internet với đời sống văn hóa của nhân dân thủ đô - Pdf 10

LUẬN VĂN:

Internet với đời sống văn hóa của
nhân dân Thủ đô

Mở đầu


mặt với những ảnh hưởng của sự phát triển internet ở Việt Nam. Kinh tế nào thì văn hóa
ấy, song một khi kinh tế phát triển nhanh đi trước quá xa so với văn hóa thì sẽ gặp phải
những bất cập. Vậy sự nhận thức của người Việt Nam sử dụng internet như thế nào, cần
điều chỉnh, giáo dục hướng dẫn những gì khi internet - một sản phẩm văn minh của nhân
loại còn là một dịch vụ mới mẻ đối với người Việt Nam. Đây là những vấn đề được
Chính phủ và các nhà cung cấp đang quan tâm, đặc biệt với những nhà văn hóa thì đây
cũng là một thách thức trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
Việc nghiên cứu những ảnh hưởng của internet đối với đời sống văn hóa của
người Việt Nam sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan hơn sự phát triển của văn
hóa nước nhà trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
1.4. Theo con số thống kê chính thức của Bộ Bưu chính - Viễn thông thì 86% số
người truy cập internet hàng ngày ở Việt Nam tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, Hà Nội là một trong hai địa bàn chính có số người
truy nhập internet cao hiện nay và là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị của cả nước
nên người viết mạnh dạn chọn đề tài: "Internet với đời sống văn hóa của nhân dân Thủ
đô" làm luận văn Thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Văn hóa học cho mình.
Đề tài này tập trung nghiên cứu về sự ảnh hưởng của internet với đời sống văn
hóa của nhân dân Thủ đô Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là tầng lớp học sinh,
sinh viên, các cán bộ nghiên cứu, những nhà quản lý. Ngoài ra, đề tài cũng phân tích
những hệ quả của sự phát triển mạng internet ở Việt Nam nhằm giúp cho người sử dụng
dịch vụ internet có cách đánh giá và tiếp thu nền văn hóa, văn minh của nhân loại một
cách có chọn lọc trước những thông tin mà dịch vụ này mang lại.
2. Tình hình nghiên cứu và sưu tầm
2.1. Về nghiên cứu

learning- đào tạo trực tuyến hội thảo còn là nơi trao đổi những vấn đề cụ thể liên quan
đến các phòng ban, sở giáo dục và các giáo viên tuy nhiên, hội thảo chưa hề đề cập đến
những mặt trái của internet khi đưa vào giáo dục.
Trong cái nhìn tổng quan về nhu cầu giải trí của thanh niên Việt Nam hiện nay,
cuốn "Nhu cầu giải trí của thanh niên" xuất bản năm 2003 của tác giả Đinh Thị Vân Chi
đã phân tích khá tỷ mỷ và nêu ra một số ảnh hưởng của internet đối với thanh niên ở một số
thành phố lớn, trong đó có Hà Nội. Tác giả đã đề cập đến một số mặt tích cực và mặt trái
của internet. Cuốn sách là một tài liệu tham khảo rất bổ ích cho người thực hiện đề tài này.
1.2. Về sưu tầm
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các nguồn tư liệu sau:
* Những văn bản, quyết định của chính phủ về việc chính thức kết nối internet tại
Việt Nam, bao gồm:
- Hướng dẫn kết nối, sử dụng internet tại Việt Nam.
- Quyết định số 136/TTg ngày 5 tháng 3 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thành lập ban điều phối quốc gia mạng internet ở Việt Nam - Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ về một số chính sách, biện pháp khuyến khích, đầu tư và phát triển công
nghệ phần mềm.
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt kế hoạch phát triển internet
Việt Nam giai đoạn 2001- 2005 về quản lý, cung cấp và sử dụng internet.
- Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet tại
Việt Nam.
* Những văn bản, quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện về phát triển
internet ở Việt Nam. Các tạp chí của ngành Bưu chính - Viễn thông các số từ năm 1996
đến tháng 8/2004.
* Tổng hợp "Tin nhanh" của Trung tâm Thông tin Bưu điện - Tổng công ty Bưu
chính - Viễn thông Việt Nam (tài liệu lưu hành nội bộ phát hành hàng tuần vào sáng thứ
sáu).

