Tiểu luận Kinh tế thị trường pot - Pdf 12

Tiểu luận

Kinh tế thị
trường Lời mở đầu
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xó
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, Đại hội VI
của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đó đề ra đường lối
đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xó hội. Đại hội đã quyết định chuyển từ
nền kinh tế kế hoạch hóa tập chung( nền kinh tế đã kìm hãm sự phát
triển của xã hội trong một thời gian khá dài) sang nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.Kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ
nghĩa là mụ hỡnh kinh tế tổng quỏt mà nước ta lựa chọn trong thời
kỳ đổi mới. Nó vừa mang tính chất chung của kinh tế thị trường,
vừa có những đặc thù, được quyết định bởi các nguyên tắc và bản
chất của chủ nghĩa xó hội. Đây là sự vận dụng sáng tạo những kinh
nghiệm trong nước và thế giới về phát triển kinh tế thị trường, là sự
kết tinh trí tuệ của toàn Đảng trong quá trỡnh lónh đạo nhân dân xây
dựng đất nước. Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xó hội

xuất xã hội. Nhưng bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng đều phải
giải quyết 4 vấn đề cơ bản: Sản suất cái gì? Với số lượng bao nhiêu?
Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai và phân phối sản phẩm như
thế nào? Giải quyết những vấn đề này có hai kiểu tổ chức kinh tế-
xã hội, đó là: Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hóa
Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên của xã hội loài
người. Kinh tế tự nhiên là nền kinh tế trong đó sản phẩm được sản
xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của con người sản xuất
trong một đơn vị kinh tế nhất định. Người sản xuất quyết định về số
lượng, chủng loại sản phẩm theo yêu cầu của mình, gắn với điều
kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền. Trình độ phân công
lao động, công cụ lao động, phương thức tổ chức sản xuất còn rất
thấp và giản đơn: sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, khép kín theo
từng vùng từng địa phương, lãnh thổ. Trong các xã hội nguyên thủy,

chiếm hữu nô lệ phong kiến chủ yếu là nền kinh tế tự nhiên.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kế tiếp kinh tế tự
nhiên trên cơ sở sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự
tách biệt về kinh tế của những người sản xuất. đó là hình thức kinh
tế trong đó người sản xuất ra sản phẩm không phải để thỏa mãn nhu
cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để trao đổi, để bán trên thị trường.
Vì vậy số lượng và chủng loại sản phẩm suy cho cùng là do người
mua quyết định. Việc phân phối sản phẩm được thực hiện thông qua
quan hệ trao đổi ( mua- bán) trên thị trường.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ rất sớm- vào thời kỳ tan rã của chế độ
công xã nguyên thủy và đã từng tồn tại trong nhiều phương thức sản
xuất. Hình thức đầu tiên của nó là nền kinh tế hàng hóa giản đơn. đó
là kiểu sản xuất do những người nông dân, thợ thủ công tiến hành
dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của
chính bản thân người sản xuất, họ trực tiếp trao đổi sản phẩm với

bộ xã hội và văn minh. Như vậy sản xuất hàng hóa không đối lập
với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh
nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã xây dựng.
Tóm lại kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế
hàng hóa. Nó khác với kinh tế tự nhiên ở trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, trình độ phân công lao động xã hội và cách thức tổ
chức kinh tế xã hội, trong đó sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản
xuất gắn chặt với thị trường. Quan hệ kinh tế giữa những người sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm biểu hiện qua thị trường , qua việc mua
bán sản phẩm lao động của nhau. Việc sản xuất ra những hàng hóa
gì, cần có những dịch vụ nào đều phải xuất phát từ nhu cầu của thị
trường. Mọi sản phẩm đi vào sản xuất phân phối, trao đổi , tiêu
dùng đều phải thông qua thị trường.

