LUẬN VĂN:
Nguồn gốc,bản chất của lợi nhuận
và vai trò của lợi nhuận trong nền
kinh tế thị trường
Lời nói đầu
chương I:
Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận. I. Một số quan điểm về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận.
1.Quan điểm của trường phái trọng thương về lợi nhuận.
Học thuyết kinh tế trọng thương cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông mua
bán,trao đối sinh ra.Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều,mua rẻ bán đắt mà có.
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu hình thành các
nhà kinh tế học của trường phái trọng thương đã đưa ra cac chính sách làm tăng của cải
tiền tệ,giữ cho khối lượng tiền không ra nước ngoài,tập trung buôn bán để Nhà nước dễ
kiểm tra,bắt buộc thương nhân nước ngoài,tập trung buôn bán phải dùng số tiền mà họ có
mua hết số hàng mang về nước họ ở giai đoạn sau họ dùng chính sách xuất siêu để có
chênh lệch ,mang tiền ra nước ngoài để thực hiện mua rẻ bán đắt
Nhưng trong giai đoạn này các nhà kinh tế học chưa hiểu quan hệ giữa lưu thông hàng
hoá và lưu thông tiền tệ.Do đó những chính sách đưa ra nhằm mục tiêu như trên của các
nước tư bản chỉ mang tính chất bề mặt nông cạn.Chứng tỏ quan điểm về lợi nhuận cũng
như kinh tế chưa có “chiều sâu” thực chất.Chính những điều này đã dẫn đến nhiều mâu
thuẫn trong nền kinh tế.Đòi hỏi phải thoát khỏi phương pháp kinh nghiệm thuần tuý.Phải
phân tích kinh tế xã hội với tư cách là một chỉnh thể.
2.Quan điểm của trường phái cổ điển về lợi nhuận.
Học thuyết kinh tế cổ điển cho rằng lợi nhuận có được là do lĩnh vực sản xuất sinh ra
haylà kết qủa của lao động mang lại do người công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất.
Các nhà kinh tế của trường phái cổ điển ,họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và
quy luật của nền kinh tế thị trường.Như phạm trù lợi nhuận,địa tô,lợi tức trong đó có một
số quan điểm về lợi nhuận nổi bật là quan điểm của W.Petty,A.Đ Smith,Ricacđô.
W.Petty cho rằng lợi nhuận là khoản dôi ra hay số chênh lệch giữa thu nhập bán hàng và
ông đã đi tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại có hiện tượng này.Cuối cùng ông đã phát hiện ra
rằng nếu tư bản đưa ra một lượng tiền là T đưa vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng
hoá thì số tiền thu về lớn hơn số tiền ứng ra.Ta gọi là T’(T’>T) hay T’=T+T.
C.Mac gọi T là giá trị thặng dư.Ông cũng cho rằng mục đích của lưu thông tiền tệ
với tư cách là tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị.Mục đích của lưu thông T-
H-T’ là sự lớn lên của giá trị thặng dư nên sự vận động T-H-T’ là không có giới hạn.Công
thức này được Mac gọi là công thức của tư bản.
Qua nghiên cứu Mac đã đi đến kết luận:”Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và
cũng không thể xuất hiện ở người lưu thông.Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng
thời không phải trong lưu thông”.Đây chính là mâu thuẫn chung của công thức tư bản.Để
giải quyết mâu thuẫn này Mac đã phát hiện ra nguồn gốc sinh ra giá trị hàng hoá-sức lao
động.Qúa trình sản xuất ra hàng hoá và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân giá trị
sức lao động.Vậy quá trình sản xuất ra tư bản chủ nghĩa là quá trình sản xuất ra giá trị
thặng dư.
Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động,nó được tính bằng giá trị sức lao động
cộng thêm giá trị thặng dư.Vậy giá trị thặng dư (m) là phần giá trị sức lao động do công
nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.Qua đó chúng ta thấy tư bản là giá trị mang lại giá
trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê.
