Tiểu luận kinh tế môi trường nguyễn thanh sơn - Pdf 35

Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

1


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường

MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................................... 1
CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG................................................................2
1.1. Khái lược về quản lý môi trường:............................................................................2

1.1.1. Khái niệm về quản lý môi trường:........................................................................................2

1.2.Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát(CAC)......................................................................4
1.2.1. Đặc điểm, nội dung, bản chất của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát.................................4
1.2.2. Ưu điểm và nhược điểm của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát.............................................6

1.3.Công cụ kinh tế...........................................................................................................7

1.3.1. Thuế tài nguyên.......................................................................................................................7
1.3.2. Thuế và phí môi trường.........................................................................................................8
1.3.3. Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường (cota ô nhiễm).............................................9
1.3.4. Hệ thống đặt cọc hoàn trả...................................................................................................10
1.3.5. Ký quỹ môi trường..............................................................................................................11
1.3.6. Trợ cấp môi trường............................................................................................................12
1.3.7. Nhãn sinh thái.........................................................................................................................13
1.3.8. Quỹ môi trường..................................................................................................................13

và phát triển của con người và thiên nhiên”.
Như vậy, môi trường bao hàm các mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố
nhân tạo bao quanh con người và những yếu tố đó có ảnh hưởng rất lớn đến con người ở
nhiều mặt khác nhau.
Quan niệm như vậy về môi trường thực sự sai lầm và thiếu sót lớn bởi vì thực tế
cho thấy môi trưng có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Môi
trường tự nhiên không là nguồn cung cấp nguyên liệu thô mà còn là nơi chứa chất thải
đồng thời cũng là nơi cung cấp các ngoại ứng tích cực cho con người như cảnh quan du
lịch,các di tích lịch sử,…
Do đó, cần phải nhìn nhận hệ thống kinh tế trên quan điểm mới mà ở đó môi
trường tự nhiên được đề cập đến với đúng vai trò quan trọng của nó.
Theo quan niệm truyền thống về hệ thống kinh tế, vai trò của môi trường tự nhiên
không được đề cập đến. Quan niệm này đã sai lầm khi không coi môi trường là thành tố
trong hệ thống kinh tế
1.1.1. Khái niệm về quản lý môi trường:
Trước hết, chúng ta hãy xét khái niệm về quản lý:”Quản lý là sự tác động của một
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến
động của mổi trường.”
Một cách cụ thể hơn, quản lý bao gồm một chủ thể quản lý và một hoặc một số đối
tượng bị quản lý theo mục tiêu và quỹ đạo đã đặt ra.
Quản lý Nhà nước đối với xã hội là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực Nhà
nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi, hoạt động của công dân và mọi tổ chức
trong xã hội nhằm duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và phát triển
quyền lực Nhà nước.
Trong hệ thống quản lý của Nhà nước đối với xã hội, quản lý môi trường là môt
lĩnh vực cụ thể và có thể được hiểu theo khái niệm sau:”Quản lý môi trường là sự tác
động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc
cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách
thể quản lý môi trường , sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt
được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành”.

Với vai trò là một lĩnh vực của quản lý Nhà nước, các hoạt động của tác quản lý
môi trường được quy định cụ thể trong điều 37 lựât bảo vệ môi trường Việt Nam.
Nói tóm lại, sự ra đời của công tác quản lý môi trường là một tất yếu khách quan
của quá trình phát triển kinh tế xã hội ngày càng hiện đại mà ở đó mục tiêu tăng trưởng
kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường luôn được đề cập đến như nhau.
1.1.2. Hệ thống công cụ quản lý môi trường:
Như các lĩnh vực khác trong hệ thống quản lý Nhà nước, quản lý môi trường đòi
phải có các công cụ quản lý để thực hiện việc quản lý. Công cụ quản lý môi trường là các
biện pháp và phương tiện giúp cho việc thực hiện các nội dung của quản lý môi trường
được tốt hơn. Thông qua các chính sách, các nhà quản lý môi trường có thể đạt được các
mục tiêu về kiểm soát ô nhiểm và quản lý chất thải.
Công cụ quản lý môi trường bao gồm nhiều loại nhưng trên giác độ kinh tế và
quản lý môi trường về mặt Nhà nước, hệ thống này gồm các loại công cụ chủ yêu sau:
- Công cụ pháp lý
- Công cô kinh tế
- Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường.
Trong phạm vi bài tiểu luận chỉ nêu công cụ mệnh lệnh – kiểm soát và công cụ
kinh tế.

