Nghiên Cứu Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Chăm Sóc Giống Lan Đai Châu (Rhynchostylis Gigantea) Tại Thái Nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------------

DƯƠNG THỊ THÙY DƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CHĂM SÓC GIỐNG LAN ĐAI CHÂU
(RHYNCHOSTYLIS GIGANTEA) TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Thái Nguyên - 2014


i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------------

DƯƠNG THỊ THÙY DƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CHĂM SÓC GIỐNG LAN ĐAI CHÂU
(RHYNCHOSTYLIS GIGANTEA) TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG


ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để bài luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Học viên

Dương Thị Thùy Dương


iv
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ ...............................................................................................................i
Lời cam đoan...............................................................................................................ii
Lời cảm ơn ................................................................................................................ iii
Mục lục.......................................................................................................................iv
Danh mục chữ viết tắt .................................................................................................v
Danh mục bảng biểu...................................................................................................vi
Danh mục các biểu đồ ...............................................................................................vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu........................................................................................ 2
1.3. Yêu cầu............................................................................................................. 2
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ......................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................................3
1.1. Giới thiệu chung về cây hoa lan....................................................................... 3
1.1.1. Nguồn gốc và phân loại hoa lan ...................................................................3
1.1.2. Giới thiệu chung về lan rừng Việt Nam .......................................................8
1.1.3. Vai trò của hoa lan trong đời sống kinh tế....................................................9
1.1.4. Đặc điểm hình thái và sinh học của hoa lan ...............................................10
1.1.5. Các yêu cầu kỹ thuật cơ bản để nuôi trồng Lan Đai Châu

3.1.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến khả năng ra
hoa ở lan Đai Châu ....................................................................................44
3.1.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến phát sinh
bệnh hại ở lan Đai Châu ............................................................................45
3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến khả
năng sinh trưởng của lan Đai Châu. .............................................................. 47
3.2.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến
tăng trưởng bộ lá của lan Đai Châu ...........................................................47
3.2.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến
sinh trưởng bộ rễ của lan Đai Châu ...........................................................54
3.2.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến khả
năng ra hoa của lan Đai Châu...................................................................56


3.2.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến
phát sinh bệnh hại của lan Đai Châu ........................................................57
3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến khả năng sinh
trưởng của lan Đai châu................................................................................. 57
3.3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tăng trưởng bộ
lá của lan Đai châu.....................................................................................57
3.3.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng bộ
rễ của lan Đai Châu ...................................................................................63
3.3.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến khả năng ra hoa
ở lan Đai Châu ...........................................................................................64
3.3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến phát sinh, bệnh
hại ở lan Đai Châu .....................................................................................65
3.4. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại giá thể đến sinh trưởng của
lan Đai Châu .................................................................................................. 66
3.4.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ sống của lan Đai Châu .....66
3.4.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến tăng trưởng bộ lá của lan


:

Hệ số biến động

LSD05

:

Giá trị sai khác nhỏ nhất ở mức độ tin cậy 95%

LSD01

:

Giá trị sai khác nhỏ nhất ở mức độ tin cậy 99%

TCN

:

Trước công nguyên

Nxb

:

Nhà xuất bản

%

Bảng 3.9. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến tăng trưởng chiều
rộng lá của lan Đai Châu (từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014) ............ 52
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến thời gian ra rễ, số
rễ, màu sắc rễ của lan Đai Châu (từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014) . 54
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến thời gian ra hoa, số
hoa, chiều dài chùm hoa và độ bền hoa lan Đai Châu (từ tháng
11/2013 đến tháng7/2014)...................................................................... 56
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón lá N3M đến phát sinh bệnh hại
của lan Đai Châu (từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014) ........................ 57
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến số lá của lan Đai Châu (từ
tháng 8/2013 đến tháng 7/2014)............................................................. 58