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng dư trong quá trinh sản xuất của
tư bản tư bản thì C.Mac đã chia tư bản ra làm hai bộ phận:tư bản bất biến(c) và tư bản khả
biến(v).
Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị
được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm ,tức là giá trik không đổi về lượng trong quá trình
sản xuất.
Tư bản khả biến là tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá
trình sản xuất đã tăng thêm về lượng.
Mac đã kết luận :giá trị của một hàng hoá bằng giá trị tư bản bất biến mà no chứa
thu được tiền thì sự chuyển hoá giá trị thặng dư như thế nào.Vì công thức chung của tư
bản là T-H-T’ nên mục đích cuối cùng của nhà tư bản là thu được T còn m chỉ là nền tảng
để thu được T’(T’>T).Mac đã giúp ta giải quyết vấn đề này vì ông đã tìm ra một đại lượng
biểu hiện giá trị thặng dư đó là lợi nhuận (P).Vậy: “Giá trị thặng dư khi được đem so sánh
với tổng tư bản ứng trước thì mang hình thức biến tướng thành lợi nhuận “ từ đó ta có thể
thấy P chính là con đẻ của tổng tư bản ứng trước c+v.
Để hiểu rõ hơn về P chúng ta có thể đi sâu vào phân tích chi phí thực tế xã hội và
chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất phát từ giá trị của hàng hoá c+v+m.
Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí lao động nhất định bao gồm chi phí mua tư
liệu sản xuất c gọi là lao động quá khứ và lao động tạo ra giá trị mới (v+m) .Đứng trên
quan điểm toàn xã hội ,quan điểm của người lao động thì chi phí đó là chi phí thực tế để
tạo ra giá trị hàng hoá (c+v+m).Nhưng đối với nhà tư bản thì họ không hao phí thực tế để
sản xuất ra hàng hoá nên nhà tư bản chỉ xem hết bao nhiêu tư bản chứ không tính xem chi
phí hết bao nhiêu lao động cần thiết.Thực tế họ chỉ ứng ra sô tư bản để mua tư liệu sản
xuất (c)và mua sức lao động (v).Chi phí đó được Mac gọi là chi phí sản xuất tư bản chủ
nghĩa có sư chênh lệch nhau một lượng đúng bằng m.Do đó nhà tư bản hàng hoá sẽ thu về
một phần lời đúng bằng giá trị thặng dư,số tiền này gọi là lợi nhuận.
Gía trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa với lợi nhuận giá
trị=k+P.
Về mặt lượng P có nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê
.
Về mặt chất P xem như toàn bộ tư bản ứng trước đẻ ra.Do đó P che dấu quan hệ bóc
lột tư bản chủ nghĩa ,che dấu nguồn gốc thực sự của nó.
Do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế cho nên
nhà tư bản có thể bán hàng hoá cao hơn chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa va có thể bán
thấp hơn giá trị hàng hoá .Nếu nhà tư bản bán hàng hoá với giá trị bằng giá trị của nó thì
P=m.Nếu bán với giá cao hơn giá trị của nó thì P>m,nếu bán với giá trị nhỏ hơn giá trị của
Trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá ,để cung cấp hàng hoá,dịch vụ cho thị
trường các nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh ,họ mong
muốn ngoài chi phí còn số dư dôi ra để không chỉ sản xuất mà còn củng cố và tăng cường
vị trí của mình trên thị trường .Lợi nhuận ở đây là chính là phần chênh lệch giữa tổng
doanh thu và tổng chi phí.Có thể tối đa hoá lợi nhuận bằng giảm chi phí sản xuất,hay tăng
tổng doanh thu thông qua bán hàng hoá,dịch vụ trong một thời kỳ nhất định tức làm gì.
3.1.2.Lợi nhuận thương nghiệp.
