ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA - Pdf 35

1

B VN HO, TH THAO V DU LCH

B GIO DC V O TO

TRNG I HC VN HO H NI

NG TH THUí HNG

ĐờI Sống VĂN HóA CủA CƯ DÂN VEN BIểN Hà TĩNH
THờI Kỳ CÔNG NGHIệP HóA, HIệN ĐạI HóA

LUN N TIN S VN HO HC

H NI - 2015


2

B VN HO, TH THAO V DU LCH

B GIO DC V O TO

TRNG I HC VN HO H NI

NG TH THUí HNG

ĐờI Sống VĂN HóA CủA CƯ DÂN VEN BIểN Hà TĩNH
THờI Kỳ CÔNG NGHIệP HóA, HIệN ĐạI HóA


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
KHÁI QUÁT VỀ VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH

1.1.
1.2.
1.3.

Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Khái quát về vùng ven biển Hà Tĩnh
Tiểu kết
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA CƢ DÂN
VEN BIỂN HÀ TĨNH QUA TÍN NGƢỠNG, LỄ HỘI, PHONG TỤC

2.1.
2.2.
2.3.

Tín ngưỡng
Lễ hội
Phong tục
Tiểu kết
Chƣơng 3:
THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA
CƢ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH QUA TIÊU DÙNG VĂN HOÁ

3.1.

89
91
91
105
112
116
124

126
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiếp tục được đẩy mạnh ở vùng 126
ven biển Hà Tĩnh
Xu hướng biến đổi đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh
130
Những vấn đề đặt ra
146
Tiểu kết
154
155
KẾT LUẬN
158
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
159
TÀI LIỆU THAM KHẢO
168
PHỤ LỤC


5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


: Lao động

NCS

: Nghiên cứu sinh

Nxb

: Nhà xuất bản

PL

: Phụ lục

PLA

: Phụ lục ảnh

QL

: Quốc lộ

SCN

: Sau công nguyên

TDVH

: Tiêu dùng văn hoá

6

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Việt Nam có 3/4 diện tích là biển và đại dương, đường bờ biển dài
3260km kéo từ Móng Cái cho tới Hà Tiên, bao bọc lấy phía Đông, Nam và một
phần phía Tây của Tổ quốc, được xếp là quốc gia có đường bờ biển dài thứ 27 trong
tổng số 165 quốc gia có biển trên thế giới. Nếu tính vùng biển bao gồm cả nội thuỷ,
lãnh hải thì diện tích vùng biển của Việt Nam là 226.000 km2 và vùng đặc quyền
kinh tế biển là 1.000.000 km2 (theo Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982 và
1994). Từ xa xưa, con người Việt Nam đã có sự gắn kết chặt chẽ với biển, nhóm cư
dân cư trú ở khu vực ven biển trong quá trình sinh tồn, để thích nghi được với môi
trường biển, khai thác, đánh bắt nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của biển đảm
bảo cho nhu cầu mưu sinh, họ đã tích luỹ được các tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết
về biển, về nguồn tài nguyên sinh vật biển, từ đó hình thành nên những nét văn hoá
đặc trưng so với các vùng, miền khác.
1.2. Bước vào giai đoạn CNH, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban
hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị về phát triển kinh tế vùng biển, ven biển và hải đảo.
Đặc biệt, có Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X
(ngày 9-2-2007) đã ban hành “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, đánh một
dấu mốc quan trọng, thể hiện tầm nhìn mới của Đảng và Nhà nước về vai trò kinh tế
biển đối với sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay. Trước sự tác động mạnh mẽ của sự
nghiệp CNH, HĐH và Chiến lược biển, đời sống kinh tế của cư dân vùng ven biển
nước ta tăng trưởng nhanh, kéo theo những biến đổi về đời sống văn hoá, dẫn đến
đời sống văn hoá của cư dân vùng ven biển đứng trước những cơ hội và thách thức
mới. Vấn đề bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống, chọn lọc tiếp thu văn hoá thời
đại, hình thành nên những giá trị văn hoá vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc,
góp phần đưa văn hoá Việt Nam thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là mục tiêu, là
động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đang được đặt ra đối với vùng ven biển
của cả nước nói chung và ven biển của tỉnh Hà Tĩnh nói riêng.

