các cation bù trừ điện tích. Lực
axit của các tâm axit là khác nhau phụ thuộc vào sự phân bố các tâm Al giữa các tâm
Si.
Sự hình thành các tâm axit Lewis: zeolit có các tâm axit Lewis. Sự hình thành
tâm axit Lewis là do tồn tại Al trong mạng cấu trúc. Khi nguyên tử oxy bị tách ra, ở
nhiệt độ cao, khỏi liên kết với Al thì sẽ xuất hiện tâm axit Lewis.

H+


Tâm Bronsted

O

O

Si

Al

+

O

+

OO

+

H2O

O

Tâm Lewis

Hình 1.5. Hình thành tâm axit Bronsted và Lewis
Với loại tâm axit Lewis thì chỉ xuất hiện sau khi xử lý nhiệt. Đối với một số
loại zeolit, mạng cấu trúc không phải hoàn toàn chứa tâm axit Lewis sau khi xử lý

có thể loại bỏ cation Ca2+ và Mg2+ ra khỏi dung dịch nước cứng và thay thế chúng bằng
các ion mềm, như Na+. Loại zeolit được dùng trong sản xuất chất giặt rửa là zeolit A.
Đây là loại zeolit có hàm lượng ion Na + cao nhất, tức là có khả năng trao đổi với Ca 2+
và Mg2+ lớn nhất.
• Ứng dụng zeolit làm chất xúc tác
Zeolit trong công nghệ xúc tác là hướng ứng dụng quan trọng nhất và là lĩnh
vực công nghệ cao, luôn đòi hỏi gắn kết giữa nghiên cứu sâu sắc về cơ sở khoa với
hoàn thiện công nghệ.
Sử dụng xúc tác zeolit trong thực tế dẫn đến những biến đổi có tính chất cách
mạng trong công nghệ. Xúc tác zeolit mặc dù đã được phát triển mạnh mẽ gần 50 năm,


12
kể từ khi được áp dụng vào công nghiệp lọc dầu những năm 1960, nhưng đến nay vẫn
còn là một mặt trận nghiên cứu sôi động. Cho đến nay, zeolit vẫn là vật liệu được sử
dụng rộng rãi nhất làm xúc tác trong công nghiệp.
Những ưu điểm của zeolit làm tăng khả năng ứng dụng zeolit trong sản xuất xúc tác
bao gồm:


Zeolit có diện tích bề mặt lớn và khả năng hấp phụ cao.



Tính chất hấp phụ của zeolit có thể kiểm soát được và có thể biến

đổi từ vật liệu ưa nước đến vật liệu kỵ nước.


Những trung tâm hoạt động trong mạng lưới zeolit có thể thay đổi

lớn đến việc hoàn thiện liên tục những ưu việt của xúc tác zeolit.
• Ứng dụng zeolit để làm khan trong sản xuất cồn tuyệt đối làm nhiên liệu sinh học


13
Cồn etanol có nồng độ cao trên 99,5% đã được công nhận là có thể dùng làm
nhiên liệu động cơ cho các loại xe vận tải, được gọi là nhiên liệu sạch hay nhiên liệu
sinh học, nhiên liệu tái sinh.
Etanol được sản xuất bằng quá trình lên men đường, tinh bột, từ phế thải nông
nghiệp, phế thải của các nhà máy đường... Nhưng etanol được sản xuất như vậy còn
chứa nhiều nước, không thể dùng làm nhiên liệu. Muốn sử dụng etanol làm nhiên liệu,
phải tiến hành làm khan nước đến mức độ rất cao, mà những phương pháp thông
thường rất khó thực hiện mà giá thành lại cao.
Nhờ khả năng hấp phụ nước rất cao và hấp phụ chọn lọc, nên zeolit được sử
dụng hiệu quả vào quá trình này. Loại zeolit sử dụng hiệu quả trong quá trình này là
zeolit loại A ở dạng cation kali, gọi là KA. Khi hỗn hợp cồn – nước tiếp xúc với zeolit
KA, thì chỉ nước bị hấp phụ, còn etanol thì không. Nên zeolit KA giải quyết vấn đề
làm khan etanol một cách hoàn hảo. Quá trình hấp phụ được thực hiện ngay ở 25 oC và
áp suất thường, etanol thu được có hàm lượng >99,5%; đủ tiêu chuẩn cho việc sử dụng
làm nhiên liệu. Zeolit sau hấp phụ được tái sinh để dùng lại nhiều lần bằng quá trình
khử nước.
• Ứng dụng zeolit trong các quá trình làm khô khác
Ngoài khả năng làm khan etanol đang được quan tâm nhiều hiện nay, trong
thực tế còn có nhiều nhu cầu làm khô khác, mà zeolit có thể thực hiện một cách hoàn
hảo. Zeolit được dùng rộng rãi trong công nghiệp để sấy khô các chất khí và chất lỏng
trong công nghiệp chế biến dầu, công nghiệp hóa dầu, công nghiệp đạm, các ngành
sản xuất khí công nghiệp như axeton, butadien, isobutan,... Với khả năng làm khan
này, zeolit cũng được sử dụng trong bảo quản chống ẩm, ví dụ bảo quản phim ảnh, bảo
quản các tư liệu trong các thư viện, bảo quản lương thực...
Zeolit có khả năng hút nước đến trên 60% trọng lượng của nó, do có độ xốp rất