Tư bản thương nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản là một bộ phận của tư bản công nghiệp
tách rời ra phục vụ quá trình trình lưu thông hàng hoá vả tư bản công nghiệp.Tư bản
thương nghiệp chỉ hạn chế ở chức năng mua và bán,nó không sáng tạo ra giá trị và giá trị
thặng dư.Nó chỉ làm nhiệm vụ thực hiện giá trị và giá trị thặng dư.Và như vậy lợi nhuận
thương nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán hàng hoá mà tư bản thương nghiệp bán được
và giá mua hàng hoá mà tư bản công nghiệp bán cho nhà tư bản thương nghiệp.Hay lợi
nhuận thương nghiệp là một phần mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản
thương nghiệp bởi vì tư bản thương nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu thông,đó là
một khâu,một giai đoạn của quá trình sản xuất ,không có giai đoạn đó thì quá trình tái sản
xuất không tiếp tục được.
3.1.3.Lợi nhuận ngân hàng.
Lợi nhuận ngân hàng là thu nhập của nhà tư bản ngân hàng là hình thái biến tướng
riêng biệt của m.Nghiệp vụ chính của ngân hàng là thu nhận tiền gửi cho vay.Lợi tức cho
vay của ngân hàng cao hơn lợi tức tiền gửi ,con số chênh lệch này là nguồn gốc của lợi
nhuận ngân hàng.Vậy lợi nhuận ngân hàng thu được sau khi bù vào chi phí nghiệp vụ ngân
hàng(lương nhân viên,thiết bị văn phòng ).Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay và thu
được một phần giá trị thặng dư do doanh nghiệp trả lợi tức cho ngân hàng.Vậy,lợi nhuận
ngân hàng cũng là giá trị thặng dư.
3.1.4.Lợi tức cho vay.
Trong quá trinh tuần hoàn và chu chuyển tư bản công nghiệp,thương nghiêp luôn có
trong công nghiệp.
3.2.2.Lợi nhuận siêu ngạch trong nông nghiệp.(r)
Nhà tư bản kinh doanh thuê ruộng đất và thuê nhân công để tiến hành sản xuất .Sau
đó họ phải trích ra một phần,do công nhân tạo ra để trả cho địa chủ dưới hình thức địa tô.
Vậy địa tô tư bản chủ nghĩa là phần giá trị thặng dư còn lại trừ đi phần lợi nhuận bình
quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất.
2. David Berg Kinh tế học tập I trang 11.
3. Kinh tế chính trị Mac-LêNin tập II ,trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân trang 142.
Địa tô=m-P.
Trong nông nghiệp nhà tư bản nông nghiệp luôn tìm mọi cách thu được địa tô càng
lớn bằng cách cải tạo đất Đây là một công cụ tạo ra giá trị thặng dư siêu ngạch trong nông
nghiệp.
3.3. Lợi nhuận độc quyền.
Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh,nó loại bỏ sự thống trị của tự do cạnh tranh nhưng
không thủ tiêu được tự do cạnh tranh mà cạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt hơn.Cạnh
tranh dẫn đến độc quyền nhưng để cạnh tranh tốt hơn.Độc quyền chiếm giữ vị trí thống trị
trong nền kinh tế thể hiện ở sự độc chiếm các nguồn nhiêu liệu,nhân công.
Lợi nhuận độc quyền được tính bằng =P bình quân + P siêu ngạch.
chương II:
Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế
Thị trường
II. Kinh tế thị trường và ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến thu lợi nhuận.
1.Khái niệm kinh tế thị trường và cơ chế thi trường.
Thị trường là chỗ gặp nhau của cả người mua va người bán các hàng hoá và dịch
vụ.Một số trường hợp khác
đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế.Nó ảnh hưởng cả đến chính trị và xã hội và len lỏi
vào mọi mặt đời sống xã hội trong mọi nền kinh tế thị trường .Và trong nền kinh tế thị
trường lợi nhuận cũng có hai mặt của nó mặt tích cực và tiêu cực.Vấn đề ở đây là chúng ta
phải phát triển mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực như thế nào để phát huy được vai trò của
nó.