2.Điều kiện hình thành và các bước phát triển của kinh tế thị
trường. a.Những điều kiện cơ bản để hình thành kinh tế thị
trường
- Thứ nhất là phải tồn tại nền kinh tế hàng hóa. Kinh tế thị trường là
giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa nên những điều kiện
để phát triển kinh tế hàng hóa chính là điều kiện để phát triển kinh
thị trường Thứ hai là phải dựa trên cơ sở tự do kinh tế , tự do sản
xuất xã hội kinh doanh.Trong một nền kinh tế thị trường có nhiều
người cùng sản xuất một loại sản phẩm và ngược lại.Mỗi đơn vị sản
xuất và người tiêu dùng cần nhiều loại sản phẩm hàng hóa khác
nhau.Vì vậy việc tự do lựa chọn mối quan hệ bán hàng giữa các chủ
thể kinh tế , tự do trao đổi mua bán là hết sức cần thiết cho quá trình
giải phóng sức sản xuất và điều hòa lợi ích giữa người mua và
người bán .Sự tự do mua bán còn thể hiện tập chung qua giá cả hình
thành trên thị trường tuân theo sự chi phối của các quy luật kinh tế

lập và pt trên cơ sở mở rộng và làm sâu sắc không ngừng những
điều kiện đó .
b.Các bước chuyển biến của nền kinh tế hàng hóa.
Kinh tế hàng hóa ra đời từ nền kinh tế hàng hóa tự nhiên thay thế
và đối lập vơí nền kinh tế tự nhiên .Trong lịch sử nó đã pt qua các
loại hình :kinh tế hàng hóa gỉan đơn ,kinh tế thị trường tự do và
kinh tế thị trường hỗn hợp gắn liền với ba bước chuyển biến sau.
-Bước chủyên từ nền kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc lên kinh tế hàng
hóa giản đơn.
Bước chuyển này gắn liền với sự phát triển của phân công lao
động xã hội và chế độ tư hữu về liệu sản xuất .Trong suốt quá trình
tồn tại của nền kinh tế hàng hóa giản đơn đã diễn ra 3 lần phân công
lao động xã hội lớn :lần 1 nghề chăn nuôi tách khỏi trồng trọt ,lần 2
công nghiệp tách khỏi nông nghiệp ,lần 3 thương nghịêp tách khỏi

các ngành sản xuất vật chất khác.Như vậy phân công lao động xã
hội đã tách sự lệ thuộc của người lao động sản xuất với tự nhiên và
chuyển thành sự phụ thuộc giữa con người vớí con người trong quá
trình sản xuất .Phân công lao động xã hội đã thực sự là cơ sở của
sản xuất và trao đổi hàng hóa .
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn sản xuất hàng hóa giản đơn là dựa
trên cơ sở kĩ thuật thủ công tương ứng với văn minh nông nghiệp ,tư
hữu nhỏ về tư liệu sản xuất ,cơ cấu kkinh tế là nông nghiệp-thủ
công nghiệp ;tính chất hàng hóa của sản phẩm chưa hoàn toàn phổ
biến .
- Bước chuyển từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn lên nền kinh tế thị
trường tự do
Từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVII ở nứơc Anh và một số
nước châu Âu diễn ra quá trình qúa độ từ chế độ phong kiến sang
CNTB .Đó là thời kì tích lũy nguyên thủỷ của CNTB châu Âu

hỗn hợp
Kinh tế thị trường hỗn hợp là hình thức phát triển cao của nền
kinh tế hàng hóa ở đó các chức năng cơ bản của nền kinh tế sản xuất
cái gì ,bằng cách nào cho ai đều được sử lý trên nguyên tắc của cơ
chế thị trường có sự quản lí vĩ mô củă nhà nước .Sự phát triển cuả
kinh tế thị trường hỗn hợp diễn ra từ những năm 40-50 của thế kỉ
XX đến nay nó gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của cuộc cách
mạng khoa học- kĩ thủật và công nghệ hiện đaị.Cho đến nay hầu hết
các quốc gia trên thế giới đều hỏạt động theo nền kinh tế thị trường
hỗn hợp gắn với các điều kịên :sự xuất hiện của sở hữu nhà nước
,thị trường chứng khoán ,tham gia phân công lao động quốc tế ,đặc
biệt là sự xuất hiện vai trò mới của nhà nước –vai trò quản lí vĩ mô
đối với kinh tế thị trứờng.