Văn hóa trong khai thác mạng internet ở Thủ đô Hà Nội. Đề tài chỉ tập trung
nghiên cứu vào bốn nhóm xã hội chính, gồm học sinh sinh viên, cán bộ làm công tác nghiên
cứu và giảng dạy, cán bộ làm công tác quản lý và nhóm cán bộ, công nhân, viên chức trong
thời gian gần đây (từ 1998 đến nay).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Trên quan điểm duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nắm vững các
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng một nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển khoa học kỹ thuật mà trong đó công nghệ
thông tin là một ngành then chốt.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành; văn hóa học - xã hội học.
- Phương pháp xã hội học và điền dã để tìm hiểu, thống kê thực trạng truy cập
internet ở Hà Nội.
- Trực tiếp khai thác, khảo sát trực tuyến trên mạng nhằm so sánh, tổng hợp và
tìm hiểu các vấn đề đã được xác định trên cơ sở các nguồn tư liệu đã thu thập để thực
hiện mục tiêu đề tài đặt ra.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò của internet trong đời sống văn hóa của người Việt
Nam nói chung và nhân dân Thủ đô nói riêng.
- Phân tích tương đối có hệ thống những ảnh hưởng của sự phát triển mạng
internet đối với đời sống văn hóa của nhân dân Thủ đô Hà Nội.
- Đưa ra một số dự báo, kiến nghị và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng internet trong đời sống văn hóa của người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Là tài liệu tham khảo đối với các nhà hoạch định chính sách, từ đó có thể đưa ra
những phương hướng để có thể khai thác triệt để những mặt tích cực, giảm thiểu những
tiêu cực do một số phần tử phản động lạm dụng mạng internet để tuyên truyền.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung

hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên và
xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định [6].
Năm 1988, khi phát động thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa, Tổng Giám đốc
UNESCO - Federico Mayro, đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: Văn hóa là tổng thể sống
động của các hoạt động trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng
tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những
yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [8].
Khái niệm "văn hóa" được đề cập đến trong luận văn này mang một ngoại diên
rất rộng, nghĩa là bất cứ cái gì do con người làm ra đều hàm chứa thuộc tính văn hóa, nó
gồm tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cho
sự tiến bộ của con người mà sản phẩm sáng tạo cụ thể đó chính là internet - sản phẩm của
thời đại văn minh công nghiệp, của công nghệ thông tin. Bản chất đặc trưng của văn hóa
chính là sự sáng tạo vươn tới giá trị nhân văn, khẳng định chất lượng của đời sống, trong
đó là chất lượng sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Internet được nghiên cứu trong
luận văn này với ý nghĩa vừa là một sản phẩm văn minh công nghiệp, vừa là một giá trị
văn hóa đánh dấu sự sáng tạo của nhân loại.
1.1.2. Đời sống văn hóa
Đời sống văn hóa là toàn bộ những giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
được tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực của con người [10].
Khái niệm đời sống văn hóa là một khái niệm rộng để chỉ toàn bộ các thành tựu có ý
nghĩa văn hóa do con người sáng tạo ra cùng các phương thức, cách thức mà con người
sử dụng chúng trong đời sống hàng ngày. Đời sống văn hóa của cá nhân và cộng đồng
gắn liền với sự sống của họ thể hiện trong các hoạt động như: ăn, ở, đi lại, sản xuất, giao
tiếp xã hội, thể hiện các giá trị chuẩn mực định hướng trong lối sống, phong tục tập quán,
tín ngưỡng tôn giáo, trong các hoạt động giáo dục, khoa học, nghệ thuật, trong tổ chức,
quản lý đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội, trong các hoạt động văn hóa dân
gian như: tang ma cưới hỏi, trong lễ hội và trong các quan hệ ứng xử khác. Như vậy, nói