1. Lợi nhuận là động lực,mục tiêu trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tê thị trường lợi nhuận luôn được các nhà kinh tế,các tổ chức kinh
tế coi đó là động lực ,mục tiêu của mình.Làm thế nào để chi phí ít nhất mà lợi nhuận thu
về lớn nhất.Điều này đòi hỏi tính chuyên môn cao,sự sắp xếp lại cách tổ chức quản lý.Tổ
chức lại các bộ phận quản lý và thiết lập mối quan hệ giữa chúng để quá trình hoạt động
được nhịp nhàng thông suốt tránh sự trì trệ không cần thiết trong một số khâu nào đó làm
ảnh hưởng tới cả hệ thống quản lý.Hạn chế bớt một số bộ phận cồng kềnh còn giúp cho
các nhà kinh tế giảm bớt được chi phí ,đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận.Ngoài ra còn cải
tiến kỹ thuật ,nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ nhân viên Tóm lại lợi nhuận là động
lực cơ bản của sự vận động của nền kinh tế hàng hoá .
2. Lợi nhuận góp phần nâng cao đời sống xã hội.
Phân phối theo lao động và phân phối theo tài sản đều là tất yếu khách quan trong
quá độ hiện nay vì các hình thức đó đều nhằm mục đích thúc đẩy nền sản xuất phát triển
cao và tạo lập sự công bằng xã hội giữa các thành viên trong xã hội.Do đó đây là một hình
thức phân phối quá độ phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội.Nó đảm bảo cho tất cả
mọi thành viên xã hội đều có mức sống tối thiểu mà còn có tác dụng kích thích lao động
sản xuất ,kích thích sự phát triển của mọi thành viên trong xã hội .
Vậy thực chất phân phối đó là cái gì ,đó chính là phân phối lợi nhuận,Vì khi có lợi
nhuận thì Nhà nước có chú ý về tiền lương,trợ cấp thất nghiệp phúc lợi xã hội,quy định
mức lương tối thiểu,cùng với đó là tăng cường củng cố quốc phòng ,an ninh giáo
dục cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật hiện nay.
Chính vì vậy,để có được lợi nhuận cao thì yêu cầu đặt ra là chúng ta cần phải nắm
phát,thất nghiệp,khủng hoảng lại rơi xuống đầu giai cấp công nhân và nhân dân lao đ
ộng.
Ngoài ra đứng trong tầm vĩ mô của một đất nước lợi nhuận làm mai một dần các
ngành nghề truyền thống.Sự phát triển của công nghiệp cùng với những cặn bã của nó đã
đang làm ô nhiễm môi trường sống mà sự ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề nhức
nhối cần thiết của các quốc gia.Nếu chúng ta không ngăn chặn kịp thời,thì thế giới sẽ
không còn sự sống.Bên cạnh đó là các tệ nạn xã hội như cờ bạc,làm hàng giả
Tóm lại các vấn đề tiêu cực của xã hội do lợi nhuận gây ra đòi hỏi chúng ta phải có
biện pháp làm sao cho phù hợp.
2. Vai trò của nhà nước.
Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường rất quan trọng.Vai trò đó được
thực hiện qua các chức năng kinh tế của nó thông qua đó sẽ làm giảm các vấn đề do tiêu
cực của lợi nhuận gây ra trong nền kinh tế thị trường.
Đảm bảo sự ổn định chính trị xã hội và thiết lập khuôn khổ luật pháp để tạo ra
những điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế.Nhà nước tạo ra hành lang luật pháp cho
hoạt động kinh tế bằng cách đặt ra những điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và sự
hoạt động của thị trường,đặt ra những quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh
nghiệp.Khuôn khổ luật pháp mà Nhà nước thiết lập có tác dụng sâu sắc tới các hành vi
kinh tế của con người và bản thân cả Chính phủ phải tuân theo.
Bên cạnh đó Nhà nước điều tiết để đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển
ổn định.
