Đánh giá khả năng thích nghi của một số loài cỏ trồng nhập nội trong quy trình thức ăn gia súc tại công ty giống bò sữa mộc châu - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGHIÊM VĂN CƯỜNG

KHẢ NĂNG THÍCH NGHI CỦA MỘT SỐ LOÀI
CỎ TRỒNG NHẬP NỘI TRONG QUI TRÌNH THỨC ĂN
GIA SÚC TẠI CÔNG TY GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU

Thái Nguyên, năm 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGHIÊM VĂN CƯỜNG

CỎ TRỒNG NHẬP NỘI TRONG QUI TRÌNH THỨC ĂN
GIA SÚC TẠI CÔNG TY GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU

: Sinh thái
: 60.42.60

: PGS-TS. Hoàng Chung


vùng đất đai rộng lớn không có cây gỗ, không trồng các loại cây n ông
nghiệp, phần lớn là cỏ, thích hợp để kinh doanh ngành chăn nuôi. Theo
Pháp, Đức: Đồng cỏ là chỉ những vùng khô khan, không có những loại cây
gỗ mọc, những vùng chưa trồng trọt, trong đó hoàn cảnh đất đai khác nhau,
phần lớn là những bình nguyên khô khan, không có giới hạn nào cả, bao
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




gồm những cánh đồng cỏ, những cánh đồng quán mộc…[46]Theo
A.O.Felipe (1965), những vùng đất rộng lớn, kể cả đồng bằng cũng như
miền đồi núi, bao phủ bởi cỏ địa phương được sử dụng cho chăn thả quảng
canh được gọi là bãi cỏ tự nhiên. Còn đồng cỏ nhân tạo được xây dựng lên
để thay thế bãi cỏ tự nhiên bằng cách trồng những loài cỏ có năng xuất và
giá trị dinh dưỡng cao hơn [49]. Đa số các tác giả cho rằng đồng cỏ
(Grassland) là vùng đất được che phủ bởi thảm cỏ liên tục, nơi có lượng
mưa dao động từ 250 – 750 mm ở vùng ôn đới và tới 1200 mm ở vùng
nhiệt đới, cỏ sinh trưởng liên tục trong mùa sinh dưỡng, ngừng sinh trưởng
trong mùa khô… Ở Việt Nam, theo Trịnh Văn Thịnh (1974), cũng có
những đề nghị khác nhau: Danh từ “đồng cỏ” để chỉ những diện tích đồng
cỏ (vĩnh viễn hay tạm thời) còn những đất đai sử dụng để chăn thả súc vật
(có người đề nghị là chăn dắt) chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên thì gọi là bãi
chăn [27] ... Theo Hoàng Chung (2006): Đồng cỏ là các sinh địa quần lạc,
thảm thực vật của nó được đặc trưng bởi các quần xã cỏ với độ khép tán
lớn hay nhỏ và chủ yếu là cỏ trung sinh nhiều năm, đôi khi là cỏ ẩm sinh,
có sự ngừng sinh trưởng vào mùa đông, thường mùa hè không biểu thị sự
giảm sút rõ rệt, đất đa dạng về độ ẩm, độ phì và hàm lượng muối [8].
Đồng cỏ Việt Nam phân bố rải rác ở khắp nơi, nhưng tập trung nhiều

