Xây dựng phương pháp nghiên cứu tối ưu nhằm phân tích sự đa dạng di truyền của giống loài hoàng liên gai (berberidaceae) - Pdf 35

Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô giáo
ThS. Lưu Thúy Hòa, Viện Sinh – Nông, trường Đại học Hải Phòng và Ban lãnh
đạo Viện Sinh – Nông, trường Đại học Hải Phòng đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ
em rất nhiều và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thực tập.
Đồng thời em cũng xin được trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và các
cộng tác viên hiện đang công tác tại Bộ môn thực vật, Bộ môn Hóa phân tích
của Trường đại học Dược Hà Nội và Bộ môn Kỹ thuật di truyền của Viện Di
truyền nông nghiệp (thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho em thực hiện những công việc liên quan trong quá trình
thực tập.
Cuối cùng, tôi cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đặc biệt là ba mẹ đã luôn ở
bên động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực tập này.

Hải Phòng, ngày 2 tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Hùng Cường


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

Kb

Kilobase

PCR

Polymerase Chain Reaction (Phản ứng chuỗi polymerase)

RAPD

Random Amplified Polymorphism DNA (Phân tích ADN đa

hình được nhân bản ngẫu nhiên)
RFLP

Restriction Fragment Length Polymorphism (Phân tích chiều dải

các phân đoạn ADN cắt hạn chế)
SDS

Sodium Dodecyl Sulphat

SSR

Simple Sequence Repeats

STS

Sequense Tagged Site




Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Berberin là alcaloid có nhân isoquilolin (Khosla, 1992; Rastogi và cộng sự,
1993). Đó là hoạt chất được ứng dụng từ lâu đời trong các nền y học truyền
thống trên thế giới để chữa các bệnh của các nước nghèo do đặc tính kháng
khuẩn, nấm, đơn bào (Đỗ Huy Bích, 2006), berberin có thể sử dụng để chống lại
Staphylococcus aureus đã kháng kháng sinh Methicillin (Yu HH và cs, 2005),…
và ngày nay nó có tiềm năng rất lớn trong điều trị các bệnh đang phát triển như
hạ đường huyết (Wang Y và cs 2010, Gu Y và cs 2010...), ung thư (Tang J và
cs 2009, Kim JB và cs 2009, Pinto-Garcia L và cs 2010).
Trên thế giới đã xác định khoảng 150 loài thực vật bậc cao có berberin,
thuộc 23 chi và 7 họ, bao gồm: Na (Annonaceae), Hoàng liên (Berberidaceae),
Cải

cần

(Fumariaceae),

Tiết



(Menispermaceae),


Berberidaceae rất phức tạp với những đặc điểm hình thái giống nhau giữa các
loài trong cùng chi. Sự phân biệt giữa các loài khó khăn do phần trăm đa bội cao
và do lai tạo (Cadic và Decourtye 1987). Điều này đã dẫn đến nhầm lẫn trong
việc xác định loài trong thu hái, sử dụng.
Trên thế giới đã có những nghiên cứu phân biệt các loài trong chi ở mức độ
phân tử đối với một số loài B. asiatica Roxb, B. aristata DC., B. lycium Royle
(Subramani Paranthaman Balasubramani và cs, 2011; Vivek Tripathi và cs,
2013,... ), loài Podophyllum hexandrum (Md. Afroz và cs, 2009, Pradeep Kumar
Naik và cs, 2010; Akshay Nag và cs, 2013) hoặc so sánh các loài trong họ
Berberidaceae (C. Roß và W. Durka, 2006, Mehdi Rezaei và cs, 2011) nhưng
ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào trong nước nghiên cứu đánh giá, tư liệu
hoá ở mức độ phân tử về đa dạng di truyền các tập đoàn cây này một cách sâu
rộng và có hệ thống.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu đánh giá đa dạng di truyền của các
giống/loài cho berberin trong họ Hoàng liên ở mức phân tử là cần thiết và cấp
bách để định hướng cho công tác thu thập, bảo tồn khai thác và sử dụng các
nguồn gen cây bản địa quý này một cách có hiệu quả.
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1. Mục đích