Bảng 3.14. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tăng trưởng chiều dài lá lan Đai
Châu (Từ tháng 8/2013 –tháng 7/2014) ................................................. 60
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tăng trưởng chiều rộng lá lan
Đai Châu (Từ tháng 8/2013– tháng7/2014) ........................................... 62
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến thời gian ra rễ, số rễ và mầu sắc
rễ của lan Đai Châu (Sau 12 tháng thí nghiệm) ..................................... 63
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến thời gian ra hoa, số hoa, chiều
dài chùm hoa, và độ bền hoa ở lan Đai Châu......................................... 64
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến phát sinh bệnh hại ở lan Đai Châu ....... 65
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến tỷ lệ sống của lan Đai Châu ......... 66
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến số lá và số rễ của lan Đai Châu .... 66
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của các loại giá thể đến tăng trưởng kích thước lá lan
Đai Châu................................................................................................. 69
Bảng 3.22. Ảnh hưởng của giá thể đến số hoa của lan Đai Châu ............................ 70
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của giá thể đến phát sinh bệnh hại lan Đai Châu................ 71
Bảng 3.24. Ảnh hưởng của nồng độ Gibberline đến số lá lan Đai Châu ................. 72
Bảng 3.25. Ảnh hưởng của chế phẩm Giberline đến chiều dài lá lan Đai Châu...... 73

1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta được thiên nhiên ưu đãi về địa lý khí hậu cũng như nhiệt độ, độ
ẩm và ánh sáng rất thích hợp với việc trồng Phong lan. Rừng của chúng ta là một
trung tâm với nhiều Phong lan quý như: Đai châu (Tai Châu), Ngọc điểm, Kim
điệp, Thủy tiên, Ý thảo, Long tu… thật là sinh đẹp mầu sắc sặc sỡ, đa dạng. Có thể
nói khắp nước ta từ thành thị đến nông thôn, bất cứ ở đâu, bất cứ người nào cũng có
thể trồng phong lan được. Lan không chỉ có giá trị thẩm mỹ cao mà còn đem lại giá
trị kinh tế cho người sử dụng.
Đai Châu là một trong những giống lan đẹp, lại nở vào dịp tết nguyên đán
nên loài hoa này được biểu tượng cho dân tộc Việt Nam. Vì vậy cần có những biện
pháp chăm sóc hợp lí, đúng cách như phân bón, chế độ ánh sáng, giá thể để nhằm
mục đích cung cấp sản phẩm cho thị trường đồng thời bảo tồn nguồn lan rừng nói
chung và Lan Đai Châu nói riêng.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại không phức
tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác, đây là một thuận lợi của Thái
Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nói chung so
với các tỉnh trung du miền núi khác.
Thái Nguyên cũng là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên để phát
triển ngành trồng lan. Trong quá trình điều tra và nuôi trồng thử nghiệm các loại lan
tại tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi nhận thấy lan Đai Châu có khả năng phát triển
thuận lợi về điều kiện tự nhiên việc phát triển lan tại tỉnh Thái Nguyên còn nhiều
khó khăn: chưa có đơn vị chuyên sâu nghiên cứu về lan, chưa cung cấp được nguồn
lan tại chỗ, kỹ thuật chăm sóc còn yếu kém, đặc biệt chưa quan tâm nhiều đến điều
kiện nhiệt độ, ánh sáng, giá thể làm cho chất lượng của hoa lan Đai Châu chưa cao.
Tình trạng trên đặt ra vấn đề cần giải quyết trước mắt và lâu dài là tìm hiểu
kỹ thuật tác động đến quá trình sinh trưởng và phát triển để tạo cho cây hoa lan Đai
Châu có màu sắc đẹp, có độ bền cao.
Cần điều tra, phân loại và đánh giá những biện pháp kỹ thuật phù hợp cho