cho đàn gia súc cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành
phần cây thức ăn gia súc ở vùng nhiệt đới như: Lê Sinh Tặng, Nguyễn
Chính (1959), Nguyễn Quang Ngọ, Lê Sinh Tặng (1964), L ê Sinh Tặng
(1969), Trịnh Văn Thịnh và các tác giả (1974), Điền Văn Hưng (1975),
Nguyễn Đăng Khôi (1978, 1979, 1981), Võ Huy Giảng (1983), Dương
Thành Liên (1981), Bùi Xuân An, Ngô Văn Mậu (1981), bước đầu đã nêu
lên được tập đoàn cây thức ăn gia súc. Một số tác giả có đề cập đến vấn đề
cải tạo đồng cỏ tự nhiên, sử dụng hợp lý hơn hay tạo đồng cỏ trồng, nhập
nội một số loài mới, phân tích thành phần dinh dưỡng của một số loài cỏ ở
nước ta như : Đoàn ẩn, Võ Văn Trị (1976), Hoàng Kim Nhuệ (1979), Võ
Văn Trị (1983), … [7].
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Các thảm cỏ tự nhiên tồn tại trong vùng núi là loại hình thứ sinh do
tàn phá rừng hoặc nguyên sinh nhưng chỉ là giai đoạn đầu của quá trình
diễn thế, nên khi đưa vào sử dụng rất sớm bị thoái hóa. Vì vậy để phát triển
chăn nuôi miền núi cần phải trồng cỏ, đa phần các giống cỏ trồng là nhập
nội, đất trồng đa phần là đất nông nghiệp. Do vậy khi trồng phải tính toán
đến hiệu quả kinh tế về các mô hình sử dụng đất [43].
2. Tính cấp thiết của đề tài
Cao nguyên Mộc Châu tỉnh Sơn La, một vùng đất chứa đầy tiềm
năng về phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Sản phẩm sữa Mộc
Châu đã được thị trường chấp nhận. Để có được những thành quả đó là dựa
vào một hệ sinh thái phù hợp cho việc trồng cây thức ăn gia súc, sự phù
hợp cho việc chăn nuôi bò sữa. Cao nguyên Mộc Châu với độ cao 1050m
so với mặt nước biển. Diện tích đất nông nghiệp là 30.000ha với 3,5 vạn

Thuộc vào đặc điểm sinh thái học là các mối quan hệ riêng biệt của
thực vật với từng yếu tố sinh thái, cũng như ảnh hưởng của thực vật trên
nơi sống.
Cỏ hòa thảo có vị trí quan trọng trong thảm cỏ do cỏ hoà thảo có khả
năng phân bố rộng rãi, có thể thích ứng được ở nhiều vùng và trong những
điều kiện đất đai khí hậu khác nhau.
Cỏ hoà thảo có thể sinh trưởng được ở vùng nóng đất khô khan mùa
khô kéo dài, độ ẩm trung bình 20 - 30%, hoặc những vùng mùa đông nhiệt
độ thấp, nhưng chúng vẫn có thể si nh trưởng và phát triển được như cỏ
xương cá, cỏ lông đồi, cỏ Andropogon, cỏ Brachiaria decumbens,...
Đa phần các loài cỏ sinh trưởng tốt ở vùng có độ ẩm từ 60 - 80%. Có
loài lại có khả năng sinh trưởng được ở những nơi đất lầy, ngập nước như
cỏ môi, cỏ bấc, cỏ lông para,...
Như vậy, có thể nói thực vật trong đồng cỏ tồn tại trong những điều
kiện khác nhau của các yếu tố sinh thái cơ bản trong vùng, và khác nhau ở
cả hai phần trên và dưới đất (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, muối khoáng,
CO2...). Nó biểu thị rõ rệt về phân bố sinh khối theo chiều thẳng đứng và
chiều nằm ngang.
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của các loài cỏ mà
ta có thể chọn và trồng các loài thích nghi với những điều kiện khí hậu địa
chất tương tự như vùng gốc của chúng.
1.1.1.2.

Đặc tính sinh vật học





1.1.1.3.

Đặc tính sinh lý

* Nhu cầu về nước
Nước đóng góp vào sự phong hoá, giữ vai trò quan trọng cho sự phát
triển của thực vật cũng như các vi sinh vật đất.
Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn
hơn họ đậu. Hệ số toả hơi nước của cỏ này vào khoảng 400 - 500 gram,
trong khi của cỏ họ đậu 214 - 216 gram.
Theo N.G. Andreép (1974), với đồng cỏ có độ ẩm đất khoảng 70%, một
tháng 10m2 cỏ bay hơi khoảng 1m3 nước, trong 5 tháng sẽ có 50 tạ cỏ khô/1ha.
Trên cơ s ở đó ta có thể xác định công thức tưới nước trong mùa đông .
Như vậy, chế độ nước của các sinh địa quần lạc cỏ trong một vùng
khí hậu xác định phụ thuộc địa thế của đồng cỏ và thành phần cơ giới của
đất như đất bằng, đất trũng, đất dốc, đất thấp hay bãi bồi,...
Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:
• Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30 %
• Giai đoạn phát triển cành