nghĩa là sự kết nối của các máy tính đầu cuối, bao gồm cả máy tính cá nhân, của hộ gia
đình, của các cơ quan, tổ chức Tạo điều kiện cho tất cả các loại hình truyền thông khác
hoạt động được [21]. Các tờ báo, đài truyền hình, các hãng thông tấn, cơ quan báo chí,
các cơ quan giáo dục cũng như các tổ chức và cá nhân đều có cơ hội ngang bằng là thiết
lập website riêng để cung cấp thông tin đến đông đảo công chúng (công chúng ở đây là
tất cả những người sử dụng internet). Ngược lại, người sử dụng internet cũng có thể khai
thác các tiện ích của internet cho mỗi loại mục đích của mình.
Một cách tổng quát, internet là một mạng diện rộng (WAN) là tập hợp hàng ngàn
các mạng máy tính trải khắp thế giới thông qua hệ thống viễn thông. Sự phát triển nhanh
chóng của internet đã khiến cho nó còn có thêm một khái niệm là "siêu lộ thông tin"
(Information Super Highway). Ngoài ra, nó còn là nguồn tài nguyên vô giá cho các nhà
nghiên cứu, các nhà giáo dục, các quan chức chính phủ và các thủ thư , internet đã trở
thành một công cụ thiết yếu cho mọi cá nhân đang sử dụng thư điện tử, đang nghiên cứu
và thực tế là mọi hoạt động liên quan đến việc thu thập thông tin.
Sau đây là định nghĩa về internet được nhiều nhà khoa học và cá nhân sử dụng
phổ biến hiện nay:
Internet là hệ thống thông tin toàn cầu mà:
- Được nối với nhau hợp lý bằng một không gian địa chỉ độc đáo dựa trên giao
thức mạng (IP).
- Có thể tạo điều kiện cho các máy tính giao tiếp với nhau thông qua bộ giao
thức (TCP/IP).
- Công khai hoặc bí mật cung cấp, cho phép sử dụng, cho phép truy cập các dịch
vụ cao cấp được xếp trên các mục giao tiếp và cơ sở liên quan.
- Không thể có được sơ đồ cụ thể của mạng internet vì các máy tính và các mạng
máy tính liên tục đăng ký thêm vào mạng internet cũng như các thông tin trên mạng liên
tục thay đổi, cập nhật.
- Internet mang đến cho bạn hạ tầng kỹ thuật để giao dịch trên mạng (on line).

Tốc độ phát triển của internet:
- 1977: 111 máy chủ
- 1981: 213 máy chủ
- 1983: 562 máy chủ
- 1984:1.000 máy chủ
-

1986: 5.000 máy ch


Thương
mại
điện tử
E - Com
1995

Trình duyệt
Web
1993

WWW
1989
Tên gọi
Internet
TCP/IP
1984


đích của mạng này là làm cho những người lao động của công ty gắn kết với mọi tin tức
của công ty đó, nhằm tăng năng suất qua luồng thông tin hiệu quả được phổ biến trên
intranet.
Extranet: Mạng chia sẻ mở rộng, mạng này công ty chỉ cho phép một nhóm
người được lựa chọn để truy nhập.
Thực chất internet không thuộc quyền quản lý của bất kỳ ai. Nó không có ban
giám đốc, cũng không có ban quản trị, người dùng có thể tham gia hoặc không tham gia
Số liệu Telcordia - Nestizer.com (1/2001)
Hơn 115 triệu máy chủ, hơn 407 triệu người sử dụng (số liệu tháng
11/2000).
31 triệu tên miền.
Theo dữ liệu đo bằng Byte (1994) người ta truy nhập Internet cho mục đích:
32% cho truyền file, 13% khám phá, tìm hiểu thông tin, 11% đọc tin, 10% dữ liệu
overhead, 6% email, 5% điều khiển từ xa.
vào internet, đó là quyền của mỗi thành viên. Mỗi mạng thành phần sẽ có một giám đốc
hay chủ tịch, một cơ quan chính phủ hay một hãng điều hành, nhưng không có một tổ
chức nào chịu trách nhiệm toàn bộ về internet.
Hiệp hội internet (Internet Socity - ISOC) là một hiệp hội tự nguyện có mục đích
phát triển khả năng trao đổi thông tin dựa vào công nghệ internet. Hiệp hội bầu ra
Internet Architecture Board - IAB, ban này có trách nhiệm đưa ra hướng dẫn về kỹ thuật
cũng như phương hướng để phát triển internet.
Mọi người trên internet thể hiện nguyện vọng của mình thông qua ủy ban kỹ
thuật internet (Internet Engineering Task Force IETF). IETF cũng là một chức tự nguyện,
có mục đích thảo luận về các kỹ thuật và sự hoạt động của internet. Nếu một vấn đề được
coi trọng, IETF lập một nhóm kỹ thuật để nghiên cứu vấn đề này. Nhóm đặc trách nghiên
cứu phát triển công nghệ Internet (IRTF- Internet Reasearch Task Force).
Trung tâm thông tin mạng (Networrk Infomation Center - NIC) gồm có nhiều