• Khả năng của zeolit trong lưu giữ khí hydro
Một hướng nghiên cứu tìm tòi đang được tiếp tục là tàng trữ hydro mục đích làm
nhiên liệu. Hydro đang được xem là nguồn nhiêu liệu lý tưởng. Vì nguồn nguyên liệu
để sản xuất hydro là vô tận. Có thể sản xuất hydro từ than đá, khí thiên nhiên, từ
nguyên liệu thực vật, từ các phế thải, và đặc biệt là từ nước. Một trong những cản trở
lớn nhất cho việc sử dụng hydro làm nhiêu liệu cho các loại ô tô hay cho các công cụ
điện tử là phải có vật liệu tàng trữ hydro lượng đủ lớn và an toàn. Những phương pháp
lưu giữ hydro như hóa lỏng, hay nén ở áp suất cao đều khó thực hiện và không an
toàn.
Một hướng đi mới đang thu hút sự chú ý là sử dụng khả năng hấp phụ hydro
của zeolit. Đã tìm thấy rằng zeolit Y trao đổi với cation Mg 2+ có entalpy hấp phụ cao
chưa từng thấy, đạt đến -17,5kJ/mol, rất gần với giá trị -15kJ/mol được xem là tối ưu


15
cho vật liệu có khả năng vừa liên kết vừa giải thoát H 2 theo yêu cầu tàng trữ và sử
dụng. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này còn đang được tiếp tục phát triển.
1.1.2.2. Pha nền hoạt tính
Pha nền hoạt tính (active matrix) hay còn gọi là chất mang: chất mang đóng vai trò
đáng kể trong chất lượng của xúc tác. Các lỗ rỗng của zeolit quá nhỏ, không thể chocác
phẩn tử hợp chất lớn khuếch tán vào. Một chất mang hiệu quả phải có khả năng cho phép
khuếch tán hợp chất vào và ra khỏi xúc tác. Trong zeolit Y, chất mang là

-Al2O3. Các

phản ứng cracking sơ cấp xảy ra trên chất mang. Tâm axit trên chất mang không có tính
lựa chọn cao như zeolit, nhưng có khả năng bẻ gãy liên kết trong các phân tử lớn, những
phân tử không có khả năng thâm nhập vào các lỗ rỗng của zeolit.
Sản phẩm là các phân tử nhỏ hơn sẽ có khả năng chui vào các lỗ rỗng của zeolit.
Chất mang có thể đóng vai trò bẫy các nguyên tử V và các phân tử mang N có tính kiềm.