: 75 %

• Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần.
* Nhu cầu về dinh dưỡng
Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giàu mùn, đạm, lân và ka ly. Nhu cầu về
dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn.

hoặc chết vào mùa đông.
Tính kháng xuân hay còn ọig là khả năng chịu đựng của cỏ mùa
đông. Nó thể hiện khả năng chịu đựng của cỏ về sự chênh lệch nhiệ t độ
không khí và nhiệt độ trong đất, sự chênh lệch này làm cho sự vận chuyển
các chất dinh dưỡng trong thân cỏ và quá trình đồng hóa, dị hóa của cỏ mất
điều hòa nên có tính kháng xuân kém sẽ bị chết. Tuy nhiên tính kháng xuân
của cỏ còn phụ thuộc vào các yếu tố như: Cỏ địa phương kháng xuân tốt
hơn cỏ nhạp nội, cỏ mọc riêng rẽ thấp bé kháng xuân mạnh, cỏ thân rễ, cỏ
sinh trưởng phát triển chậm kháng xuân tốt . Loại mùa xuân phục hồi
nhanh kháng xuân kém hơn loại phục hồi chậm, cỏ có hàm lượng vạt chất
khô cao thì kháng xuân ốt t và ngược lại. Loại có bộ phận trên mặt đất bị
chết trong vụ đông thì kháng xuân mạnh và ngược lại.
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




1.1.1.4.

Đặc tính sinh trưởng

Cỏ hoà thảo sinh trưởng và tái sinh qua 3 giai đoạn :
• Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt, lúc này tốc độ
sinh trưởng chậm.
• Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15 - 20 ngày, cỏ sinh
trưởng và phát triển nhanh.
• Giai đoạn 3: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 40 - 70 ngày, cỏ sinh
trưởng chậm hoặc ngừng hẳn (Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị - 1976)[2].
Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống để chúng ta định

• Loại cỏ có sức sống lâu (6 - 10 năm) như cỏ mạch tước không
râu (Quang Ngọ, Sinh Tặng, 1976)[40].
Căn cứ vào sức sống của các loài cỏ, người ta dự tính thời gian trồng
lại để đảm bảo năng suất.
1.1.2. Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo
Cỏ hoà thảo có giá trị kinh tế lớn không chỉ vì nó phân bố rộng,
chiếm tỷ lệ cao trong thảm cỏ, mà còn cho năng suất và giá trị dinh dưỡng
cao. Khi chế biến, dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối, tỷ lệ cỏ độc ít, chịu đựng
chăn dắt cao. Cỏ tự nhiên cho 10 - 20 tấn (chất xanh)/ha/năm, cỏ trồng thân
bò cho 30 - 40 tấn/ha/năm, thân bụi cho 50 - 60 tấn/ha/năm, thân đứng cho
80 - 100 tấn/ha/năm, nếu thâm canh có thể cho 160 - 260 tấn/ha/năm. 1 kg
cỏ tươi cho từ 0,1- 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với 250 - 500 KcalME.
Cỏ hoà thảo có giá trị dinh dưỡng cao. Ở những nơi đất tốt, nhiều
mùn, ẩm, loài cỏ tốt nhất có thể chứa 16g prôtêin tiêu hoá và 32g lipit trong
1kg cỏ tươi, 8kg cỏ có thể tương đương 1đơn vị thức ăn [26]
1.2. Những nghiên cứu về đồng cỏ tự nhiên
1.2.1. Vấn đề nguồn gốc và phân bố đồng cỏ trong đai nhiệt đới
Nguồn gốc của đồng cỏ là không đồng nhất, có nhiều loại hình đồng cỏ
được hình thành bằng con đường tự nhiên, nhưng cũng có những đồng cỏ được
hình thành do hoạt động của con người trên vùng đất rừng, thảo nguyên hay
đầm lầy … làm thay đổi điều kiện môi trường và hình thành ra đồng cỏ [8].