Xây dựng phương pháp nghiên cứu tối ưu nhằm phân tích sự đa dạng di
truyền của giống/loài Hoàng liên gai (berberidaceae)

6


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13


của khoảng 14-15 chi thực vật có hoa. Họ này thuộc bộ Mao lương
(Ranunculales). Họ chứa khoảng 570-700 loài, trong đó phần lớn (khoảng 450600 loài) thuộc về chi Berberis. Các loài trong họ là các loại cây thân gỗ, cây
bụi hoặc cây thân thảo chủ yếu là thường xanh.
Phân loại khoa học của họ Berberidaceae trong hệ thống phân loại thực
vật như sau (Lê Đình Bích và Trần Văn Ơn, 2007):
-

Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)
Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida)
Phân lớp Hoàng liên (Ranunculidae)
Liên bộ Hoàng liên (Ranunculanae)
Bộ Hoàng liên (Ranunculales)
Họ Hoàng liên gai (Berberidaceae)
Các chi:
-

Achlys
Berberis - hoàng liên gai (hoàng mù), hoàng mộc, tiểu bá, nghêu hoa
Bongardia
Caulophyllum - hồng mao thất
Diphylleia - sơn hà diệp
Dysosma - bát giác liên
Epimedium - dâm dương hoắc
Gymnospermium
Jeffersonia - tiên hoàng liên
Leontice - mẫu đan (đơn) thảo, không nhầm với các loài hoa mẫu đơn
Mahonia - hoàng liên ô rô, thổ hoàng liên, thổ hoàng bá
Nandina - nam thiên trúc
Podophyllum - Podophyllum tonkinense là bát giác liên
Vancouveria

Bầu nhụy đối xứng dạng chùy; noãn 1-12, hiếm khi 15; vòi nhụy rất ngắn. Quả
mọng, thường màu đỏ, đỏ sẫm hoặc đen; hình cầu, hình elip, thuôn dài, hình
trứng hoặc trứng ngƣợc; kích thước 6-20mm; vòi nhụy tồn tại hoặc không. Hạt
1-10, màu nâu đến nâu đỏ hoặc đen, không có áo hạt (Võ Văn Chi, 2003; Ying
Tsunshen, 2011)

9


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

Hình 2.1: Chi Berberis
Ở nước ta loài Berberis phân bố chủ yếu ở Sapa, trên núi Phan-xi-păng
vùng Bắc Hà thuộc tỉnh Lào Cai. Cây mọc trong rừng kín thường xanh mưa mùa
ẩm, rừng núi đá, ở độ cao khoảng 1000-1600m. Mùa hoa tháng 5-6, mùa quả
tháng 6-10 (Võ Văn Chi, 2003).
2.2.3. Đặc điểm thực vật của chi Mahonia

Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, thường xanh, cao 0,3 – 8 m. Không gai.
Lá kép hình lông chim lẻ, mọc so le, không cuống hoặc có cuống; lá chét 3 -4;
lá chét bên thường không cuống, lá chét tận cùng có cuống hoặc không cuống;
mép lá nguyên hay có khía răng thô hay đẹp. Cụm hoa mọc ở tận cùng, (1-) 3 –
18 chùm đơn hay phân nhánh, dài 3 – 35 cm, mọc đối diện với lá bắc. Cuống
hoa dài 1,5 – 24 mm, đối diện với lá bắc, lá bắc ngắn hay dài hơn cuống hoa.
Hoa màu vàng, lá đài xếp ba vòng, cánh hoa xếp một vòng, gốc cánh hoa
có hay không có tuyến. Trung đới không kéo dài, nhọn đột ngột hay kéo dài
ra rõ ràng. Bầu hình gần cầu, noãn 1 – 7, vòi nhụy không có hoặc dài tới 3 mm,