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

3


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường
1.2.

Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát(CAC)


trường cũng được đề cập trong các văn bản pháp luật khác (gọi là luật về các thành phần
môi trường) như Luật khoáng sản, Luật phát triển và bảo vệ rừng, Luật dầu khí, Luật
hàng hải, Luật lao động, Luật đất đai, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật tài nguyên
nước, Pháp lệnh đê điều, Pháp lệnh về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Pháp lệnh về bảo vệ
các công trình giao thông…
- Quy định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa hoặc hướng dẫn thực hiện
các nội dung của luật. Quy định có thể do Chính phủ trung ương hay địa phương, do cơ
quan hành pháp hay lập pháp ban hành.
- Quy chế là các quy định về thể lệ tổ chức quản lý bảo vệ môi trường, chẳng hạn
như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, Bộ, Sở khoa học công
nghệ, Sở tài nguyên môi trường.
GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

4


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường
- Tiêu chuẩn môi trường là các chuẩn mực giới hạn cho phép được quy định làm
căn cứ để quản lý môi trường. Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát
triển bền vững của mỗi quốc gia. Việc xây dựng tiêu chuẩn môi trường một mặt dựa trên
các quy định đã được kiểm nghiệm thực tế, mặt khác phải có nhiều căn cứ khoa học,
nhằm đảm bảo cho tiêu chuẩn môi trường phù hợp với nhu cầu bảo vệ sinh thái, đồng
thời khả thi về mặt kinh tế, xã hội. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường phản ảnh trình độ
khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế xã hội có tính đến dự báo phát
triển. Các dạng tiêu chuẩn môi trường:
+ Tiêu chuẩn môi trường xung quanh: Qui định đặc tính của môi trường tiếp
nhận, ví dụ như nồng độ tối đa của hợp chất nitrat trong nước uống, hay SO 2 trong bầu
không khí, hoặc mức độ tối đa trong khu dân cư. Các tiêu chuẩn này hình thành các mục
tiêu môi trường cần đạt được bằng các công cụ chính sách khác nhau;

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

5


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường
Chính sách bảo vệ môi trường phải được xây dựng đồng thời với chính sách phát
triển kinh tế - xã hội. Chức năng quan trọng nhất của chính sách môi trường là tạo điều
kiện gắn kết các mục tiêu phát triển bền vững vào hoạt động phát triển của từng ngành,
từng vùng tạo liên kết giữa các ngành và các cấp trong việc thực hiện mục tiêu bảo vệ
môi trường.
- Chiến lược bảo vệ môi trường cụ thể hóa chính sách ở một mức độ nhất định.
Chiến lược xem xét chi tiết hơn mối quan hệ giữa các mục tiêu do chính sách xác định và
các nguồn lực để thực hiện chúng; trên cơ sở lựa chọn các mục tiêu khả thi, xác định
phương hướng, biện pháp thực hiện mục tiêu.
- Công cụ đánh giá tác động môi trường: Đánh giá tác động môi trường được sử
dụng để phòng ngừa và giảm thiểu những tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích
cực và đồng thời hỗ trợ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên qua đó làm tăng
tối đa lợi ích của các dự án phát triển kinh tế - xã hội góp phần vào phát triển bền vững
của quốc gia.
Đánh giá tác động môi trường được tiến hành khi ra quyết định về dự án, tại nhiều
nước đây là điều bắt buộc và đưa vào văn bản luật. Việc đánh giá này có liên quan đến
mục tiêu kinh tế của dự án và từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn.
Giám sát và cưỡng chế là hai yếu tố quan trọng của công cụ này.
1.2.2. Ưu điểm và nhược điểm của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát
a/ Ưu điểm:
- Đây là công cụ do nhà nước ban hành, được phổ biến, kiểm soát và giám sát
thông qua nhiều cơ quan, tổ chức, do đó, nó có tính chất bắt buộc cao, yêu cầu mọi cá
nhân, doanh nghiệp đều phải thực hiện đúng. Nếu thực hiện sai sẽ bị xử phạt. Do đó, hạn