10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Nguồn gốc của đồng cỏ trong đai nhiệt đới, giữa các tác giả có ý
kiến khác nhau. Đa số cho rằng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới không có


1.2.2. Những nghiên cứu về năng suất của đồng cỏ tự nhiên
Nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các thảm thực vật đã bắt
đầu từ thế kỷ XIX, ban đầu chủ yếu là những công trình nghiên cứu có tính
chất thống kê trong kinh tế nông nghiệp. Sang đầu thế kỷ XX, những công
trình nghiên cứu về năng suất sinh vật học của các quần xã cỏ tự nhiên và
cỏ cho chăn nuôi đã được nghiên cứu nhiều hơn, với những thí nghiệm trên
các kiểu đất khác nhau.
Cuối thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào
nghiên cứu phần trên mặt đất, hoặc là số lượng các chất hữu cơ ở trạng thái
sống và chết, sự tăng trưởng của nó, phần chết hàng năm, thảm mục...
Sau đó nhiều công trình nghiên cứu phần trên mặt đất được tiến hành
cùng với phần dưới đất trong sự phụ thuộc từ những điều kiện tạo thành nó
của các kiểu thực bì khác nhau: Balôchina (1950), Gorskova (1954), Salưt
(1950), Andreev, Lapverenko và Leonchiev (1955); Badilevich (1958),
Xưrokomskaia và Ponhiatopkaia (1960), Igơnachenkô (1965), XemenNova-Chiansianskaia (1966), Alekxenko (1967), Hoàng Chung (1974),
Alekxeev (1975), Uchekhin ( 1977 ) … Nghiên cứu riêng phần trên mặt đất
có các tác giả: Kalininna (1954); Xemennôva-Chian-Sanskia (1966) ...
Bảng 1.1: Những dạng sống chính của thực vật đồng cỏ vùng núi
Bắc Việt Nam (không tính các loài cây trồng).
Stt

Kiểu dạng sống

% loài trong tổng

% loài trong tổng

số loài chung của


4

Cây bụi nhỏ

10.6

9.3

12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




5

Cây bụi nhỏ thân bò

0.9

2

6

Cây nửa bụi

4.6

4.2


12.4

4.2

7.3

4.2

5.2

5.1

7.3

6.5

5.2

0.4

0

4.2

2

51.9

56.3


Cây thảo mọc thành búi dày,
sống lâu năm
Cây thảo sống lâu năm có thân
rễ dài
Cây thảo sống lâu năm có thân
rễ dài và thân bò

16 Cây thảo một năm có rễ cái
17

18

Cây thảo một năm có hệ rễ cái,
có thân bò
Cây thảo một năm có hệ rễ
chùm
Tổng số:

- Cây thuộc thảo, sống nhiều năm.
- Cây thuộc thảo, sống một năm.
- Cây có hệ rễ cái.
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Nghiên cứu riêng phần dưới mặt đất có các tác giả: Baranops - Kaia
(1954); Krưm (1960); Xemennop (1966); Khariton ốp (1967); Gawood (1968);
IgonachenKo, Kirillova và Ponhiatopskaia (1968); Hoàng Chung (1980).


lượng của các giống cỏ được đánh giá bằng thành phần hoá học có trong
giống cỏ đó. Đây là một chỉ tiêu hết sức quan trọng không thể thiếu khi
nghiên cứu, đánh giá một giống cây thức ăn, trên cơ sở đó giúp các nhà
chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc một cách hợp lý, để chúng
sinh trưởng và phát triển tốt.
- Độ ăn được:
Những loài trong đồng cỏ Bắc Việt Nam có giá trị chăn thả khá tốt,
theo thành phần loài thì trên 95% là thuộc nhóm hoà t hảo, trong đồng cỏ
tồn tại một số loài cây bụi và cây thuộc thảo khác, phần lớn những loài này
cũng được gia súc ăn. Tuy nhiên, giá trị chăn thả của đồng cỏ cũng thay đổi
theo thời gian và theo từng kiểu thảm, điều này có quan hệ mật thiết với
đặc điểm sinh thái, với các giai đoạn sinh trưởng, với thành phần thực vật,
với chiều cao thảm cỏ và thành phần hoá học của nó cùng các hình thức tác
động của con người vào thảm cỏ.
Ở một số loài giá trị chăn thả hầu như không thay đổi trong suốt cả
thời kì sinh dưỡng như: Ischaemum indicum, Paspalum scrobiculatum,
Paspalum conjugatum và một số loài một năm. Một số loài khác thì giá trị
chăn thả giảm dần theo thời gian, ở những loài này tuổi càng tăng thì tỉ lệ
phần thân tăng và phần trăm chất xơ trong thân và lá tăng lên. Lá nhiều loài
trở nên cứng và sắc như cỏ Tranh, Chè vè, ...
Thành phần họ Đậu trong đồng cỏ Bắc Việt Nam rất ít, một số loài
trong đó giá trị chăn thả kém, lá cứng, có nhiều lông cứng như: Desmodium
triquetum, một số loài khác thì năng suất lại rất thấp – sinh khối tập trung
chủ yếu ở phần thân như: Desmodium microphyllum. Trong thành phần cỏ
của một số quần xã có nhiều cây họ Cói, những loài này lá cứng và sắc như
Carex, Rhynchospora, ... một vài loài khác năng suất rất thấp [7].