thể hiện với những xu hướng khác nhau, dẫn đến tính thuần nhất và nét đặc trưng độc
đáo về văn hoá của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh trước thời kỳ CNH, HĐH có xu thế
bị phá vỡ, nguy cơ đánh mất bản sắc, đánh mất truyền thống, ảnh hưởng văn hoá
ngoại lai, sự xâm nhập của văn hoá phẩm độc hại, hiện tượng chạy đua theo trào lưu
văn hoá mới, bỏ quên, xa rời văn hoá truyền thống, chạy theo văn hoá thực dụng mà
xa rời các yếu tố văn hoá nhân bản, tiếp nhận các luồng văn hoá mới chưa được gạn
lọc, khơi trong,… đang có chiều hướng gia tăng ở vùng ven biển Hà Tĩnh trong thời


8

kỳ CNH, HĐH.
Với những lý do trên, việc nghiên cứu Đời sống văn hoá của cư dân ven biển
Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH, nhận diện xu hướng vận động biến đổi là vấn đề trở
nên cấp thiết đối với giới nghiên cứu văn hoá ở nước ta hiện nay.Tuy vậy, cho đến
nay chưa có công trình chuyên sâu nào đề cập một cách đầy đủ, sâu sắc và hệ thống
về vấn đề này, do đó NCS chọn đề tài “Đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà
Tĩnh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” để làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành
Văn hoá học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra thực trạng và bước đầu nhận diện xu hướng biến đổi Đời sống văn hóa
của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp và phân tích các công trình nghiên của các nhà nghiên cứu đi trước
đã viết về Hà Tĩnh, cư dân, văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh.
- Trình bày cơ sở lý thuyết nghiên cứu, khái niệm đời sống văn hoá, cơ cấu
của đời sống văn hoá và giới thuyết nội dung nghiên cứu của đề tài.
- Khảo sát, phân tích, nhận diện thực trạng Đời sống văn hoá của cư dân ven
biển Hà Tĩnh trước những tác động của sự nghiệp CNH, HĐH và xu hướng vận động,

hướng vận động, biến đổi và những vấn đề đặt ra trong biến đổi đời sống văn hoá
của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hoá học: Luận án sử dụng
các khái niệm, phạm trù, kết quả của các ngành khoa học có liên quan đến văn hoá
học để nghiên cứu về đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh như: Dân tộc
học/ nhân học văn hoá, Xã hội học văn hoá, Folklore học, Tâm lý học,…
- Phương pháp phân tích và tổng hợp hệ thống tư liệu của các học giả đi
trước đã nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến vùng ven biển Hà Tĩnh, cư dân
ven biển Hà Tĩnh và văn hoá ven biển Hà Tĩnh. Qua sự phân tích này, tác giả luận
án kế thừa và đưa ra những nhận định liên quan đến các vấn đề của đề tài luận án.
- Phương pháp khảo sát - điền dã của nhân học/dân tộc học văn hoá ở những
điểm nằm trong không gian nghiên cứu, để tìm hiểu thực tế, sưu tầm thu thập tư
liệu, thông tin qua cộng đồng cư dân tại thực địa.
- Phương pháp điều tra xã hội học thông qua việc phỏng vấn sâu và bảng hỏi,
để có những tư liệu định lượng, minh chứng cho những nhận xét, đánh giá định tính


10

về biến đổi văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa đời sống văn hoá truyền thống và hiện
đại của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh để tìm ra xu hướng vận động biến đổi.
- Phương pháp nghiên cứu đại diện: Chọn một số địa điểm ven biển tiêu
biểu của Hà Tĩnh để minh chứng cho vấn đề mà đề tài đang đề cập, đánh giá,
và bàn luận,…
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Đóng góp về mặt khoa học
- Luận án là công trình đầu tiên vận dụng lý luận về đời sống văn hoá với
nội hàm là đời sống văn hoá tinh thần vào nghiên cứu đời sống văn hoá của cư dân