3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giới thiệu chung về cây hoa lan
1.1.1. Nguồn gốc và phân loại hoa lan
1.1.1.1. Nguồn gốc của hoa lan
Hoa lan (Orchidaceae) là một trong đỉnh cao của sự tiến hóa các loài cây có
hoa. Hoa lan được con người biết đến rất sớm. Ở châu Á, danh từ Lan là tên có từ
xa xưa trong tứ thư, ngũ kinh và cả trong kinh dịch của Bách Gia Chi Tử (Trung
Quốc 551 - 479 trước Công Nguyên). Hoa lan được tượng trưng cho người quân tử.
Khổng Tử đã hết lời ca ngợi hoa lan và có lẽ là người đầu tiên coi hoa lan là vua của
các loài hoa (Nguyễn Tiến Bân, 1997) [2].
Người ta cứ tưởng rằng cây lan được biết đến trước tiên ở châu Âu qua bản
viết tay bằng chữ Hy Lạp “Xem xét cây cỏ” (Enquiry into Plants) của Theophrastus
(khoảng năm 370 - 479 trước Công nguyên).
Chữ Lan như vậy đã xuất hiện rất lâu đời tại Trung Hoa. Cây lan được biết
đến đầu tiên ở Trung Hoa là Kiến lan (được tìm thấy đầu tiên ở tỉnh Phúc Kiến),
mà tên khoa học sau này được đặt là Cymbidium Ensifolium. Lan với người
phương Đông được tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, Lan còn tượng trưng cho
sự đông đủ con cái (phúc). Vì Khổng Tử ví lan với đức cao quý cho nên theo thời
gian lan cũng đồng nghĩa với người quân tử. Hương thơm của lan biểu tượng cho
tình bạn. (Đào Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga, 2007)[22].
Ở phương Tây, tuy cây Lan được biết đến sau nhưng lại được chú ý đến bởi
công dụng về dược liệu của nó sau đó mới đến vẻ đẹp của hoa. Phrastus - được coi
là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là cha đẻ của ngành học về lan đã
dùng chữ Hy Lạp(Orkis) để chỉ những cây lan được tìm thấy ở vùng Địa Trung Hải.
Đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Dioscorides đã dùng chữ Orchis để mô tả hai
loài địa lan trong quyển sách về dược liệu của ông và sau này được Linnaeus ghi lại
trong quyển “Các loài cây cỏ” (Species Plantarum) vào năm 1753. Sau đó được

thực vật là có lan. Nhưng số lượng nhiều ít khác nhau rất lớn liên quan mật thiết đến
nhiệt độ cao. Mỗi loài có một cách phân bố và phát triển rất riêng biệt cho kiểu dáng


5
và kích cỡ của cây lan, sự khác biệt đó không chỉ vì xuất xứ từ các lục địa khác
nhau mà còn có khi ở ngay trong một vùng địa lý vài kilomet vuông.
1.1.1.2. Vị trí phân bố cây hoa lan
Họ lan là một họ có tính chất toàn cầu, chúng xuất hiện và có mặt mọi nơi
trên trái đất nhưng có khoảng 4/5 tập trung ở các vùng nhiệt đới. Những vùng khí
hậu khắc nghiệt như khu vực gần các địa cực thuộc Bắc Cực và Nam Cực người ta
vẫn thấy sự xuất hiện của hoa lan.Tuy nhiên số lượng địa lan ở đây rất ít ỏi chỉ có
một vài loài địa lan với sức sống vô cùng mạnh mẽ. Ở các vùng Ôn Đới hoa lan bắt
đầu phong phú hơn, phân bố nhiều loài địa lan sống sát mặt đất. (Việt Chương,
Nguyễn Việt Thái, 2002)[3]
Cây hoa lan (orchidaceae) thuộc họ phong lan (orchidaceae), bộ lan
(orchidales), lớp một lá mầm (monocotyledoneae).
Họ phong lan phân bố từ 680 vĩ Bắc đến 560 vĩ Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc
như Thuỵ Điển, Aleska, xuống tận cuối cùng ở cực nam của Ostralia. Tuy nhiên tập
trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt châu Mỹ và Đông
nam á. Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng
đầm lầy sát Biển Hồ qua các đồi núi thấp lên các vùng núi cao. Mặc dù đa số các
loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2000 m so với mặt nước biển, song có một số ít loài
sống cả ở độ cao 5000m so với mặt nước biển (ở Colômbia có một số loài phong lan
sống ở núi quanh năm tuyết phủ). (Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2002)[3]
Ở Châu Á, các nước Thái Lan, Lào Campuchia, Việt Nam... có Hoàng thảo
(Dendrobium), Hồ điệp (Phalaenopsis), Phượng vĩ (Renanthera). Các nước Châu
Mỹ như Venezuela, Colombia... có các chi Cattleya, Miltonia...
Theo presley (1951) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6.800 loài, trong đó
có Dendrobium có 1.400 loài, chi phalaenopsis có 35 loài, chi Vanda có 60 loài (Nguyễn