Công cụ kinh tế được coi là một công cụ bổ sung cho công cụ pháp lý và hiện nay
được sử dụng rộng rãi. Công cụ kinh tế là phương tiện chính sách có tác dụng làm thay
đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường,
nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự hủy hoại môi trường
Trên thực tế công cụ quản Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường có tác động
trực tiếp tới thu nhập hoặc hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm
ngăn ngừa các tác động tiêu cực tới môi trường. Công cụ kinh tế có thể tác động trực tiếp
đến các nhà sản xuất dưới dạng thuế môi trường, lệ phí xả thải hoặc trực tiếp vào người
tiêu thụ dưới dạng phí sử dụng. Trong tất cả các trường hợp đó, công cụ kinh tế đều có
mục đích chung là hạn chế số lượng chất thải phát sinh, giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ
tài nguyên và năng lượng.
Công cụ kinh tế rất đa dạng gồm thuế môi trường, phí và lệ phí môi trường, quỹ
môi trường, cota môi trường, ký quỹ môi trường, trợ cấp tài chính, nhãn sinh thái...Mỗi
công cụ kinh tế có những ưu điểm trong từng nội dung quản lý cụ thể.
1.3.1. Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh
nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất. Mục
đích của thuế tài nguyên là:
 Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên;
 Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng;
 Tạo nguồn thu cho ngân sách và điều hòa quyền lợi của tầng lớp dân cư về việc
sử dụng tài nguyên.
Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế sử
dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản...
Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ
của doanh nghiệp, phương thức quản lý của nhà nước và điều kiện địa chất kỹ thuật của
khu vực khai thác tài nguyên để đảm bảo có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp hoặc
hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường ở các mức độ khác
nhau; nguyên tắc chung là hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi
trường thì càng phải chịu thuế cao hơn. Việc xác định đúng đắn phương pháp tính thuế

khác; còn nguồn thu từ phí môi trường sẽ được dành riêng để chi cho các hoạt động bảo
vệ môi trường như để thu gom xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm, hỗ trợ các
nạn nhân của ô nhiễm...
Trên thực tế thuế và phí được áp dụng dưới nhiều dạng khác nhau tùy thuộc vào
mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như: thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm, thuế/phí đánh vào
sản phẩm gây ô nhiễm, phí đánh vào người sử dụng.
 Thuế/phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm là loại thuế/phí đánh vào các chất ô
nhiễm được thải vào môi trường nước (như BOD, COD, SS, kim loại nặng...), khí thải
(như SO2, CO2, NOx, CFCs...), đất (như rác thải, phân bón) hoặc gây tiếng ồn (như máy
bay, các loại động cơ...) ảnh hưởng tới môi trường xung quanh.
Thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm
lượng (nồng độ) các chất gây ô nhiễm.
 Thuế/phí đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm được áp dụng đối với những loại
sản phẩm gây tác hại tới môi trường một khi chúng được sử dụng trong quá trình sản
xuất, tiêu dùng hay hủy bỏ chúng. Loại phí được áp dụng đối với các loại sản phẩm có
chứa các chất độc hại cho môi trường như kim loại nặng, PVC, CFCs, xăng pha chì, thủy
ngân, các loại vỏ hộp, vỏ chai, giấy bao gói...
Phí đánh vào sản phẩm có thể được sử dụng thay cho phí gây ô nhiễm nếu vì lí do
nào đó, người ta không thể trực tiếp tính được phí đối với các chất gây ô nhiễm. Loại phí
này có thể đánh vào sản phẩm là nguyên liệu đầu vào, sản phẩm trung gian hay thành
phẩm, tùy theo từng trường hợp.
Phí đánh vào sản phẩm được sử dụng rộng rãi ở các nước OECD dưới dạng phụ
phí đánh vào giá xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu, bột tẩy giặt...

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

8



thải, người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép, người mua là các đơn vị cần giấy phép để
xả thải. Thị trường này vận hành theo quy luật cung – cầu như các thị trường thông
thường nhưng lại có đặc điểm gần giống với thị trường chứng khoán ở chỗ giao dịch các
chứng chỉ, các giấy phép mang một giá trị nhất định với giá cả được định đoạt theo chủ
quan, kì vọng và dự báo các bên tham gia giao dịch. Nguyên lý cơ bản của thị trường
giấy phép (hay thị trường môi trường) là việc đặt ra giới hạn tối đa về lượng khí thải hoặc
nước thải nào đó ở mức thống nhất với chỉ tiêu môi trường tại một vùng hay khu vực cụ
thể. Một khi tổng lượng thải cho phép thấp hơn lượng thải mà các đơn vị hoạt động trong
vùng muốn thải sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền được thải và làm cho nó có giá ở thị
trường.
Để thực hiện công cụ này trước hết nhà nước phải xác định mức sử dụng môi
trường chấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép. Việc này không đơn giản
và cũng đòi hỏi chi phí thực hiện khá lớn. Sau khi qui định mức thải tối đa trong vùng, có