học lớn của đất nước… Nơi đây cũng đã lắng đọng nhiều giá trị văn hoá dân tộc,
kết hợp với đặc trưng vùng, tạo nên một Hà Tĩnh khác với các vùng, miền trong cả
nước,… Trong thời kỳ CNH, HĐH, Hà Tĩnh là một trong những vùng kinh tế
trọng điểm của đất nước. Thế nhưng, những nghiên cứu về Hà Tĩnh, về văn hoá
Hà Tĩnh thời hiện đại còn là một khoảng trống, đặc biệt còn thiếu những công
trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hoá vùng ven biển Hà Tĩnh. Đây là vùng mà
hiện nay đang có nhiều biến đổi trước những chủ trương lớn của Đảng, chiến lược
phát triển mới của đất nước. Tuy vậy, vẫn có thể tìm thấy những nội dung có liên
quan đến đề tài luận án trong các công trình nghiên cứu đi trước để NCS có thể tiếp
thu, kế thừa, tìm ra cái mới. Vấn đề này, NCS xin được tổng hợp, phân tích, chia
làm ba nhóm nội dung cụ thể như sau:
1.1.1. Các công trình viết về vùng ven biển Hà Tĩnh
Đại Nam nhất thống chí, tập 2 [59] (Quốc sử quán triều Nguyễn), viết về đạo
Hà Tĩnh, chỉ có ba huyện nhưng cả ba huyện đều có phía đông giáp biển, đó là:
Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (đạo Hà Tĩnh lúc đó chỉ có ba huyện). Vì vậy, Hà
Tĩnh khi đó chỉ có hai cửa biển là cửa Nhượng và cửa Khẩu, cả hai cửa biển đều
nắm giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước. Về địa hình của Hà Tĩnh, Đại
Nam nhất thống chí nhận định: dài và hẹp “Xung quanh là núi giáp biển. Chiều nam
bắc dài mà chiều đông tây ngắn, từ biển lên núi chỉ nửa ngày đường”[59, tr.87].
Bùi Dương Lịch trong công trình Nghệ An ký [49] gồm hai quyển viết về
Thiên chí, Địa chí và Nhân chí trên đất Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay).
Trong công trình này tác giả đã đề cập đến núi, sông và các cửa biển của Hà Tĩnh,


12

là cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng và cửa Khẩu (trong tổng số 12 cửa biển của Nghệ
An thời đó). Tuy nhiên, về các ngọn núi được đề cập trong công trình này, ngày nay
tên gọi đã khác và địa giới hành chính giữa các xã, huyện của tỉnh Hà Tĩnh ngày
nay đã có nhiều thay đổi.

Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý [65] của tác giả Lê Bá Thảo, đề cập đến
địa lý, địa hình của các khu vực trong cả nước, đưa ra nhận định về miền Trung và
ven biển miền Trung (trong đó có Hà Tĩnh) rằng: đây là vùng có chiều dài gấp
nhiều lần chiều rộng, điều kiện tự nhiên có nhiều khó khăn, về tài nguyên thiên
nhiên “những tài nguyên với tới được thì không thật giàu hoặc đã bị phá hoại gần
hết, có những tài nguyên có tiềm năng lớn, thí dụ như tài nguyên hải sản hoặc
khoáng sản thì điều kiện khai thác khó khăn” [65, tr.386].
Như vậy, các công trình nghiên cứu đi trước trên đây đã cho biết địa danh một
số huyện giáp biển của Hà Tĩnh, cũng như các cửa biển thuộc về Hà Tĩnh xưa và nay.
Tuy nhiên số liệu không còn phù hợp, vì hiện nay các huyện của Hà Tĩnh đã khác.
1.1.2. Các công trình viết về cư dân ven biển Hà Tĩnh
Cư dân ven biển Hà Tĩnh đã được đề cập khá sớm ở một số công trình của
các học giả trong và ngoài nước.
Trước hết phải kể đến An - Tĩnh cổ lục [37] của Hippolyte le Breton, gồm hai
thiên, trong đó một thiên viết về người tiền sử trên mảnh đất An - Tĩnh (Nghệ An và
Hà Tĩnh). Từ những di vật tìm thấy ở các di chỉ khảo cổ học, Hippolyte le Breton
khẳng định: tất cả những “di vật đồ ăn thừa”ở vùng An - Tĩnh thuộc thời đại đồ đá
mới và con người thời đại đồ đá mới chỉ xuất hiện ở các đồng bằng ven biển của An Tĩnh và Quảng Bình, đó chính là cư dân Bàu Tró, nhóm cư dân này ngoài bắt các
nhuyễn thể ở các đầm phá ven biển và sông hồ để ăn, đã tiến hành đánh bắt các loài
cá ở biển, với dấu tích để lại ở các di chỉ khảo cổ học có xương của các loại cá biển
rất lớn. Thiên thứ hai trong An - Tĩnh cổ lục, Hippolyte le Breton ghi chép những
danh lam thắng cảnh và những di tích mang tính chất truyền thuyết và lịch sử của
vùng An - Tĩnh xưa, có nhắc đến núi Nam Giới (biên giới phía nam nước ta với
Chiêm Thành vào thế kỷ thứ VII-X, một ngọn núi giáp biển thuộc huyện Thạch Hà
ngày nay), đền Lê Khôi (ở cửa Sót – huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh) và bốn cửa biển
của Hà Tĩnh hiện nay (thuộc An - Tĩnh hồi đó) là cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng,
cửa Khẩu,…