độ tăng vượt mức trung bình của thế giới. Ước tính sẽ có sự bùng nổ internet để đặt vé
máy bay, phòng khách, khách sạn hoặc ô tô. Giải trí trên mạng cũng là một lĩnh vực có tiềm
năng to lớn, ngày càng có nhiều người mua vé xem phim, ca nhạc qua mạng. Riêng ở
Hàn Quốc chỉ trong những năm đầu khi internet mới phát triển, 98% thông tin được giao
dịch qua mạng internet.
Ước tính đến năm 2005 sẽ có 33 triệu người dân Hàn Quốc sử dụng dịch vụ
internet, chiếm 2/3 dân số.
Trước sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trên mọi lĩnh vực và mang tính toàn cầu
như vậy, internet vừa là cơ may, vừa là thách thức với các quốc gia. Đảng và Nhà nước
Việt Nam chủ trương phát triển và mở rộng việc cung cấp và sử dụng dịch vụ internet
nhưng phải đi đôi và tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ.
Để phục vụ các hoạt động quản lý nhà nước và nhu cầu của xã hội, từ những năm
1993 ngành Bưu điện đã xây dựng mạng truyền số liệu chuyển mạch gói gọi là
VIETPAC. Tuy phủ rộng 64 tỉnh thành trong cả nước nhưng việc xây dựng mạng
VIETPAC không đáp ứng được mọi nhu cầu liên quan đến việc truyền số liệu.
Do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và sự ra đời của nhiều loại hình dịch
vụ trên mạng, trong đó có sự phát triển nhanh chóng của internet cùng với các dịch trên
mạng này. Ngày 5 tháng 3 năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 21/CP
ban hành quy chế tạm thời về quản lý, thiết lập, sử dụng mạng internet Việt Nam và ký
quyết định số 136/TTg thành lập Ban điều phối quốc gia mạng internet ở Việt Nam.
Ban điều phối quốc gia mạng internet, Tổng cục Bưu điện cùng các cơ quan nhà
nước có liên quan đã ban hành nhiều văn bản quản lý các hoạt động cung cấp và sử dụng
internet, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để Việt Nam chính thức tham gia mạng Internet
toàn cầu. Ngày 14/11/1997 Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện đã ra Quyết định số
679/1997/QĐ-TCBĐ ban hành thể lệ dịch vụ internet nhằm quy định việc quản lý nhà
nước đối với mọi hoạt động kết nối, truy nhập, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet.
Ngày 19 tháng 11 năm 1997, Việt Nam đã chính thức khai trương dịch vụ

và 10 OSP (nhà cung cấp các dịch vụ ứng dụng trên internet). Chính Nghị định 55 đã cho
phép nhiều thành phần doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực internet, điều này
đã tạo động lực cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp phải năng động hơn trong cuộc chạy
đua chiếm lĩnh thị trường. Nghị định 55 ra đời cũng khởi nguồn cho một thời kỳ xã hội
hóa internet một cách sâu rộng, thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia, phát huy
vào nội lực sẵn có tham gia vào thị trường internet với hàng ngàn đại lý internet. Điều
này không chỉ góp phần làm tăng lượng người sử dụng internet 1,5 triệu người so với con
số 300.000 người năm 2000, mà còn giúp một số lượng người có thêm công ăn việc làm,
thêm thu nhập. Cũng từ đó, người dân có cơ hội tiếp cận với các công nghệ tiên tiến
thông qua internet. Đặc biệt nghị định 55 còn là tiền đề thúc đẩy việc ứng dụng internet
trong môi trường làm việc của hệ thống các cơ quan chính phủ, các ngành các cấp từ
Trung ương đến địa phương. Một số các chính sách quản lý nhà nước cũng đã được phổ
biến qua internet. Đó cũng là bước đệm để triển khai Chính phủ điện tử tại Việt Nam.
Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) hàng năm đều đưa ra đánh giá, xếp hạng
cho nền CNTT của 196 nước. Đánh giá dựa trên các thông số: Số lượng và mật độ điện
thoại, số điện thoại di động, số máy tính và số người dùng internet. Điều đáng mừng là
lần đầu tiên Việt Nam đã được đưa vào danh sách 53 nước, được xếp hạng sau ấn Độ,
Trung Quốc và Inđônêsia. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia CNTT, thời gian qua
CNTT nước ta phát triển khá nhanh nhưng chưa có chiến lược cụ thể, chính vì vậy, trong
năm 2003 Bộ Bưu chính Viễn thông (MPT) đã dốc sức để hình thành một phác thảo
chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
năm 2020 và trình Chính phủ trong quý 1/2004. Đối với dịch vụ viễn thông internet, Việt
Nam sẽ phát triển nhanh, đa dạng hóa các dịch vụ viễn thông và internet trên cơ sở hạ
tầng mạng lưới thông tin quốc gia tiên tiến. Tại Việt Nam, theo dự báo công nghệ thông
tin của các chuyên gia CNTT nhận định: Năm 2004 sẽ là năm bứt phá của ngành này
nhằm tiến kịp các nước phát triển, số lượng doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sử dụng
internet, xây dựng web side để trao đổi thông tin và ứng dụng các phần mềm ngày càng