15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

cỏ như chè khổng lồ có hàm lượng chất khô là 13,68% và các thành phần
dinh dưỡng khác như protein thô là 2,08%; 0,6% lipit thô; 1,72% xơ thô;
6,07% dẫn xuất không đạm; 3,21% khoáng tổng số . Cỏ voi có tỉ lệ VCK là
11,8% và các thành phần dinh dưỡng khác như sau: protein thô 2,2%; 0,4%
lipit thô;3,2% xơ thô; 4,3% dẫn xuất không đạm; 1,7% khoáng tổng số.
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Theo Đoàn Ân, Võ Văn Trị, 1976 [2], cỏ voi tuổi càng nhỏ thì hàm
lượng Protein càng cao, tuổi càng lớn thì tỉ lệ chất xơ càng cao( tỉ lệ nghịch
với hàm lượng protein và nước) cục thể là 2 tuần tuổi tỉ lệ nước là 89,56%;
2,67% xơ thô; protein cỏ khô là 18,42%, khi cỏ 4 tuần nước là 87,4%; 3,7%
xơ; 11,49% protein trong c ỏ khô. Thành phần hoá học có trong các giống cỏ
tập trung chủ yếu vào 4 chỉ tiêu đó là: vật chất khô (VCK), Protein, đường,
chất béo và xơ. Hoàng Chung và cộng sự (2004) đã tiến hành nghiên cứu và
theo dõi một số chỉ tiêu về thành phần hoá học của một số loài chính trong
đồng cỏ Bắc Việt Nam. Kết quả được thể hiện ở bảng 1.5 [7].
Những giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất vật chất khô,
Protein, đường cao, tỉ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỉ lệ lá/thân cao, trong đó
chỉ tiêu Protein được chú ý nhiều hơn cả.
Bảng 1.2: Thành ph ần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loài cỏ chính
Tt

1
2
3
4

Tên
Việt Nam

%
nước

%
Đạm
TS

%
Prôtêin

%
đạm
amin

%
lipit

%
chất


ĐV
TA

Cỏ lông

76.7


70.4

2.306

9.61

1.686

1.9

9.3

0.25

Cỏ Tranh

74

1.945

9.747

1.71

1.1

8.8

0.25


0.5

7.4

0.21

Pangôla

2.295

8.88

1.558

Mộc châu

2.6

10.48

1.839

Họ cói

0.979

4.288

0.747

Võ Văn Trị (1983) đã chia đồng cỏ trồng ra thành những ô nhỏ, sự luân
phiên mùa hè theo ông có kho ảng cách 40- 50 ngày, mùa đông là 60 ngày.
Dương Hữu Thời (1981) có đề cập đến một số vấn đề sử dụng hợp lý
như: luân phiên đồng cỏ, trồng cỏ, diệt trừ cây bụi.
Hoàng Chung (1988) nghiên cứu về vấn đề sử dụng hợp lý đồng cỏ
Bắc Việt Nam. Trên cơ sở tương đối đầy đủ những tư liệu về đồng cỏ vùng
này đã chia đồng cỏ Bắc Việt Nam thành 3 hệ thống (3 loại theo độ dốc)
Loại 1: đồng cỏ có độ dốc sườn dao động từ 0 - 70.
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status