lá, hoa rủ xuống, cuống hoa nhỏ, dài, cong. Lá đài 6, mặt ngoài có ít lông dài.
Cánh hoa 6 dài 2cm. Nhị 6. Bầu thượng, đầu nhụy to, quả mọng hình bầu dục
hoặc hình trứng. Hạt nhiều.
Mùa hoa tháng 3 - 5, mùa quả chín tháng 7 - 9. Cây tái sinh bằng chồi từ
thân rễ vào vụ xuân hè. Cây sống dưới tán rừng ẩm trên núi, ở độ cao 800 - 900
m. Mọc rải rác trên đất rừng nhiều mùn, ẩm, độ chiếu sáng yếu.
Ở Việt Nam các loài Podophyllum phân bố chủ yếu ở Hoà Bình (Đà bắc:
Chợ Bờ), Hà Tây (Ba Vì), Lạng Sơn (núi Khau Khú)

Hình 2.3: Chi Podophyllum

2.3. CÔNG DỤNG VÀ TÌNH HÌNH KHÁ THÁC SỬ DỤNG CỦA CÁC
LOÀI CHỨA BERBERIN
Berberin là alcaloid có nhân isoquilolin, có trong khoảng 150 loài thực vật
bậc cao (Nguyễn Kim Cẩn, 2002; Phạm Thanh Kỳ, 2002).
12


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

Nó là hoạt chất được ứng dụng từ lâu đời trong các nền y học truyền thống
trên thế giới để chữa các bệnh của các nước nghèo do đặc tính kháng khuẩn,
nấm, đơn bào,…và ngày nay nó có tiềm năng rất lớn trong điều trị các bệnh
đang phát triển như tiểu đường, ung thư, tăng mỡ máu,… Các tác dụng đã được
chứng minh của berberin bao gồm:
(1) Tác dụng kháng khuẩn (Đỗ Huy Bích, 2006) (Yu HH, Kim KJ, Cha JD
và cs, 2005).


(cơ 19 quan) hoặc ở giai đoạn phát triển đặc biệt của cá thể. Sự thể hiện các chỉ
thị hình thái bị ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường, điều này làm cho chỉ thị
hình thái kém thu hút trong cải tiến giống cây trồng.
2.4.2. Chỉ thị dựa trên cơ sở lai ADN

RFLP - Restriction Fragment Length Polymorphism, Đa hình chiều dài các
mảnh phân cắt giới hạn. Các đa hình RFLP sinh ra bởi những đột biến tự nhiên ở
những điểm cắt enzym giới hạn trong ADN bộ gen. Mỗi loài sinh vật có một bộ
ADN genom đặc hiệu trong cấu trúc, vì vậy khi sử dụng những enzym giới hạn
để cắt phân tử ADN của hệ gen, người ta có thể nhận biết được những đoạn
ADN có chiều dài khác nhau bằng kỹ thuật lai ADN với những mẫu dò (probe).
Đây là nguyên lý kỹ thuật RFLP.
Chỉ thị RFLP là chỉ thị đồng trội, nghĩa là có khả năng biểu hiện tất cả các
alen của cùng một locus. Do vậy, có thể phân biệt được các cá thể đồng hợp tử
(AA hoặc aa) và các cá thể dị hợp tử (Aa). Đây là đặc điểm ưu việt của loại chỉ
thị này. Hạn chế của phương pháp này là tiêu tốn nhiều thời gian và sức lực, đòi
hỏi nhiều trang thiết bị phòng thí nghiệm, đặc biệt là tiêu hao một lượng lớn
ADN mà số lượng đa hình thu được rất ít ỏi, thậm chí ở một số loài khó nhận
được đa hình.