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

9


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường
thể phát không giấy phép cho doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn trên một số căn cứ
nào đó hoặc tổ chức bán đấu giá. Cách thực hiện được nhiều người tán thành nhất là phân
phối giấy phép dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện trạng đánh giá tác động môi trường
của từng doanh nghiệp, nói cách khác là thừa kế quyền được thải quá khứ. Khi đã có giấy
phép các doanh nghiệp tự do giao dịch, mua đi bán lại số giấy phép đó; giá giấy phép trên
thị trường sẽ điều tiết nhu cầu trong phạm vi tổng hạn mức.
Ưu điểm đáng kể nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả và
hạn mức ô nhiễm. So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thị trường giấy phép
mang tính chắc chắn, đảm bảo hơn về kết quả đạt mục tiêu môi trường vì dù giao dịch

gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng
một cách an toàn đối với môi trường.

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

10


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường
Đặt cọc – hoàn trả được coi là một trong những ứng cử viên sáng giá cho các
chính sách nhằm giúp nền kinh tế thoát khỏi chu trình sản xuất tuyến tính (khai khoáng
→ nguyên liệu thô →sản phẩm→phế thải) và hướng tới chu trình tuần hoàn trong đó các
tài nguyên được tái chế, tái sử dụng tới mức tối đa có thể được.
Phạm vi sử dụng của hệ thống đặt cọc – hoàn trả bao gồm:
- Các sản phẩm mà khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trường nhưng có
thể tái chế hoặc tái sử dụng;
- Các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãi thải có quy mô lớn hoặc tốn
nhiều chi phí tiêu hủy;
- Các sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý; nếu tiêu hủy
không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe
con người.
Hệ thống đặt cọc – hoàn trả tỏ ra đặc biệt thích hợp với việc quản lý chất thải rắn.
Các quốc gia thuộc tổ chức OECD đã áp dụng khá thành công hệ thống đặt cọc – hoàn trả
đối với các sản phẩm đồ uống, bia, rượu (đựng trong vỏ chai nhựa hoặc thủy tinh) mang
lại hiệu quả cao cho việc thu gom các phế thải. Hiện nay các nước này đã và đang mở
rộng việc áp dụng hệ thống đặt cọc – hoàn trả sang các lĩnh vực khác như vỏ tàu, ô tô cũ,
dầu nhớt, ắc quy có chứa chì, thủy ngân, Cd, vỏ chai đựng thuốc trừ sâu, các đồ điện gia
dụng như máy thu hình, tủ lạnh, điều hòa không khí...
Nhiều nước trong khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan cũng đã có thành

thì số tiền đã ký quỹ sẽ được rút ra từ tài khoản ngân hàng/tổ chức tín dụng để chi cho
công tác khắc phục sự cố, suy thoái môi trường.
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước vì không phải đầu tư kinh phí khắc
phục môi trường từ ngân sách. Ký quỹ môi trường cũng khuyến khích các doanh nghiệp
tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp sẽ có lợi ích do lấy lại
được vốn khi không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường.
Với mục đích và nguyên lý hoạt động như vậy, rõ ràng số tiền phải ký quỹ phải
lớn hơn hoặc xấp xỉ kinh phí cần thiết để khắc phục môi trường nếu doanh nghiệp gây ô
nhiễm và suy thoái môi trường. Nếu số tiền ký quỹ quá nhỏ so với chi phí bảo vệ môi
trường, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng từ bỏ nhận lại số tiền ký quỹ đó và không thực
hiện các cam kết bảo vệ môi trường của mình.
Công cụ ký quỹ môi trường đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt
với các hoạt động công nghiệp như khai thác mỏ, khai thác rừng hoặc đại dương.
1.3.6. Trợ cấp môi trường
Trợ cấp môi trường là công cụ kinh tế quan trọng được sử dụng ở nhiều nước trên
thế giới, đặc biệt các nước thuộc tổ chức OECD. Trợ cấp môi trường có thể dưới các
dạng sau:
-