miền Bắc và miền Nam. Một số loài chủ yếu: Habenaria, Phaius,
Flickingeria, Dendrobium...
- Khu Trường Sơn Nam: do địa hình chia cắt nhiều nên các loài lan phân bố
ở đây rất phức tạp, có những loài Nhiệt Đới và Á Nhiệt Đới, đặc biệt có loài chịu
khô nóng kéo dài như: Eria, Cleisostoma, Liparis..., loại chịu ẩm như
Bromheadia, Calanthe...


7
- Khu Đồng Bằng Miền Nam: khí hậu ở đây nhiệt đới với 2 mùa mưa và khô
rõ rệt. số lượng loài phong lan, tập trung chủ yếu các loài: Bulbophyllum, Acampe,
Dendrobium, Eria...
- Khu Đảo: các loài chủ yếu: Bulbophylium, Apostasia, Liparis, Eria...
1.1.1.3. Phân loại hoa lan
Theo hệ thống phân loại của viện sĩ hàn lâm Liên Xô Taktajan cùng Võ Văn
Chi và Dương Đức Tiến (1978), cây hoa lan được phân loại như sau:
Giới: Plantae
Ngành mộc lan: (hạt kín-Magnoliophyta)
Lớp hành: (1 lá mầm – Liliopsida), phân lớp hành (Lilidae),
Bộ lan: (Orchidales)
Phân họ lan: (Orchidaceae).
Họ lan là 1 một họ lớn đứng thứ hai trong ngành Mộc lan, vô cùng phong
phú, phức tạp và được phân bố trên những vùng địa lý khác nhau.
Vào năm 1753, Linnê đã dùng luôn danh từ Orchid để chỉ các loài lan. Đến
năm 1836, John Lindley (1779 – 1865) dùng danh từ Orchid để chỉ chung cho các
loài lan và từ đó các loài lan được xếp thành một họ trong hệ thống phân loại gọi là
Orchidaceae. Ông công bố, sắp xếp các tông thuộc họ lan và tên của họ lan được
dùng cho đến ngày nay (Trần Văn Bảo, 2002)[1]. Theo Taktajan (1980) họ lan
được chia thành 3 họ phụ, tuy nhiên theo phân tích dầy đủ và chuyên sâu đặc tính di
truyền của các nhà khoa học đã chia họ lan thành 6 họ phụ (Trần Hợp, 1990)[6]

Về độ bền của Lan, Việt Nam có nhiều giống Lan rừng nở trên 2 tháng như
Mỹ Dung Dạ Hương, Huyết Nhung, Hoàng Lan, Hồng Lan... có loại trung bình 1- 2
tuần như: Long Tu (Dendrobium primulinum), Kim Điệp, Đuôi Cáo, Ngọc
Điểm...Thậm chí có loài chỉ nở một ngày như loài Thạch Hộc.
Về kích thước, Lan rừng Việt Nam có nhiều loài hoa bé như các loài của
giống Eria, các loài khác có kích thước trung bình. Một vài loài có kích thước lớn
hơn 10cm như Hạc đỉnh, Huyết Nhung, Mỹ Dung Dạ Hương.
Về hương thơm, Đây là ưu điểm chính của các loài Lan Việt Nam. So với
các loài Lan lai lan rừng Việt Nam Có kích thước bé hơn nhưng nhờ đa số có mùi