14



15

Trong loại hình Thạch Lạc không chỉ dừng lại ở thu lượm những động vật thân
mềm sẵn có ở ven bờ, mà còn tiến hành đi khơi, đi lộng để đánh bắt cá, có di tồn
xương của những loài cá rất to thu được từ các cồn sò điệp Thạch Lạc, Thạch Lâm
đã chứng minh cho nhận định này. Tất cả những nghiên cứu về văn hoá Bàu Tró
trên đất Nghệ An - Hà Tĩnh, theo Phạm Thị Ninh đã nói lên cư dân văn hoá Bàu Tró
không chỉ có cuộc sống ổn định, lâu dài trên mảnh đất này, mà cuộc sống của họ
còn rất phong phú, sôi động. Dù cư trú ở cồn sò điệp ven biển, hay những cồn đất,
cồn cát ven cửa sông, lạch đều có xu hướng hướng ra biển, khai thác biển và gần
gũi với các nguồn nước, họ đã có sự phân công lao động và quan hệ trao đổi với
các nhóm cư dân văn hoá Bàu Tró ở các vùng. Kết luận cho cuốn sách, Phạm Thị
Ninh đưa ra nhận định: Văn hoá Bàu Tró có một vị trí quan trọng trong hệ thống
văn hoá vùng ven biển miền trung, là chiếc cầu nối giữa văn hoá Quỳnh Văn với
văn hoá Sa Huỳnh.
Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam [70] của tác giả Nguyễn Duy Thiệu, là công
trình nghiên cứu tương đối toàn diện và sâu các mặt đời sống của cộng đồng ngư
dân, về cơ cấu tổ chức xã hội và các phương thức, ngư cụ đánh bắt truyền thống, tác
giả cũng đã giới thiệu ba tín ngưỡng có tính đại diện của ngư dân trong đời sống
sinh hoạt tinh thần, đó là: thờ cá Ông, thờ Mẫu và thờ Thánh. Đặc biệt, công trình
đã đề cập đến cộng đồng ngư dân Cửa Sót (một trong bốn cửa biển của Hà Tĩnh) và
đưa ra nhận định: đây là vùng có đặc điểm cư dân bác tạp và đông đúc, đất đai chật
hẹp và cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, cửa biển bé nhỏ,… tác giả cũng đã giới thiệu
phương thức đánh bắt của ba nhóm cư dân chính ở cửa Sót, mà theo tác giả đã lấy
đánh cá làm nghề sống chính, đó là: nhóm thuỷ cư trên sông, nhóm thuỷ cư ở cửa
biển, và nhóm ngư dân sống trên đất liền. Tuy nhiên, hiện nay cả ba nhóm cư dân đều
sống trên đất liền và đã có những biến đổi.
Nghiên cứu về cư dân ven biển Việt Nam, tác giả Nguyễn Duy Thiệu còn

như các yếu tố tín ngưỡng văn hoá diễn ra trong lễ hội.
Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh [12], Nguyễn Đổng Chi chủ biên, gồm
bảy phần, trong đó giới thiệu về đặc trưng tính cách của người xứ Nghệ, những tri
thức, hiểu biết về địa lý, kỹ thuật, y dược, lịch sử, triết lý sống, thơ, ca, âm nhạc,
nghệ thuật, món ăn dân gian, phong tục tập quán dân gian,… của người dân xứ
Nghệ từ những năm trước cách mạng Tháng Tám (1945). Đây là công trình công
phu của tập thể tác giả, việc giới thiệu văn hoá dân gian (folklore) của một không