Trợ cấp không hoàn lại

-

Các khoản cho vay ưu đãi

-

Cho phép khấu hao nhanh

-

Nhãn sinh thái là danh hiệu của các tổ chức môi trường dành cho các sản phẩm có
sử dụng những công nghệ hoặc giải pháp thân thiện với môi trường, nhằm cung cấp
thông tin khuyến cáo người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa vì mục tiêu bảo vệ môi trường.
Nhãn sinh thái do một cơ quan môi trường quốc gia hoặc một hiệp hội các nhà sản
xuất loại sản phẩm (nhãn sinh thái ngành dệt của Đức), quản lý (cấp và thu hồi nhãn)
thông thường là một cơ quan quản lý môi trường.
Nhãn sinh thái đánh vào nhà sản xuất thông qua người tiêu thụ và hệ thống tiêu
thụ, bằng giá của sản phẩm và số lượng sản phẩm tiêu thụ.
- Mục đích:
Mục đích của nhãn sinh thái là đẩy mạnh việc tiêu dùng và sản xuất nhiều sản
phẩm về mặt môi trường hơn, bằng việc cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin
về ảnh hưởng môi trường của sản phẩm. Trong các quan hệ thương mại quốc tế, nhãn
sinh thái tác động đến vấn đề cạnh tranh xuất khẩu, vượt qua các trở ngại thương mại.
Nhà nước xác nhận các sản phẩm thân thiện với môi trường. Khẳng định uy tín
sản phẩm và của nhà sản xuất.
Những sản phẩm được dán nhãn:
+ Sản phẩm tái chế từ phế thải
+ Sản phẩm thay thế cho các sản phẩm xấu tới môi trường
+ Sản phẩm có tác động tích cực đối với môi trường trong sản xuất và tiêu
dùng.
1.3.8. Quỹ môi trường
Quỹ môi trường là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận tài trợ vốn
từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện
các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường.
Nguồn thu cho quỹ môi trường có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
như:
- Phí và lệ phí môi trường
- Đóng góp tự nguyện của các cá nhân và doanh nghiệp
- Tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật của các tổ chức trong nước, chính quyền địa
phương và chính phủ trung ương


GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

14


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường

CHƯƠNG II.
CÁC CÔNG CỤ MỆNH LỆNH – KIỂM SOÁT VÀ KINH TẾ TRONG
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
2.1.

Công cụ CAC trong quản lý môi trường tại Việt Nam

2.1.1. Tình hình áp dụng công cụ mệnh lệnh – kiểm soát ở Việt Nam
Ở nước ta cơ sở pháp lý của công tác quản lý môi trường được thể hiện trong luật
môi trường 2005, Nghị định 175/CP và các văn bản khác. Các văn bản này được trình
bày trong 2 tập sách: “Các qui định pháp luật về môi trường Tập 1-1995” và “ Các qui
định pháp luật về môi trường Tập 2-1997” cùng nhiều văn bản liên quan khác như : “Tiêu
chuẩn môi trường Việt Nam, qui chuẩn môi trường Việt Nam.v.v.”. Tuy nhiên, ở nước ta
một số văn bản pháp lý cần thiết cho công tác quản lý môi trường chưa có hoặc chưa
được ban hành: tiêu chuẩn và qui định về môi trường cho các lĩnh vực sản xuất và hàng
hóa cụ thể…Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn còn thiếu, nhận
thức của con người về ô nhiễm môi trường còn hạn chế…
2.1.2. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công cụ mệnh lệnh – kiểm soát
- Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các
phong trào quần chúng bảo vệ môi trường. Cụ thể như: Đưa chương trình bảo vệ môi
trường vào chương trình giáo dục của tất cả các hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều


Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại Việt Nam

Áp dụng Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường là cách tiếp cận đúng đắn
nhằm hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường tại Việt Nam. Việc áp dụng công cụ kinh
tế trong quản lý môi trường đã được Chính phủ quan tâm. Một số công cụ kinh tế đã
được triển khai áp dụng ở các quy mô khác nhau. Bước đầu, các công cụ kinh tế đã có tác
dụng tích cực giúp hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường. Tuy nhiên, do chưa có nghiên
cứu đầy đủ về các công cụ kinh tế trước khi ban hành nên quá trình triển khai các công cụ
này còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả thực thi chưa cao. Ngoài ra, năng lực nghiên cứu
và thực thi các công cụ kinh tế còn hạn chế. Còn nhiều công cụ kinh tế chưa được áp
dụng.
2.2.1 Tình hình áp dụng công cụ kinh tế ở Việt Nam
2.2.1.1. Thuế tài nguyên
Pháp lệnh Thuế Tài nguyên ra đời ngày 30/3/1990 và được sửa đổi năm 1998.
Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế tài nguyên. Trong Luật thuế Tài
nguyên, các nhóm đối tượng chịu thuế có liên quan đến ĐDSH bao gồm: các sản phẩm
của rừng tự nhiên (thực vật và các loại sản phẩm khác của rừng tự nhiên trừ động vật);
hải sản tự nhiên (gồm các loại động vật và thực vật ở biển) và yến sào thiên nhiên. Thống
kê cho thấy, số tiền thu thuế tài nguyên theo Pháp lệnh Thuế Tài nguyên bình quân trong
giai đoạn 2005 - 2008, mỗi năm trên 23.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 15% tổng thu ngân
sách nhà nước.
2.2.1.2. Thuế và phí môi trường
Hiện tại ở Việt Nam, loại thuế/phí đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi trường
đang được áp dụng dưới hình thức phí BVMT đối với nước thải, đối với chất thải rắn và
khai thác khoáng sản.
Phí BVMT đối với nước thải được quy định tại Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày
13/6/2003. Tuy nhiên, sau hơn 6 năm thực hiện, phí BVMT đối với nước thải vẫn còn
bộc lộ nhiều bất cập. Các cơ quan quản lý còn lúng túng trong cách thu và tính phí. Các
doanh nghiệp còn tìm cách trốn tránh và nợ phí. Kết quả là tỷ lệ thu phí nước thải công