Việc thám hiểm World Wide Web phải sử dụng một chương trình gọi là slient (máy
khách) phần mềm slient cung cấp giao thức truyền thông để phối ghép với các máy tính
chủ trên mạng, nó được cài đặt trong máy tính dùng để truy nhập. Máy chủ (server) cung
cấp các tài liệu mà máy khách yêu cầu, các máy chủ được kết nối với các máy khách và
máy chủ khác trên mạng cho nên mối quan hệ slient/ server tồn tại giữa người dùng, máy
khách và kết nối tới Web (tức máy chủ). Server internet mà khách hàng kết nối được tới
gọi là ISP (nhà cung cấp dịch vụ internet). Các ISP cung cấp truy nhập cho người dùng
tới internet và web theo cước phí hàng tháng hoặc hàng giờ. Một số các hệ thống bảng tin
BBS (Bulleti Board System) lớn hơn, thường được gọi là các dịch vụ thương mại trực
tuyến cũng cung cấp internet đầy đủ qua kết nối modem của khách hàng.
Các ứng dụng khách hàng/ máy chủ trên Internet
 Thư điện tử (E-mail)
 Truyền tệp (file transfer)
 Chat (đàm thoại)
 Dịch vụ nhóm tin (Use Net Newsgroup)
 Web (World Wide Web)
Tiện ích trên mạng toàn cầu này là rất lớn:
"INTERNET mang đến cho bạn hạ tầng kỹ thuật để giao dịch trên mạng (on
line). INTERNET là cấu trúc kỹ thuật giúp cho mọi người trên thế giới thu lợi khi thâm
nhập vào liên mạng toàn cầu" [16].
Người dùng trên khắp thế giới đều có thể truy nhập mạng này. Với giao thức liên
lạc chuẩn, nó cho phép truy cập đối với bất kỳ một loại máy tính nào, hệ điều hành gì,
kích cỡ máy ra sao, người dùng mạng này có thể trao đổi thư điện tử với một người khác
ở bất cứ đâu trên thế giới, và thư sẽ được chuyển đi ngay lập tức. Nó trợ giúp truyền
thông thời gian trực tuyến (real- time multimedia) cho phép mọi thành viên truy cập có
thể thực hiện hoạt động giao tiếp, kinh doanh hay học tập, quản lý một cách trực tiếp và
tức thời. Rõ ràng là các hoạt động trên internet rất phong phú và đa dạng, nó đã tạo nên

có những ảnh hưởng tích cực sâu sắc đến đời sống xã hội của Việt Nam nói chung và đặc
biệt là nhân dân Thủ đô.
Có thể thấy rất rõ là cùng với sự hỗ trợ của internet, tại Hà Nội, nhiều đề tài
nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ vào cuộc sống đã thành công và
thiết thực hơn. Nhiều sinh viên học sinh ham học hỏi đã thu lượm được nhiều kiến thức
bổ ích, tìm kiếm học bổng
Đến nay đã có 100% các trường phổ thông trung học, cao đẳng, đại học và nhiều
trường tiểu học, trung học cơ sở lắp đặt, sử dụng và đưa chương trình internet vào giảng
dạy. Cùng với hàng chục ngàn các đại lý và các điểm phục vụ internet trên cả nước, kể cả
nơi hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Thực tế sử dụng internet thời gian qua cho
thấy, internet ở Việt Nam còn có thể phát triển nhanh và mạnh hơn nữa, ảnh hưởng trực
tiếp và đóng góp to lớn vào phát triển kinh tế - văn hóa - chính trị của Việt Nam.