Đặc trưng của kinh tế thị trường là dựa trên kĩ thuật điện tử tin học
gắn với nền văn minh hậu công nghiệp hay văn minh trí tuệ ,tồn tại
các hình thức sở hữu nhà nứơc ,sở hữu cổ phần ,sở hữu quốc tế ,dựa
trên cơ cấu kinh tế công ngh ịêp –dịch vụ –nông nghiệp ;vận động
theo cớ chế kinh tế hỗn hợp ;cơ chế thị trường và sự quản lý vĩ mô
của nhà nứơc.
3.Các nhân tố của kinh tế thị trường.
a.Giá cả.
Giá cả thị trường là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường
của hàng hóa.Giá cả thị trường có những chức năng chủ yếu sau:
(-) Chức năng thông tin :chức năng thông tin về giá cả cho người
sản xuất biết được tình hình sản xuất trong các ngành,biết được
tương quan cung-cầu,biết được sự khan hiếm với các hàng hóa, nhờ
đó các nhà sản xuất có những quyết định thích hợp.
(-) Chức năng phân bổ các nguồn lực kinh tế : sự biến đổi về giá cả
sẽ dẫn đên sự biến động của cung cầu, sản xuất và tiêu dùng và dẫn

hệ biện chứng ;sự tác động giữa chúng hình thành nên giá cả cân
bằng hay giá cả thị trường .
Thư tư : cạnh tranh trên thị trường.
Trong kinh tế thị trường các chủ thể hành vi kinh tế vì lợi ích kinh
tế của bản thân mình mà tiến hành cạnh tranh với nhau. Cạnh tranh
được hiểu là sự đấu tranh giữa các chủ thể hành vi kinh tế nhằm
giành mục đích tối đa cho mình. Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của
kinh tế thị trường. Nó là hiện tượng tự nhiên, tất yếu của kinh tế thị
trường, ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có cạnh tranh.
b.Hàng hóa và dịch vụ : hàng hóa là những sản phẩm được làm ra
để thỏa mãn nhu cầu của con người .Đời sống con người càng nâng
cao thì nhu cầu về hàng hóa của con người cũng tăng.

Trước nền kinh tế thị trường do trình độ khoa học kỹ thuật còn lạc
hậu nên năng suất lao động thấp , do đó khối lượng hàng hóa nhỏ
bé, chủng loại hàng hóa còn nghèo làn, chất lượng hàng hóa thấp,
giá cả cao vì thế khả năng cạnh tranh còn yếu.
Trong nền kinh tế thị trường do sự cạnh tranh mà các doanh
nghiệp luôn áp dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật mới nhất. Do
đó các sản phẩm được đưa ra thị trường với chất lượng cao , chủng
loại phong phú, khối lượng lớn và giá cả thấp. Người tiêu dùng có
nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm hàng hóa- dịch vụ mà mình
mong muốn.
Cùng với sự phát triển của các loại hàng hóa ,các ngành dịch vụ
cũng không ngừng được phát triển nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu
của khách hàng .
c.Lợi nhuận.
Lợi nhuận là mục đích và là động cơ để các doanh nghiệp tham gia
thị trường.Để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho thị trường ,các nhà
sản xuất phải bỏ vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh .Họ chỉ

Trong nền kinh tế hàng hóa cũng như trong nền kinh tế thị trường
năm chức năng này của tiền tệ có quan hệ mật thiết với nhau.
Sự phát triển các chức năng của tiền tệ phản ánh sự phát triển của
sản xuất và lưu thông hàng hóa.Nhờ có tiền tệ mà lưu thông trở nên
thông suốt hơn, ,nâng cao sản xuất kinh doanh, xúc tiến giao lưu
kinh tế ,khoa học kỹ thuật với bên ngoài, góp phần đẩy nhanh sự
phát triển kinh tế …
4.Các quy luật của kinh tế thị trường.

a) Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần
thiết cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kì nhất định .
Khi tiền mới chỉ thực hiện chức năng là phương tiện lưu thông ,thì
số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được tính theo công thức :
M=P.Q/V
Trong đó :
M :là lượng tiền cần thíêt cho lưu thông
P :là mức giá cả
Q :là khối lừợng hàng hóa đem ra lưu thông
V: là số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền
tệ
Tức :
M= Tổng giá cả hàng hóa đem ra lưu thông / số vòng luân
chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ
Khi tiền thực hiện cả chức năng phương tiện thanh toán thì số
lượng cần thiết cho lưu thông được xác định như sau : b. Quy luật giá trị
- Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị :

Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng gía trị thì người sản xuất
có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy quy luật gía trị đã tự động điều tiết tỉ lệ phân chia tư liệu
sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau đáp ứng
nhu cầu của xã hội.
Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy lụât giá trị thể hiện
ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá cả

cao và do đó góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân
bằng nhất định .
(+)Kích thích cải tiến kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất tăng năng xuất
lao động hạ giá thành sản phẩm.
Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau
nhưng trên thị trường thì các hàng hóa thì đều phải được trao đổi
theo mức hao phí lao động cá biệt khác nhau ,nhưng trên thị trường
thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức h ao phí lao động
xã hội cần thiết .Vậy người sản xuất hàng hóa nào mà có mức hao
phí lao động thấp hơn mức lao hao phí lao động xã hội cần thiết thì
sẽ đựơc nhiều lãi và càng thấp hơn càng lãi .Điều đó kích thích
những người sản xuất hàng hóa cải tíên kĩ thuật ,hợp lí hóa sản xuất
,cải tiến tổ chức quản lí ,thực hiền tiết kịêm …nhằm tăng năng xuất
lao động ,hạ chi phí sản xuất.
Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra
mạnh mẽ hơn.Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối
cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng xuất lao động xã hội không ngừng
tăng lên ,chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.
(+)Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu ,nghèo.
Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá
biệt thấp hơn mức lao động hao phí xã hội cần thiết ,khi bán hàng
hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu được nhiều lãi

trì trệ bảo thủ ,kém phát triển.
Bên cạnh mặt tích cực cạnh tranh cũng có mặt tiêu cực thể hiện ở
cạnh tranh không lành mạnh như dùng những thủ đoạn vi phạm đạo
đức hoặc vi phạm pháp luật nhằm thu được nhiều lợi ích nhất cho
mình gây tổn hại đến lợi ích của tập thể ,xã hội cộng đồng như làm
hàng giả ,buôn lậu ,trốn thuế ,ăn cắp bản quyền tung tin phá hoại uy

tín đối thủ ,hoặc cạnh tranh làm tăng sự phân hóa giau nghèo hoặc
tổn hại đối với môi trường sinh thái …
- Quan hệ cung cầu và gía cả hàng hóa
(+)Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán .Như vậy cầu là nhu cầu
nhưng không phải là nhu cầu bất kì mà là nhu cầu được đảm bảo
bằng số lượng tiền tương ứng gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán
.Quy mô của cầu phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu như :thu nhập
,sức mua của đồng tiền ,giá cả hàng hóa ,lãi xuất thị hiếu của người
tiêu dùng …trong đó giá cả là yếu tố có í nghĩa đặc biệt quan trọng
.
(+)Cung là tổng số hàng hóa có ở thị trường hoặc có khả năng
thực tế cung cấp cho thị trường .Cung biểu hiện kết quả sản xuất
dưới hình thức hàng hóa .Như vậy cung do sản xuất quyết định
nhưng cung không phải bao giờ cũng đồng nhất với sản xuất .Ví dụ
:những sản phẩm sản xuất để tự tiêu thụ hoặc không có khả năng
đưa tới thị trường thì không nằm trong cung .Cụ thể lượng cung phụ
thuộc chủ yếu vào số lượng ,chất lượng các yếu tố sản xuất ,chi phí
sản xuất ,giá cả hàng hóa trong đó cũng như cầu giá cả là yếu tố có
vai trò đặc biệt quan trọng .
Cung và cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau .Cầu xác định cung và
ngược lại cung xác định cầu .Cầu xác định khối lượng ,cơ cấu của
cung về hàng hóa: hỉ có những hàng hóa nào có cầu thì mới được
sản xuất,cung ứng ,hàng hóa nào tiêu thụ được nhiều ,nhanh nghĩa

- Như mọi người đó biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức
kinh tế phản ảnh trỡnh độ phát triển nhất định của văn minh nhân
loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ
nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ
nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đó biết lợi dụng tối đa ưu thế của
kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh

doanh, tỡm kiếm lợi nhuận, và một cỏch khỏch quan nú thỳc đẩy
lực lượng sản xuất của xó hội phỏt triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh
tế thị trường tư bản chủ nghĩa đó đạt tới giai đoạn phát triển khá cao
và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là
vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực nó cũn cú mặt trỏi, cú khuyết tật từ
trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi
phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu
thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết
được các vấn đề xó hội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn của
xó hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo.
Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó cũn ràng
buộc cỏc nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột
theo quan hệ "trung tâm - ngoại vi". Có thể nói, nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một
số ít nước lớn hay là một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số
các nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và
các nước nghèo.
Chớnh vỡ thế mà, như C.Mác đó phõn tớch và dự bỏo, chủ
nghĩa tư bản tất yếu phải nhường chỗ cho một phương thức sản xuất
và chế độ mới văn minh hơn, nhân đạo hơn. Chủ nghĩa tư bản mặc
dù đó và đang tỡm mọi cỏch để tự điều chỉnh, tự thích nghi bằng
cách phát triển "nền kinh tế thị trường hiện đại", "nền kinh tế thị