ion K+) để gia tăng độ mài mòn của hạt xúc tác.
Chủng loại và lượng chất kết dính cũng như phương pháp phối trộn chất kết
dính vào chất xúc tác cũng có ảnh hưởng đáng kể đến độ bền mài mòn. Nói chung,
tăng lượng chất kết dính trong hạt xúc tác làm tăng độ bền mài mòn. Oxit silic, oxit
nhôm vô định hình và aluminosilicagel thường là các chất kết dính thông dụng của
chất xúc tác FCC. Chủng loại và hình thể học của khoáng sét dùng để tạo dạng hạt xúc
tác cũng ảnh hưởng đến độ bền mài mòn.
Các điều kiện sấy phun cũng ảnh hưởng đến độ bền mài mòn của sản phẩm. Ví
dụ, nhiệt độ đầu ra của thiết bị sấy phun cao và nổng độ hỗn hợp có có tác dụng tốt
tăng độ bền mài mòn. Trong một vài trường hợp, nồng độ của hỗn hợp được tăng
cường bằng cách sử dụng các chất phụ gia giảm độ nhớt, nên làm tăng lượng pha rắn
trong vật liệu sấy phun vàdo đó tạo ra một chất xúc tác có độ bền mài mòn cực kỳ tốt.
Độ bền mài mòn của hạt xúc tác được đặc trưng định lượng bởi chỉ số mài
mòn, được xác định bằng một trong các phương pháp do các nhà sản xuất đề nghị.
Một trong các phương pháp tiêu chuẩn là ASTM D4058.
 Thể tích mao quản và sự phân bố kích thước mao quản
Thể tích mao quản và sự phân bố kích thước mao quản phụ thuộc vào thành
phần, phương pháp điều chê và sự xử lý nhiệt và thuỷ nhiệt chất xúc tác.
Sự phân bố kích thước mao quản trong pha nền chất xúc tác đóng vai trò quan
trọng trong sự định hình tính chất xúc tác. Nếu chất nền chứa nhiều mao quản tương
đối hẹp (200) thì thường có bề mặt riêng thấp, và
do đó, làm giảm vai trò xúc tác của chất nền, đổng thời cũng làm giảm độ bền mài
mòn của hạt xúc tác.
Sự phân bố kích thước mao quản của chất nền bị biến đổi khi thêm các chất
khác vào chất nền. Ví dụ, thêm 35% + 40% kaolin vào aluminosilicagel thì người ta


17

tăng nhiệt độ đẫu ra làm tăng khối lượng riêng của sản phẩm sấy phun.
Khối lượng riêng cao thường biểu hiện một độ bền tốt của chất xúc tác, cũng


18
như độ xốp và thể tích mao quản không cao. Do đó, khối lượng riêng cũng là một đặc
trưng vật lý quan trọng của chất xúc tác FCC.
1.1.3.2. Vai trò chung của xúc tác
 Vai trò
- Tạo được sản nhiều sản phẩm và kinh tế hơn:


Tăng tốc độ phản ứng: dẫn đến cùng một thời gian sản xuất thì

một quá trình sản xuất sử dụng xúc tác sẽ tạo được nhiều sản phẩm hơn quá trình sản
xuất không sử dụng xúc tác.


Đơn giản hóa các bước phản ứng: giảm chi phí đầu tư hơn.



Phản ứng tiến hành ở điều kiện trung bình ( với nhiệt độ (T) và áp

suất (P) thấp)  giảm năng lượng tiêu thụ (do chất xúc tác làm giảm năng lượng hoạt
hóa nhiệt cung cấp giảm tiết kiệm năng lượng)
- Giảm lượng chất thải và thân thiện với môi trường


Nâng cao độ chọn lọc tạo ra sản phẩm mong muốn làm giảm


Ví dụ: trong phản ứng craking xúc tác khi có mặt xúc tác ( như

xúc tác aluminosilicat, hay xúc tác chứa zeolit) ở khoảng nhiệt độ từ 400 – 500 0C các
olefine chuyển hóa nhanh hơn 1.103-1.104 lần so với cracking nhiệt.
- Làm giảm nhiệt độ cần thiết của phản ứng


Nhằm tiết kiện năng lượng nhiệt đầu vào.



Đồng thời tránh tạo nhiều sản phẩm khí khi nhiệt độ tăng cao, để

hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (làm chỉ số octane không cao)


Làm cho phản ứng xảy ra theo chiều có lợi, chiều thuận: do phản

ứng cracking xúc tác là phản ứng tỏa nhiệt, nên khi giảm nhiệt độ và tăng áp suất thì
phản ứng diễn ra theo chiều tỏa nhiệt.
- Tăng tính chọn lọc (hướng phản ứng theo hướng cần thiết): nó có khả năng
làm tăng hay chậm không đồng đều các loại phản ứng, giúp hướng phản ứng theo
hướng có lợi. Ví dụ: xét độ chọn lọc hình dạng của xúc tác chứa zeolit:

Hình 1.6. Tính chọn lọc của xúc tác zeolit


20
1.2. Ngyên liệu α – pinen

biệt là các cây thông.

Hình 1.9.Cây thông

Hình 1.10. Nhựa thông

Hình 1.11. Rừng thông Lâm
Đồng

Nó cũng được tìm thấy trong một số cây hương liệu:

Hình 1.12. Bạc hà

Hình 1.13. Gừng

Hình 1.14. Hương thảo

Hình 1.15. Oải hương

Hình 1.16. Chanh

Hình 1.17. Thì là Ai Cập



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status