Tóm lại thông qua vai trò hoạt động của mình Nhà nước đã khẵc phục,hạn chế các
mặt tích cực của cơ chế thị trường,phân phối thu nhập quốc dân một cách công bằng,thực
hiện tăng trưởng kinh tế,gắn với cải thiện đời sống nhân dân,với tiến bộ và công bằng xã
hội .
Nhà nước nâng cao chất lượng hiệu quả của quản lý cho phù hợp với điều kiện kinh
tế thị trường mà tiếp tục ổn định chính trị đưa cải cách tiến lên bước phát triển mới
Đưa kinh tế mà trong đó kinh tế thị trường và các quan hệ thị trường ngày càng đóng
vai trò quyết định đối với sản xuất kinh doanh và phân phối tài nguyên quốc gia dưới sự
hài hoà giữa sản xuất và nhu cầu nền kinh tế vận hành theo các quy luật kinh tế khách
quan và các chính sách kinh tế phù hợp đảm bảo thị trường thống nhất,mở rộng phục vụ
mục tiêu tăng trưởng hiệu qủa công bằng và ổn định.
Nhà nước dùng luật pháp,kế hoạch định hưóng và chính sách kinh tế dẫn dắt thị
trường phát triển hùng mạnh,dùng chính sách phân phối và điều tiết đảm bảo phúc lợi cho
toàn dân và thực hiện công bằng xã hội. Kết luận:
iệt Nam đang trên con đường thực hiện Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước . Mục tiêu
đến năm 2020 về cơ bản trở thanh một nước công nghiệp, do vậy việc xây dựng và hiện
đại hoá ngành Tài chính là một trong những vấn đề cơ bản , quan trọng nhất.
Đề án nhỏ trên đã được hoàn thành với sự giúp đỡ của giảng viên Nguyễn Văn
Ký.Toàn bộ đề án đã một phần làm rõ được bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận trong nền
kinh tế thị trường.Chúng ta thấy rằng việc theo đuổi lợi nhuận là một điều tất yếu trong
quá trình phát triển kinh tế vì nó là một động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.Tuy nhiên thực
chất của quá trình nẩy sinh và sự tiêu cực trong văn hoá xã hội,lối sống của người dân
trong cơ chế mới.Những vấn đề đặt ra một yêu cầu là tất cả chung ta phải cùng cố gắng để
góp phần đưa nền kinh tế phát triển.Xã hội lành mạnh văn minh. Đặc biệt là những nhà
kinh tế tương lai,chúng ta không thể nhìn những mâu thuẫn nẩy sinh trong quá trình
1.1. Qúa trình sản xuất giá trị thặng dư.
1.2. Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư.
2. Lý luận về lợi nhuận.
2.1. Sự chuyển hoá giá trị thặng dư thành lợi nhuận.
2.2.Tỷ suất lợi nhuận.
2.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận.
3. Cac hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư.
3.1.Lợi nhuận bình quân.
3.1.1.Lợi nhuận công nghiệp.
3.1.2.Lợi nhuận thương nghiệp.
3.1.3.Lợi nhuận ngân hàng.
3.1.4.Lợi tức cho vay.
3.1.5.Lợi tức cổ phần.
3.1.6.Lợi tức trái khoán.
3.2. Lợi nhuận siêu ngạch.
3.2.1. Lợi nhuận siêu ngạch trong công nghiệp.
3.2.1.Lợi nhuận siêu ngạch trong nông nghiệp.
3.3. Lợi nhuận độc quyền.
Chương II: Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trưòng.
I : Kinh tế thị trường và ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến thu
lợi nhuận.
1.Khái niệm kinh tế thị trường và cơ chế thị trường.
2.Ưu điểm và khuyết điểm của cơ chế thị trường.
3. Tác dụng của cơ chế thị trường trong việc thu lợi nhuận
II : Vai trò của lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường
1. Lợi nhuận là động lực,mục tiêu trong nền kinh tế thị trường
2. Lợi nhuận góp phần nâng cao đời sống nhân dân.