9
thơm nên vẫn hấp dẫn các người ái mộ như Mỹ Dung Dạ Hương, Hạc Đỉnh, Đuôi
Cáo, Ngọc Điểm, Thạch Hộc, Thanh Ngọc, Nhất Điểm Hồng, Giả Hạc...(Nguyễn
Công Nghiệp, 2000) [13].
1.1.3. Vai trò của hoa lan trong đời sống kinh tế
Hoa được mệnh danh là món trang sức đẹp nhất mà thiên nhiên ban tặng
cho con người. Con người chưa hề ngừng chiêm ngưỡng các tác phẩm tuyệt mỹ
ấy. Trong thế giới của các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp nhất.
Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, Hoa vương giả cao sang, vua của các loài
hoa. Hoa lan được nhiều người ưa thích, nhất là bộ phận môi làm nhiều nhà điêu
khắc phải thán phục. Hoa lan bao gồm nhiều mầu sắc được pha trộn một cách hài
hòa, cân đối lắm khi lại hiện lên những nét tương phản rõ rệt, hay chìm lắng và
mất hút. Cây lan lại mang những nét đặc thù thú vị như một dạng trồng cây không
đất. Khác với các loài kí sinh thông thường xem cây chủ là giá thể. Vì vậy không
phải ngẫu nhiên mà ông cha ta đã dùng cây lan biểu tượng cho người quân tử:
“Mai, Lan, Cúc, Trúc” một đạo đức cao quý của dân tộc việt nam (Nguyễn Công
Nghiệp, 2000) [13].
Hoa lan đẹp rực rỡ kiêu kỳ, lan được coi là “Nữ hoàng của các loài hoa”.
Hơn thế nữa hoa lan lại rất lâu tàn và một số loài có hương thơm thoang thoảng.

và thẳng góc với rễ.
- Thân giả
+ Thân giả của lan có ở các loài lan thuộc nhóm đơn thân, thân giả của các
loài lan khác giống cũng như cùng một giống, hình dạng rất khác nhau. Thân giả rất
cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây. Thân giả có chứa diệp lục, dự trữ
nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trong quá trình sinh trưởng, phát triển và cả
khi cây lan ra hoa vào thời kỳ nghỉ. Thân giả còn có chức năng giữ nước duy trì cho
sự sống của cây trong điều kiện khô hạn.
+ Thân giả có thể hình thoi hoặc hình trụ hoặc hình dẹt hoặc hình tháp. Có
những loài lan thân giả bị thu bé lại, rất khó nhận biết. Cũng có loài vừa có thân thật
vừa có thân giả.(Phan Thúc Huân, 1987)[5]
+ Thân giả của cây lan có kích thước khác nhau, có loại thân giả chỉ bằng
đinh ghim nhưng cũng có loại than giả đến 7.8 m.


11
- Căn hành (thân - rễ)
Căn hành chỉ gặp ở lan đa thân, trừ một số ít bị thu nhỏ rất nhiều ở lan trung
gian (Pseudomonopodial). Căn hành thật sự là thân cấp một và từ đó hình thành
thân cấp hai, chúng có thể dài ra và mang lá gọi là thân hoặc thu ngắn và dày lên tạo
thành giả hành có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau.(Nguyễn Công Nghiệp,
2000)[13]
- Rễ
Ở lan đa thân rễ thường được hình thành từ căn hành. Rễ ở đa số các loài lan
có hình trụ, có nhánh bậc một, bậc hai, có thể có bậc ba và thường rất dài. Ở đa số
thành viên của loài Cypripedilinae và nhiều loài lan đất khác rễ còn mang lông rễ. Ở
loài đơn thân thì rễ mọc thẳng từ thân và thường xen kẽ với lá.
Rễ trên không của loài phụ sinh có một trục chính bao quanh bởi mô không
chặt giống bọt biển bao quanh gọi là mạc(valamen), mà các tế bào khi khô chỉ chứa
không khí. Mạc này có thể hấp thụ hơi nước của không khí, cũng như tích lũy nước