17

gian rộng lớn mang nhiều nét đặc trưng vùng (huyện, làng, xã), thậm chí là từng
nhóm cư dân như xứ Nghệ không phải là điều dễ làm. Lời đầu cuốn sách Nguyễn
Đổng Chi đã tự nhận xét: “công trình nghiên cứu này mang tính giới thiệu hết sức
khái lược, vẫn chỉ có tính chất cưỡi ngựa xem hoa. Có lẽ cần chờ sự bổ sung của
những bộ địa chí về văn hoá dân gian của những đơn vị nhỏ (như huyện, xã) hay
của từng tộc người Nghệ Tĩnh,…” [12, tr.13]. Mặc dù là khái lược (như tác giả tự
nhận xét), nhưng Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, luôn là nguồn tư liệu quý, gợi
mở nhiều hướng nghiên cứu mới, chỉ ra các con đường mà những nhà nghiên cứu đi
sau có thể dựa vào đó để sưu tầm, thu thập tư liệu, khảo sát thực địa,…
Trong Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, đã đề cập đến ba huyện ven biển
phía nam Hà Tĩnh là Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (Thạch, Cẩm, Kỳ). Tác giả
cũng đã nhắc đến một số phong tục, kiêng kỵ, và sinh hoạt văn hoá dân gian của cư
dân vùng ven biển xứ Nghệ trước những năm 1945, trong đó có đề cập đến các
phường, hội nghề nghiệp của người dân Nghệ Tĩnh. Hội Vạn Chài được tác giả
nhắc đến với tư cách là một tổ chức hội nghề truyền thống, mở rộng ra toàn tỉnh,
lấy các cửa lạch làm đơn vị, luân phiên các địa điểm khác nhau hàng năm vào
tháng giêng họp lại để cúng Tứ vị mà đứng đầu là Thánh Mẫu (Bà Cờn), lễ cúng
có tam sinh và đặc biệt là có uống máu ăn thề, lời thề là cứu giúp nhau khi hoạn
nạn, tương thân tương ái, ai làm trái thì bị thần thánh làm hại,…

Văn hoá dân gian làng ven biển [84], Ngô Đức Thịnh chủ biên, giới thiệu
văn hoá dân gian của cư dân một số vùng ven biển Việt Nam, trong số chín vùng
ven biển được giới thiệu trong công trình, tỉnh Hà Tĩnh có hai vùng là: Vùng biển
Cửa Sót (của tác giả Nguyễn Duy Thiệu) và làng biển Nhượng Bạn (của tác giả Võ
Quang Trọng). Trong đó, vùng biển Cửa Sót được tác giả Nguyễn Duy Thiệu đề cập
nhiều đến phương thức đánh bắt, các tri thức kinh nghiệm đánh bắt, cơ cấu tổ chức
xã hội truyền thống. Còn ở làng Cẩm Nhượng, Võ Quang Trọng đề cập đến các sinh
hoạt văn hoá dân gian của cư dân xã Cẩm Nhượng trước thời kỳ đổi mới. Cả hai tác
giả đã cung cấp nguồn tư liệu có giá trị làm cơ sở kế thừa và so sánh, đối chiếu với
các làng ven biển này trong thực tế xã hội hiện nay.
Văn hoá biển miền Trung và văn hoá biển Tây Nam Bộ [41], ở công trình
nghiên cứu này, có bài viết của Nguyễn Trí Sơn đề cập đến hò Chèo Cạn và Hội
Đám Chay - nét sinh hoạt văn hoá tinh thần của ngư dân làng biển Nhượng Bạn (xã
Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh). Bài viết tập trung giới thiệu hai trong
số rất nhiều những lễ hội, trò diễn truyền thống tiêu biểu của ngư dân vùng biển