(thông qua việc sản xuất ít đi) chứ không phải tác động trực tiếp vào quá trình phát thải ô
nhiễm. Đối với những hàng hóa thuộc loại xa xỉ thì loại thuế này có tác dụng nhiều trong
việc hạn chế ô nhiễm (thông qua hạn chế tiêu dùng/sản xuất) nhưng với hàng hóa thiết
yếu thì loại thuế này ít có tác dụng giảm ô nhiễm.
2.2.1.3. Một số công cụ kinh tế khác
Ký quỹ trong hoạt động khai thác khoáng sản theo Quyết định số 71/2008/QĐTTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Ký quỹ môi trường đã đem lại những kết
quả bước đầu đáng khích lệ trong công tác kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động khai
thác khoáng sản. Tuy nhiên, việc áp dụng công cụ này trên thực tế chỉ mới dừng lại các
dự án quy mô nhỏ hoặc còn ở giai đoạn thử nghiệm do công thức dự toán chi phí cải tạo,
phục hồi môi trường, chưa cụ thể, khó thực hiện.
Cơ chế hỗ trợ tài chính cho các các hoạt động BVMT được thực hiện theo quy
định tại Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/1/2009. Ngoài ra, thuế xuất nhập khẩu,
thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có những điều khoản ưu đãi về thuế cho các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ, thiết bị và công nghệ môi trường. Mặc
dù đã có cơ chế hỗ trợ tài chính song chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia các hoạt động
này vì nhu cầu đầu tư cho môi trường chưa cao. Nói cách khác, "cầu" cho hoạt động
BVMT chưa đủ cao để kích thích các hoạt động "cung".
Một cơ chế khác là Quỹ Môi trường đã được hình thành nhằm hỗ trợ vốn cho các
doanh nghiệp đầu tư BVMT như: Quỹ Môi trường cấp quốc gia (Quỹ BVMT Việt Nam,
Quỹ Bảo tồn Việt Nam), Quỹ BVMT các tỉnh/TP, Quỹ Môi trường ngành. Sau một thời
gian hoạt động, các quỹ môi trường đã góp phần đưa nguồn vốn của Nhà nước để thực
hiện dự án môi trường hiệu quả; bước đầu huy động được một phần nguồn lực từ trong
và ngoài nước cho các hoạt động BVMT. Tuy nhiên các quỹ này chưa phát huy hết hiệu
quả do nguồn vốn chưa đủ, các doanh nghiệp chưa có nhiều thông tin về các thủ tục vay
cũng như chưa có áp lực cần vay vốn đầu tư BVMT.
Chương trình cấp Nhãn sinh thái đã được Bộ TN&MT phê duyệt năm 2009 nhằm
khuyến khích các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Đặt cọc hoàn trả, mặc dù chưa có quy định của nhà nước nhưng cũng đã được áp dụng có
tính tự phát ở một số lĩnh vực như đặt cọc vỏ chai.
Có thể nói một số lượng đáng kể các Công cụ kinh tế trong quản lý ô nhiễm đã