Về cấu tạo hoa:
+ Cánh đài: có nhiều mầu sắc và hình dạng khác nhau, dạng tròn như Vanda,
dạng nhọn như Cattleya... cả 3 cánh đài có thể giống nhau hoặc cánh đài lưng hơi
khác với 2 cánh đài bên như các loài thuộc chi lan Hài, đôi khi cả 3 cánh đài đều
dính lại với nhau như loài Hoàng Thảo Báo Hỉ.
+ Cánh hoa: Là bộ phận quan trọng nhất để tạo nên vẻ đẹp quyến rũ của hoa
lan. Hai cánh hoa bên rất giống về mầu sắc, kích thước với cánh đài rời hay dính
với cánh đài bên.
Cánh hoa phía dưới (cánh môi) đây là bộ phận quyết định phần lớn giá trị
thẩm mỹ của hoa lan. Cánh môi rất đa dạng, xếp đối diện với cánh đài lưng và có
kích thước thường lớn hơn cả. cánh môi có thể nguyên chia thùy, khía răng, có tua
viền, hay chia cắt thành các sợi mảnh. Bề mặt cánh môi hoặc nhẵn, có nhiều gân
hay nôi lên các phần phụ đa dạng. Gốc cánh môi thường mang tuyến mật.
+ Trụ hoa: Nằm giữa bông hoa có chứa cả nhị và nhụy. Đầu trụ là nắp chứa
hạt phấn. Ở hoa lan, hạt phấn được kết với nhau bằng một chất sáp tạo thành những
khối phấn, số lượng khối có thể là 2,4,6,8 tùy loài. Khi hạt phấn rơi vào đầu nhụy
tạo nên sự thụ phấn, hoa héo đi nhanh chóng, bầu hoa phình to thành quả lan. Nhụy


13
gồm có một bầu hạ không có ranh giới rõ rệt với cuống hoa và khi hoa nở bầu có 3
lá noãn dính với nhau thành 1 ô. Vòi nhụy dính liền với nhị đực và có ba bầu nhụy
trong đó có hai đầu bên làm nhiệm vụ sinh sản (Trần Hợp, 1990)[6].
- Quả và hạt
Quả lan thuộc loại quả nang nở ra theo 3 - 6 đường nứt, có dạng từ quả dài
đến hình trụ ngắn phình ở giữa. Khi chín, quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với
nhau ở phía đỉnh và gốc.Ở một số loài khi quả chín vỏ quả không nứt ra, hạt chỉ ra
khỏi vỏ khi vỏ này bị mục nát (Hoàng Ngọc Thuận, 2003)[17].
Hạt lan nhiều và nhỏ li ti. Trọng lượng toàn bộ hạt trong một quả nang chỉ
bằng 1/10 - 1/1000 mg và hầu như không có trọng lượng (Việt Chương, Nguyễn

Trên mái dàn dùng lưới đen che 50% ánh sáng để làm giảm cường độ ánh sáng
chiếu vào cây. Xung quanh phải làm hàng rào bảo vệ có thể dùng các tấm lưới làm
bằng thép để che xung quanh. Vườn thường được làm theo hướng Bắc – Nam (Trần
Văn Bảo, 1999)[1]
1.1.5.2. Cây giống
Cần tuyển chọn những giống, loài Lan khỏe mạnh, không sâu bệnh, Hiện nay
có một số loài, chỉ đang có giá trị thương mại cao như chi Aerides, Rhynchostylis,
Dendrobium, Cymbidium, Vanda, Cattleya...
1.1.5.3. Cấu tạo giá thể
Mỗi một loài Lan khác nhau có đặc tính khác nhau và chúng cũng đều thích
hợp với các giá thể khác nhau, Đối với Lan Đai Châu là một loài lan có thể nói
mang vẻ đẹp cho người việt Nam, Hoa thường nở đúng vào các dịp tết. Vì vậy khi
trồng cần chú ý đến giá thể trồng cho lan, không giống bất kỳ một loại cây trồng
nào không cần diện tích lớn, không cần đất nhưng vẫn sống và vươn dài trong
không khí.
Giá thể trồng thường dùng: Vỏ thông, Than hoa, Xơ dừa, Mùn cưa, Dớn,
(không nên dùng vỏ cây của các loại có nhựa đắng như gỗ lim, xà cừ, xoan, vì sẽ
làm cho bộ rễ tổn thương)
Đối với Lan Đai Châu không quá khắt khe như Lan Hồ Điệp nên có thể trồng
ở tất cả các loại giá thể. Tuy nhiên trước khi cấy lan các loại giá thể cần được xử lý
thuốc chống nấm để đảm bảo không gây hại cho phong lan (Nguyễn Công Nghiệp,
2000)[13].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status