2.4.3. Chỉ thị phân tử dựa trên kỹ thuật PCR

Phản ứng chuỗi trùng hợp (Polymerase Chain Reaction - PCR) được Kary
phát minh năm 1985 (Kary Mullis và cs., 1985; 1990). Phương pháp này đã
nhanh chóng được sử dụng hầu hết ở các phòng thí nghiệm trên toàn thế giới
(Nair và cs., 1996). Nhờ vào việc phát hiện ra loại enzym chịu nhiệt được tách
từ một loại vi khuẩn sống ở suối nước nóng có tên là Thermus aquaticus hoạt
động tốt nhất ở nhiệt độ 70-800C, người ta đã kết hợp với những tính chất cơ bản
của ADN là có khả năng duỗi xoắn ở một nhiệt độ thích hợp, có khả năng bắt

chỉ thị này so với chỉ thị đồng trội RFLP là không phân biệt được thể dị hợp tử.
Mặc dù vậy, chỉ thị này vẫn là một công cụ hữu hiệu trong việc lập bản đồ ở
những dòng nhị bội, những dòng cận phối hay các quần thể lai trở lại. Lợi thế
của loại chỉ thị này là không cần biết những thông tin về trình tự (William và cs.,
1993). Chỉ thị RAPD còn có thể sử dụng trong việc điền vào những chỗ trống
trên bản đồ phân tử RFLP (Chang và Meyerowitz, 1991), lập bản đồ gen kháng
đạo ôn ở lúa (Naqvi và cs., 1995).
-

Những ưu điểm của kỹ thuật RAPD

15


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

Về mặt kỹ thuật: Kỹ thuật RAPD dễ thực hiện và dễ thành công do không
cần biết trước trình tự bộ gene của đối tượng cần nghiên cứu, thao tác đơn giản,
chất lượng.
ADN khuôn không cần độ tinh sạch cao. Thời gian thực hiện nhanh, khả
năng nhân bản cao.
Về mặt kinh tế: Chi phí thực hiện thấp. Kỹ thuật RAPD thường được sử
dụng kết hợp với những kỹ thuật cao cấp khác để đánh giá đa dạng di truyền và
nhận diện chỉ thị phân tử có độ tin cậy cao.
Do chỉ thị RAPD có hạn chế là độ nhạy bị phụ thuộc vào điều kiện của
phản ứng, đôi khi kết quả không lặp lại được, nên người ta đã khắc phục bằng
cách nhân dòng những alen RAPD đặc hiệu, xác định trình tự của chúng rồi thiết
kế những đoạn mồi dài khoảng 20bp từ cả hai đầu và gọi là chỉ thị SCARs


dụng cùng lúc 2 primer khác nhau thay vì sử dụng 1 primer như kỹ thuật RAPD
thông thường. Phương pháp này có thể làm tăng hoặc giảm đi số alen so với khi
sử dụng một primer. Việc lựa chọn, sử dụng cùng lúc 2 primer khác nhau một
cách phù hợp cũng có thể làm tăng tính đa hình của những primer cho sản phẩm
ít đa hình. Cải tiến thứ 2 là cắt ADN bằng các enzyme giới hạn trước hoặc sau
khi thực hiện phản ứng PCR. Sự cắt này cũng có thể tạo ra hai kết quả. Một là
có thể làm giảm số lượng các alen khó xác định (complex band), điều đó làm dễ
dàng hơn cho việc đánh giá đa dạng di truyền. Hai là tạo ra sự đa hình ở các mẫu
có hạn chế về sự đa hình. Tuy nhiên việc sử dụng những cải tiến tuỳ thuộc vào
chiến lược nhằm làm tăng số chỉ thị đa hình có thể hoặc đạt được các chỉ thị
đồng trội. Những cải tiến này có hạn chế là làm giảm đi lợi thế của kỹ thuật
RAPD cụ thể là tốc độ, giá thành và sử dụng phức tạp hơn (Kurt Weising và cs,
1995).

Hình 2.4:Nguyên lí của phản ứng RAPD
17


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

2.4.6. . Chỉ thị AFLP (Amplified Fragment Length Polymorphism)

AFLP được sử dụng rộng rãi trong những nghiên cứu lập bản đồ gen và xác
định chỉ thị phân tử liên kết gen. Kỹ thuật tạo ra các loại chỉ thị này được gọi là
nhân bội chọn lọc những mảnh cắt giới hạn (Selective Restriction Fragment
Amplication - SRFA). Phương pháp linh hoạt này có thể phát hiện được sự có
mặt của những mảnh cắt giới hạn trong bất kỳ loại ADN nào (Vos và cs., 1995).

Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

kéo dài phía điểm cắt giới hạn bằng cách thêm các nucleotid vào vị trí cắt. Do
vậy mà chỉ có những mảnh ADN có trình tự bổ trợ với các base thêm vào mới
được nhân bội. Phản ứng thứ nhất gọi là nhân bội sơ bộ (pre-amplification) hay
tiền nhân bội. Phản ứng thứ hai gọi là nhân bội chọn lọc (selective PCR). Các
mồi AFLP gồm có ba phần: Chuỗi cốt lõi (CORE), chuỗi đặc hiệu enzym (ENZ)
và phần thêm vào các nucleotit chọn lọc (EXT).
Sử dụng phương pháp này có thể tạo ra một bộ tập hợp những mảnh cắt
giới hạn nhờ PCR mà không cần biết trình tự của chúng, cho phép nhân đặc hiệu
một số lượng lớn những mảnh cắt giới hạn. Một bộ gồm tập hợp lượng lớn
những mảnh cắt ADN có thể phân tích đồng thời, phụ thuộc vào độ phân giải
của hệ thống phát hiện.
-

Bước 3: Điện di các sản phẩm của phản ứng PCR nhờ hệ thống chạy điện

di trên gel polyacrylamit. Thường là từ 50-100 mảnh cắt giới hạn được nhân lên
và phát hiện trên gel polyacrylamit biến tính nhờ sử dụng đồng vị phóng xạ
hoặc nhuộm bạc. Kỹ thuật AFLP cung cấp khả năng nhận dạng ADN lý tưởng
từ ADN của bất kỳ nguồn gốc nào. Đây là một kỹ thuật thiết thực và đáng tin
cậy bởi sự nghiêm ngặt của điều kiện phản ứng.
Tính hợp lý của việc sử dụng hai enzym cắt là ở chỗ: 1) Enzym cắt thường
sẽ sinh ra những đoạn ADN ngắn, nằm trong miền kích thước lý tưởng cho việc
nhân bội và phân tách trên gel polyacrylamit; 2) Số lượng các mảnh ADN được
nhân bội sẽ giảm xuống nhờ sử dụng enzym cắt thường bởi vì chỉ có những
mảnh cắt bởi một đầu là enzym cắt hiếm và một đầu là enzym cắt thường mới
được nhân lên; 3) Việc đánh dấu một đầu của mồi ngăn cản sự xuất hiện alen

Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

Hình 2.5: Nguyên lí của phản ứng AFLP
2.4.7. Chỉ thị vi vệ tinh (SSR)

Chỉ thị vi vệ tinh, là những đoạn ADN lặp lại một cách có trật tự, gồm
những đơn vị lặp lại gồm từ 1 đến 6 nucleotit, theo kiểu lặp lại ngắn. SSR đã
được nghiên cứu lần đầu tiên trên người (Hamada và Kakunaga, 1982; Weber và
cs., 1989), và cho đến nay nó được tìm thấy trong các hệ gen của một số cơ thể
Eukaryot khác như các gia cầm, động vật có vú (Cheng và cs., 1994; Love và
21


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

cs., 1990; Moran, 1993; Serikawa và cs., 1992), cá và trên vài loài cây một lá
mầm và hai lá mầm (Morgante và cs., 1993; Wang và cs., 1994). Bản chất đa
hình của SSR có thể được sinh ra do sự nhân bội từ ADN tổng số của hệ gen
nhờ sử dụng 2 đoạn mồi bổ trợ với trình tự gần kề hai đầu của vùng lặp lại. Giá
trị của SSR là ở chỗ nó sinh ra đa hình từ rất nhiều vùng tương ứng, bao phủ
rộng khắp hệ gen và có bản chất đồng trội, dễ dàng phát hiện bằng PCR. Những
chuỗi đa hình đơn giản này đã được ứng dụng trong việc lập bản đồ ở cả hai đối
tượng động vật và thực vật (Tautz và Renz, 1984). Ở người, SSR được gọi là thế
hệ thứ hai của các chỉ thị phân tử. Ở thực vật, tần số và số lượng SSR đã được
xác định trên các cây rừng nhiệt đới, cây bắp cải (Lagercrantz và cs., 1993), lúa
mì (Roder và cs., 1995) và 34 giống cây trồng khác (Morgante và Oliveri, 1993).