19

Cẩm Nhượng. Tuy vậy, hiện nay hội Đám Chay không còn tồn tại, còn hò Chèo
Cạn đã được phục dựng và có nhiều yếu tố mới mang màu sắc thời đại.
Đề cập đến văn hoá ven biển thời kỳ đổi mới có bài viết của Lê Hồng Lý,
Đôi nét về văn hoá dân gian ven biển trong nền kinh tế thị trường [52]. Trong bài
viết của mình, tác giả đã khẳng định: Biển luôn ở cạnh người Việt, nhưng hình như
nó không được người Việt chú ý đến và việc khai thác biển của người Việt chủ yếu
là khai thác ven bờ và vùng nước lợ. Tác giả đã giới thiệu một số sinh hoạt văn hóa
tiêu biểu của các cộng đồng cư dân ven biển nước ta như: lễ hội cá Ông, lễ hội thờ
Thành Hoàng làng, tín ngưỡng thờ tổ tiên với vấn đề nhà thờ họ hiện nay, các
phong tục thuyền mới, lưới mới. Tác giả cho rằng với cư dân ven biển, thường cùng
thờ nhiều vị thần có công trong dịp lễ hội,…Vấn đề mới trong bài viết của Lê Hồng

đến các triều đại phong kiến sau này, ở Hà Tĩnh còn có người Trung Quốc, người
Chiêm Thành, người Bồ Lô, người miền Bắc, người Thanh Hoá, người Quảng Bình
do chạy loạn hoặc đến làm quan hoặc do di cư đã đến lánh nạn, cư trú ở Hà Tĩnh và
họ sống chủ yếu ở các làng ven biển. Những công trình nghiên cứu này góp phần
khẳng định cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh có nguồn gốc bác tạp.
- Một số công trình nghiên cứu văn hoá đã đề cập đến các phương thức đánh
bắt, phương thức tổ chức đời sống xã hội, các nghề thủ công nổi tiếng ở một số
vùng thuộc ven biển Hà Tĩnh và một số nét sinh hoạt phong tục, tập quán, lễ hội của
cư dân ven biển Hà Tĩnh, nhưng chủ yếu đề cập ở góc độ xã hội truyền thống. Cũng
có công trình đề cập đến văn hoá ven biển trong nền kinh tế thị trường, nhưng chỉ
dừng ở một vài nét chấm phá về xu hướng biến đổi của văn hoá ven biển Việt Nam
nói chung trong phạm vi một bài báo. Hoặc như ở Luận án tiến sĩ của Phạm Thanh
Tịnh lại chỉ đề cập đến những biến đổi về văn hoá của một bộ phận cư dân Bồ Lô
ven biển Hà Tĩnh, cũng chỉ đến thời kỳ đổi mới, chưa có công trình chuyên sâu
nào đề cập đến đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH.
Vì vậy, việc nghiên cứu có hệ thống đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà
Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH, nhận diện xu hướng biến đổi, là những vấn đề có giá trị,
ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, đây chính là nội dung cơ bản mà đề tài luận
án tập trung giải quyết.
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Khái niệm đời sống văn hoá và cơ cấu của nó
1.2.1.1. Khái niệm đời sống văn hoá
Ở nước ta thuật ngữ “Đời sống văn hóa” được đề xướng từ Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ V của Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1981). Văn kiện của Đại


21

hội đưa ra chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở: “Một nhiện vụ của cách
mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của



22

Tác giả Hoàng Vinh trong tài liệu Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng
văn hóa ở nước ta (năm 1999) cho rằng: “Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời
sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động của con người,
nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nó. Nhu cầu vật chất được đáp ứng
làm cho con người tồn tại như một sinh thể. Còn nhu cầu tinh thần thì giúp con
người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa. Hai nhu cầu
này xuất hiện khi con người hình thành về mặt giống loài, tức là từ buổi bình minh
của xã hội loài người. Tuy vậy, khi xã hội phát triển lên cao, đạt tới trình độ phát
triển tương ứng. Từ hai nhu cầu cơ bản nêu trên hình thành nhu cầu văn hóa, thể
hiện khía cạnh, chất lượng của trình độ đáp ứng nhu cầu” [105, tr.262]
Cùng với quan điểm của các tác giả trên, tác giả Nguyễn Thị Phương Lan lại
diễn giải về ĐSVH như sau: “Đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố văn hóa
vật chất và tinh thần nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động
văn hóa, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội tạo ra những quan hệ có
văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người
trong xã hội” [47, tr.15].
Như vậy, các tác giả dù có diễn giải khác nhau (đôi chỗ mâu thuẫn với nhau)
song đều thống nhất với nhau rằng: “phải hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng
không bó hẹp tính văn hóa vào một lĩnh vực nào đó mà coi đời sống văn hóa là khái
niệm rộng rãi bao quát mọi mặt của đời sống xã hội: sản xuất, trao đổi, tiêu dùng,
nhận thức, sáng tạo”… “cả trong lĩnh vực sản xuất, trao đổi và tiêu dùng của cải vật
chất” [101, tr.24].
NCS cho rằng các quan niệm trên về ĐSVH tuy ít nhiều có sự hợp lý, nhưng
qúa rộng. Đúng là đời sống con người khác về bản chất so với đời sống động vật.
Bởi đời sống con người có sự thẩm thấu và bị quy định bởi thuộc tính văn hóa- một
thuộc tính đặc hữu, mang tính tộc loại của con người. Song dẫu vậy, đời sống con