số nghiên cứu nhằm ban hành hướng dẫn cho công tác bồi thường thiệt hại môi trường.
Phí có thể khuyến khích việc tiêu dùng bền vững và cung cấp nguồn tài chính cho
các hoạt động bảo tồn. Các loại phí phù hợp phụ thuộc vào bản chất của khu vực cần bảo
tồn. Đối với các khu bảo tồn, phí có thể dưới hình thức phí vào cửa. Để bảo vệ ĐDSH
trong nông nghiệp, có thể áp dụng phí tính trên đơn vị thuốc trừ sâu và phân bón.
Hỗ trợ tín dụng là những khoản vay ưu đối với mức lãi suất thấp để hỗ trợ các hoạt
động bảo tồn của cá nhân và cộng đồng, có thể áp dụng cho du lịch sinh thái, sản xuất
nông sản hữu cơ, khai thác bền vững rừng, bảo vệ các giống loài có nguy cơ tuyệt chủng.
2.2.2. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công cụ kinh tế
Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, để có thể áp dụng thành công các công
cụ kinh tế vào quản lý môi trường, cần xem xét cân nhắc các điều kiện dưới đây:
- Những thông tin cơ bản có liên quan như lợi ích – chi phí của các phương án
chính sách môi trường, các chỉ tiêu biến đổi chất lượng môi trường và phúc lợi xã hội,
khả năng thể chế tài chính và kỹ thuật...cần được cung cấp đầy đủ cho nhà lập chính sách,
các cơ quan chức năng, các đối tượng như doanh nghiệp, người gây ô nhiễm.
- Thể chế pháp lý đủ mạnh, có hiệu lực cưỡng chế về trách nhiệm pháp lý; đặc biệt
quyền tài sản đối với các tài nguyên môi trường và cơ chế sở hữu nguồn lực cần được xác
định rõ và có hiệu lực thực tế.
- Sự vận hành của thị trường cạnh tranh với số lượng lớn người mua – người bán
và có sự chênh lệch lớn trong chi phí giảm ô nhiễm của các đối tượng gây ô nhiễm. Như

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

18


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường
vậy, tại các khu vực công nghiệp và đô thị phát triển, việc áp dụng công cụ kinh tế sẽ khả
thi hơn so với các vùng nông thôn.

hướng đơn giản, dễ áp dụng để phù hợp với bối cảnh thực tiễn hiện nay; Tiếp tục đẩy
mạnh thanh kiểm tra, tuyên tuyền, giáo dục nhằm tạo tiền đề cho Công cụ kinh tế phát
huy hiệu quả.
- Một điểm cần lưu ý nữa để công cụ kinh tế phát huy tác dụng thì cần thực hiện
tốt công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm cũng như tuyên tuyền giáo dục nhằm tạo
động lực tuân thủ các qui định về môi trường, trong đó có các quy định về công cụ kinh
tế.
- Kết hợp giữa công cụ kinh tế với công cụ mệnh lệnh – kiểm soát truyền thống.
Thông thường công cụ kinh tế được xây dựng trên cơ sở của các quy định cũ, trong đó
các một hệ thống hỗn hợp được tạo ra nhằm duy trì những yếu tố tích cực của công cụ

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

19


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường
mệnh lệnh – kiểm soát, đồng thời thông qua công cụ kinh tế, phát huy linh hoạt, giảm chi
phí thực hiện, khuyến khích những bước phát triển bền vững trong công tác bảo vệ môi
trường.
2.2.3. Bốn nguyên tắc sử dụng công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Việt Nam đang phải đối diện với nhiều vấn đề bức xúc về môi trường như hiện
nay, cả về ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất bởi rác thải công
nghiệp, bệnh viện và rác thải sinh hoạt đô thị khác… Thực trạng đó đòi hỏi Việt Nam
phải tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế để bảo vệ và cải thiện môi trường như một
yêu cầu bức xúc, trong đó, việc sử dụng các công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường phải
được quán triệt 4 nguyên tắc chủ yếu:
Thứ nhất , trên lý thuyết và thực tế, việc tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế
để bảo vệ môi trường, về thực chất là việc thực hiện các khuyến khích và trừng phạt tài


GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh
HVTH: Nguyễn Thanh Sơn

20


Bài tập chuyên đề: Kinh tế môi trường
tài chính - tín dụng môi trường (quỹ môi trường, ngân hàng môi trường, các công
ty đầu tư môi trường…), thuế, phí và lệ phí tài nguyên, môi trường.
Ngoài ra, cần không ngừng cập nhật và sử dụng thích hợp những công cụ mới,
như tem, nhãn, chứng chỉ về môi trường để tạo lòng tin cho người tiêu dùng, làm tăng
trách nhiệm của doanh nghiệp, cũng như sự hấp dẫn, cạnh tranh của thương hiệu, sản
phẩm cả trên thị trường trong nước, lẫn quốc tế.
Chi phí của nhà nước và doanh nghiệp cho bảo vệ môi trường phải thường
xuyên tăng (thực tế cho thấy, để phát triển bền vững, mức chi cho nghiên cứu khoa học
- kỹ thuật - công nghệ, giáo dục và đào tạo, cải thiện môi trường của mỗi nước
thường phải đạt tối thiểu 1,5 - 2% GDP hàng năm, riêng chi cho bảo vệ môi trường ở cả
nước phát triển là 0,8-1,7% GDP). Nguồn vốn của các định chế tài chính - tín dụng môi
trường này được hình thành từ các nguồn khác nhau: ngân sách nhà nước, quyên góp,
ủng hộ tự nguyện, vốn viện trợ, vay thương mại, huy động từ xổ số, tín phiếu môi trường,
đặc biệt là từ các loại thuế và lệ phí môi trường.
Thứ tư , kết hợp chặt chẽ, hiệu quả việc sử dụng các công cụ kinh tế với các công
cụ khác nhằm đạt được những mục tiêu bảo vệ môi trường dài hạn, cũng như lựa chọn
thích hợp cho từng thời kỳ cụ thể như sau:
Một mặt, cần coi trọng việc rà soát điều chỉnh, thay thế, nâng cấp, bổ sung và hoàn
thiện các quy định pháp lý về bảo vệ môi trường, cụ thể hóa cho từng nhóm tác nhân,
hành vi gây ô nhiễm môi trường, cho từng loại ô nhiễm, cho từng đối tượng chấp hành cụ
thể trong quá trình thực hiện các hoạt động gây ô nhiễm và giám sát, bảo vệ môi trường.
Quy định rõ cả những tiêu thức, chỉ tiêu, định mức và định tính cho các vi phạm bảo vệ

tra, giám sát, kế toán và kiểm toán thích hợp nhằm đảm bảo mục tiêu, yêu cầu và hiệu
quả của các hoạt động quản lý môi trường, xã hội hóa và phân cấp bảo vệ môi trường.
Kiện toàn công tác tổ chức, nâng cao năng lực, hiệu quả của các đơn vị, tập thể
trực tiếp tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Trước hết, cần xây dựng những cơ
quan chuyên trách về quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường theo
hướng tập trung chức năng, định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế hoạt
động cụ thể.
Đặc biệt, cần tuyên truyền, phổ biến rộng rãi thông tin của cơ quan chức năng cho
nhân dân biết để tiếp cận dễ dàng việc xử lý các tranh chấp, khiếu kiện và tố giác về các
hành vi xâm hại môi trường diễn ra hàng ngày. Các cơ quan này phải có trách nhiệm và
đủ quyền hạn tiếp nhận, giải quyết theo chế độ "một cửa". Thành lập các tổ thanh
tra môi trường chuyên trách từ cấp Trung ương, tỉnh, thành phố xuống tới các quận,
huyện, xã, phường với quyền hạn lớn, kèm theo các chế tài được quy định rõ
ràng, cụ thể để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm tất cả các hành vi vi phạm các quy
định về quản lý môi trường trên địa bàn. Dùng cơ chế thưởng tiền xứng đáng cho các tổ
này theo phương châm "lấy kinh phí hoạt động của tổ thanh tra chủ yếu từ nguồn thu tiền
phạt mà tổ thu được, giảm thiểu bao cấp và ngăn ngừa lạm dụng, nhũng nhiễu ".
Tăng cường công tác giáo dục, đào tạo về nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi
trường, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng và tôn vinh xứng
đáng các cán bộ, nhân viên làm tốt công tác Bảo vệ môi trường cả về vật chất lẫn tinh
thần cho từng người, từng chức danh cụ thể. Đặc biệt, cần ưu tiên bố trí những cán bộ
được đạo tạo cơ bản, có bằng cấp chuyên sâu về môi trường và quản lý đô thị vào các vị
trí then chốt, nhạy cảm trong guồng máy và mạng lưới bảo vệ môi trường các cấp. Tăng
cường hợp tác, giao lưu quốc tế và thế giới để học tập, bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm
quản lý môi trường. Xây dựng hệ thống chức danh tiêu chuẩn chính thức và các giải
thưởng, danh hiệu, chế độ khen thưởng, kỷ luật về môi trường để áp dụng thống nhất, có
hiệu lực và hiệu quả trên toàn quốc, cũng như ở mỗi địa phương, nhằm phát huy sức
mạnh đồng thuận toàn xã hội cho công tác quản lý môi trường.

GVHD: TS. Lê Thị Kim Oanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status