Bước 3: tủa axit nucleic.
Bước 4: hòa tan cặn DNA .
Yêu cầu:
+
DNA đảm bảo độ tinh khiết.
+
Đảm bảo nguyên vẹn về cấu trúc để thực hiện các bước nghiên cứu tiếp.
Tách chiết DNA mô thực vật bằng phương pháp cơ học:
Bước 1: phá vỡ màng tế bào và màng nhân bằng cách cho dung dịch phá tế bào
và protenase K.
Bước 2: loại bỏ các thành phần không mong muốn trong mẫu, như các protein,
polycharide. Mẫu được bổ sung hỗn hợp dung dịch(phenol: chloroform:
isoamylalcohol), lắc mạnh cho đến khi dung dịch có màu trắng sữa.
Sau ly tâm cao tốc hỗn hợp dung dịch chia làm 3 pha:
+

Pha trên là dung dịch lỏng chứa DNA

+

Pha giữa là phần dung dịch chứa protein và các chất thứ cấp bị kết tủa.

+

Pha dưới đáy chứa hóa chất

Bước 3: tủa axit nucleic.
Tủa bằng cồn tuyệt đối (tỉ lệ 2:1), tủa tốt nhất ở -20 oC trong 30 phút hoặc
0 oC qua đêm. Hầu như các phân tử DNA đều bị kết tủa.
Tủa bằng isopropanol (tỉ lệ 1:1) ở 0 oC các phân tử DNA có trọng lượng

Ủ 30 phút ở nhiệt độ -70 oC hoặc qua đêm ở nhiệt độ -20 oC.
Ly tâm 15 phút ở nhiệt độ 4 oC với tốc độ 14000 vòng/phút. Gạn bỏ từ từ

dịch nổi và úp ngược ống xuống khăn giấy để làm khô.
+ Thêm 2 lần thể tích ethanol 80%, ủ 5-10 phút ở nhiệt độ phòng . Sau khi ly
tâm 5 phút, gạn bỏ và làm khô ống ly tâm như trên.
+ Đặt máy ly tâm vào máy đông khô chân không, làm khô axit nucleic
khoảng 5-10 phút hoặc cho tới khi mẫu khô hoàn toàn.
+ Hòa tan axit nucleic trong đệm TE.
2.5.2. . Điện di.

Phương pháp điện di trong gel(keo) thường được sử dụng để phân li DNA,
RNA,oligonucleotide,protein… Sau đó có thể tinh chế các chất đó. Việc phân li
các chất dựa trên hình thái và độ lớn các chất.

Thông thường sử dụng gel agarose và polyacrylamide nhưng gel agarose
cho phép phân li nucleic acid lớn hơn 1kb còn polyacrlamide dùng để phân li
các đoạn acid nucleic nhỏ hơn 1kb.
-

Nguyên lý:
24


Đồ án tốt nghiệp

Nguyễn Hùng Cường - CNSHK13

Khi ở trong điện trường, do tích điện (-) nên các phân tử DNA dịch chuyển
về phía cực(+) và với tốc độ khác nhau phụ thuộc vào khối lượng phân tử. Các


Quan sát và chụp ảnh: Bản gel được quan sát dưới ánh sáng tử ngoại 254

nm và trên máy soi ADN. Quan sát thấy ADN hiện lên dưới dạng các vạch sáng
và được chụp trên máy GDS 8000.
2.5.3. Phương pháp PCR

2.5.3.1.Khái niệm chung
Kỹ thuật PCR do Mullis và cộng sự phát minh năm 1985. Đây là kỹ thuật
của sinh học phân tử cho phép nhân bản một đoạn ADN mong muốn từ hệ gen
ADN của cơ thể sinh vật thành nhiều bản sao.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status