-Đời sống văn hóa diễn ra trong thời gian rỗi là chủ yếu (nhất là viêc tiếp
thu/hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của con người).
Từ sự phân tích trên, NCS cho rằng: quan niệm về đời sống văn hóa theo
nghĩa “hẹp” gắn với đời sống tinh thàn của con người hơn và đặc biệt gắn với các
hoạt động tinh thần trong thời gian rỗi là chủ yếu. Nó đã khu biệt được nội hàm và
ngoại diên của khái niệm ĐSVH không có sự lẫn lộn giữa ĐSVH với đời sống con
người hay đời sống xã hội. Nó được diễn đạt một cách rõ ràng không còn trìu tượng
như cách hiểu theo nghĩa rộng: “Đó là một bộ phận của đời sống con người nói
chung, nhưng nó là một bộ phận đặc biệt, bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống con
người”[101, tr.21]. Nó cũng không giống như cách giải thích của tác giả Mai Luân,


24

Hoàng Vinh mà luận án đã dẫn ở trên. Đồng thời nó cũng khác với quan niệm của
tác giả Nguyễn Thị Phương Lan về đời sống văn hóa lẫn lộn với môi trường văn
hóa “đời sống văn hóa là những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần nằm trong cảnh
quan văn hóa…”.
NCS dựa vào quan niệm về ĐSVH theo nghĩa “hẹp” của Viện Văn hóa- Bộ
Văn hóa (đã trình bày ở trên) để đưa ra quan niệm về đời sống văn hóa sau đây: Đời
sống văn hóa là tổng thể sống động những hoạt động tinh thần của con người (cá
nhân và cộng đồng) trong thời gian rỗi là chủ yếu, bao gồm: sáng tạo, biểu hiện,
truyền bá, thưởng thức, tiêu dùng … các sản phẩm văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu
tinh thần của con người.
Quan niệm mà NCS đưa ra có những nội dung đáng chú ý sau:
- Đời sống văn hóa là tổng thể sống động những hoạt động tinh thần trong
thời gian rỗi là chủ yếu. Như vậy, ĐSVH gắn với hoạt động tinh thần hay nói cách
khác ĐSVH được dệt nên bởi hoạt động tinh thần.
Song có những hoạt động tinh thần không thuộc về ĐSVH khi nó được
tiến hành trong thời gian tất yếu (thời gian lao động tất yếu, bắt buộc của cá nhân

hoá “phải có ba yếu tố: sản phẩm văn hoá, thể chế văn hoá, các dạng hoạt động văn
hoá và con người văn hoá. Ba yếu tố ấy tạo thành cấu trúc của đời sống văn hoá”
[104, tr. 266]. Tác giả Nguyễn Thị Phương Lan lại đưa ra một mô hình cấu trúc đời
sống văn hoá gồm: con người văn hoá, nhu cầu văn hoá, hoạt động văn hoá và sản
phẩm văn hoá tác động lẫn nhau trong môi trường văn hoá. Mô hình đó được sơ đồ
hoá như sau:

Nhu cầu

Môi
trường
văn hóa
Con người

Hoạt động
văn hóa

Sản phẩm
văn hóa

Điều đáng nói là các tác giả đã khẳng định “đời sống văn hoá là một tổng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status