Chương 2
Thực trạng của việc sử dụng internet
ở Thủ đô Hà Nội

2.1. Tình hình chung
Theo báo cáo mới nhất của ITU về kết quả nghiên cứu tình hình sử dụng internet
trên toàn thế giới thì các nước Bắc âu dẫn đầu về truy cập internet. Thụy Điển đứng ở vị trí
thứ nhất, tiếp sau là Đan Mạch và Băng Đảo, Na Uy đứng thứ năm. Hàn Quốc là nước đứng
đầu thế giới về truy nhập băng rộng tốc độ cao và được xếp thứ tư về tỷ lệ người dùng
inetrnet. Vào nhóm 10 nước dẫn đầu còn có Hà Lan, Hồng Kông, Phần Lan, Đài Loan và
Canađa. Mỹ đứng thứ 11. Thực tế diễn biến cho thấy trong những năm gần đây (từ 1998
trở lại đây) châu á đã vượt lên trước và bỏ xa các nước nói tiếng anh. Cụ thể là Hàn Quốc
tăng nhanh nhất, đã tăng 20 bậc từ 1998 đến 2002.
Tình hình phát triển của internet của khu vực châu á - Thái Bình Dương và thế

internet công cộng ngay trong ngõ nhỏ, đến từng khu tập thể, ký túc xá (xem Phụ lục 4).
Nếu chỉ tính riêng tại địa bàn Thủ đô Hà Nội thì tỷ lệ người dân truy cập internet khoảng
35%. Vượt xa con số 10% trung bình trên cả nước mà chúng ta đang phấn đấu cho năm
2010. Điều đó nói lên rằng, Hà Nội là một địa bàn nóng bỏng đối với nhu cầu truy cập
internet và là một địa bàn được tiếp cận sớm nhất với loại dịch vụ này. Chính đặc điểm là
trung tâm kinh tế, văn hóa chính trị của cả nước nên Hà Nội cũng là địa bàn nhạy cảm
nhất đối với những ảnh hưởng của dịch vụ này mang lại.
2.2. Thực trạng việc sử dụng internet của một số nhóm xã hội
2.2.1. Vài nét khái quát về địa bàn nghiên cứu
Người viết đề tài đặc biệt quan tâm và lấy địa bàn ba quận: Thanh Xuân, Đống
Đa và Cầu Giấy làm khu vực khảo sát bởi tính tập trung và phong phú của khu vực. Địa
bàn ba quận này tập trung khá nhiều trường Đại học và các cơ quan Trung ương, ở đây
tập trung nhiều trường Đại học gồm: Đại học Quốc gia, Đại học Kiến trúc, Đại học Sư
phạm, Đại học Ngoại ngữ, Phân viện Báo chí tuyên truyền, Đại học Luật, Đại học Giao
thông vận tải, Đại học Ngoại thương, Học viện Quan hệ quốc tế, Học viện Quốc phòng,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Việt nam, Học viện Công
nghệ Bưu chính Viễn thông, Trường Cao đẳng Sư phạm mẫu giáo Trung ương1…
Đặc trưng lớn nhất của địa bàn là tính tập trung theo cụm của các cửa hàng dịch
vụ internet, các trường đại học, các cơ quan, trường học
Cụm 1: Bao gồm 8 cửa hàng liền nhau nằm ngay trên mặt phố Nghĩa Tân thuộc
dẫy nhà A11, A14 và nhà C1, 3 cửa hàng nằm trên đường Nguyễn Phong Sắc.
Cụm 2: Gồm 5 cửa hàng nằm trên đường Xuân Thủy số 185; 187; 203; 205 (nằm
ngay trước cổng trường Nguyễn Tất Thành và Đại học Sư phạm Hà Nội) và 2 cửa hàng
cũng nằm trên đường Xuân Thủy (số 4 và số 8).
Cụm 3: Gồm 6 cửa hàng nằm trong khuôn viên của trường Đại học Quốc gia gần
khu ký túc xá sinh viên và trường phổ thông trung học chuyên ngữ thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội theo địa chỉ số 1/A1; 3/A2; 6A2; 1A6; 1A8.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status