trình độ kỹ thuật- công nghệ, về trình độ quản lý, nên chi phí sản
xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau.
- Quan hệ hàng hóa- tiền tệ còn rất cần thiết trong quan hệ kinh tế
đối ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế ngày
càng sâu sắc, vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt, là người sở

hữu đối với các hàng hóa đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới. Sự
trao đổi ở đây phải tuân theo nguyên tắc ngang giá.
Như vậy khi kinh tế thị trường tồn tại ở nước ta là một tất yếu
khách quan thì không thể lấy ý chí chủ quan mà xóa bỏ được.
Đồng thời Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế kỹ thuật lạc hậu,
trỡnh độ xó hội cũn thấp, lại bị chiến tranh tàn phỏ nặng nề. Đi lên
chủ nghĩa xó hội là mục tiờu lý tưởng của những người cộng sản và
nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân
tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xó hội bằng cỏch nào? Đó là
câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật không đơn giản.
Suốt một thời gian dài Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đó ỏp
dụng mụ hỡnh chủ nghĩa xó hội kiểu Xụ-viết, mụ hỡnh kinh tế kế
hoạch tập trung mang tớnh bao cấp. Mụ hỡnh này đó thu được
những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hỡnh này bộc lộ những
khuyết điểm; và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai
lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều,
chủ quan, duy ý chớ, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội,
không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xó hội
khụng đúng với thực tế Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa
xó hội và con đường đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam, Đại hội VI
Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đó đề ra đường lối đổi
mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc

dựng". Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị
trường, chưa dùng khái niệm "kinh tế thị trường". Phải đến Đại hội
IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái niệm "kinh
tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa". Đại hội khẳng định:
phát triển kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa là đường

lối chiến lược nhất quán, là mô hỡnh kinh tế tổng quỏt trong suốt
thời kỳ quỏ độ đi lên chủ nghĩa xó hội ở Việt Nam. Đây là kết quả
sau nhiều năm nghiên cứu, tỡm tũi, tổng kết thực tiễn; và là bước
phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam.
2.Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta
Quá trình chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
thị trường ở nước ta có thể chia thành một số giai đoạn nhưng giữa
các giai đoạn không có danh giới tuyệt đối nên phải chọn sự kiện
điển hình và quan trọng để làm mốc phân chia các giai đoạn . Quá
trình chuyển sang nền KTTT ở nước ta có thể chia thành các giai
đoạn:1979-1985,1986-1990 và từ 1991 đến nay.
a.Giai đoạn từ 1979-1985
Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 6 khóa IX tháng 9/1979có thể
được coi là mốc đánh dấu khởi đầu công cuộc đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế ở nước ta Tại hội nghị lần đầu tiên Đảng ta đưa ra quan
điểm phát triển kinh tế hàng hóa ,kinh tế nhiều thành phần với chủ
trương cụ thể như “bỏ ngăn sông cấm chợ “thừa nhận nhiều thành
phần kinh tế v ới quy định cụ thể ;ở miền Nam có năm thành phần
,miền Bắc có ba thành phần :kinh tế tư bản tư nhân không được
thuê mướn quá 5-10 công nhân.
Hội nghị trung ương 6 đề ra một số quan điểm ,chủ trương đổi mới
,tuy chưa cơ bản và toàn diện như đại hội 6 nhưng đó là bước khởỉ
đầu có í nghĩa .Từ những quan điểm đó nhà nước ta đã ban hành
nhiều chính sách khuyến khích pt sản xuất .Những chính sách tiêu

.Nhưng do thời gian thực hiện hai giá kéo dài c(1981-1985)trên diện
rộng ,trong khi hầu như không có giải pháp hữu hiệu nào làm giảm
phát nên lạm phát trầm trọng thêm lại đẩy giá thị trường tiếp tục
tăng nhanh .Nếu lấy mốc giá năm 1979là 100 thì năm 1981
là:313,7%;1984:1400% ;19852390%.Trước tình hình trên 6/1985


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status