ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ SINH RA TRONG GIA ĐÌNH KHUYẾT THIẾU CHỈ CÓ MẸ - Pdf 14

Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
Mục lục
Họ và tên: Vũ Thị Phi Yến
Mã số sv: 08031403
Ngày sinh: 08/3/1990
Bài tiểu luận cuối kì
Môn: Xã hội học văn hoá
Gv: TS. Mai Thị Kim Thanh
Đề tài:
ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ
SINH RA TRONG GIA ĐÌNH KHUYẾT THIẾU CHỈ CÓ MẸ
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 1
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
I . MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong lịch sử phát triển của gia đình vừa là một đơn vị kinh tế, vừa là cái nôi
đầu tiên và suốt đời nuôi dưỡng, giáo dục con người duy trì và phát triển ở họ
những quan hệ tình cảm đặc biệt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cùng với thiết chế
giáo dục, gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc xã hội hóa con người, từ con
người sinh vật thành con người xã hội. Sự hình thành những chuẩn mực và định
hướng giá trị tốt đẹp của gia đình không chỉ củng cố các mối quan hệ trong gia đình
mà còn kiến tạo môi trường xã hội thuận lợi cho mỗi cá nhân được phát triển hài
hòa và toàn diện.
Một gia đình hoàn thiện, hòa thuận, hạnh phúc và mọi người cùng thương
yêu, đùm bọc lẫn nhau là mơ ước của tất cả mọi người khi sinh ra và lớn lên trên
cõi đời này. Tuy nhiên, cuộc sống không phải lúc nào cũng được như chúng ta
mong muốn, nhất là trong điều kiện xã hội luôn thay đổi như hiện nay. Vì vậy trong
xã hội, bên cạnh những gia đình hoàn thiện đầy đủ thì cũng tồn tại không ít những
gia đình khuyết thiếu do nhiều nguyên nhân khác nhau như cha hoặc mẹ mất, cha
hoặc mẹ ly hôn, hoặc sinh con ngoài giá thú
Trong một đất nước vốn từ rất lâu đã mang nặng dấu ấn của Nho giáo như

Ở nước ta, càng ngày càng xuất hiện nhiều đề tài nghiên cứu về gia đình với
các khía cạnh của của nó, trong đó có hiện tượng ly hôn. Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu về những tổn thương tâm lý của trẻ trong các gia đình ly hôn và ảnh
hưởng của nó tới sự phát triển nhân cách của trẻ trong các gia đình thì chưa nhiều.
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 3
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
Đặc biệt là những trường hợp sinh con ngoài giá thú thì hầu như không có nghiên
cứu nào. Ta có thể kể ra một số công trình tiêu biểu sau:
TS. Văn Thị Kim Cúc (chủ biên), Những tổn thương tâm lý của thiếu niên do
bố mẹ ly hôn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội – 2003. Đây là một công trình
nghiên cứu khá toàn đề cập đến nhiều mặt của hiện tượng ly hôn. Cuốn sách gồm
hai phần: phần thứ nhất trình bày những vấn đề chung nhất về tình hình ly hôn
trong nước cũng như trên thế giới, các đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng của thiếu
niên từ 10-17 tuổi – Đây là cơ sở để tham chiếu khi phân tích các đặc điểm phát
triển tâm lý của các em có bố mẹ ly hôn. Và các tổn thương tâm lý thường gặp ở
tuổi thiếu niên như tổn thương về tình cảm, cảm xúc, niềm tin, nhận thức và hành
vi. Và trọng tâm của cuốn sách là phần thứ hai trình bày kết quả nghiên cứu thực
tiễn về các tổn thương tâm lý của thiếu niên (ở trong độ tuổi từ 10-15 tuổi) do bố
mẹ ly hôn như: ảnh hưởng của ly hôn lên đời sống nhận thức và tình cảm, tới hành
vi ứng xử hàng ngày, tới sự tự đánh giá bản thân, tới việc hình thành các chiến lược
đối phó với hoàn cảnh khó khăn của trẻ qua so sánh với những trẻ có bố mẹ chung
sống bình thường. Cuối phần hai, các tác giả của cuốn sách trình bày hai trường hợp
cụ thể về trẻ có bố mẹ ly hôn. Và cuối cùng đưa ra một số kiến nghị với các cấp có
thẩm quyền, với những người làm bố, làm mẹ nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa,
cân bằng tối ưu cho trẻ phải chịu hoàn cảnh bố mẹ ly hôn.
G.S Gerard Poussin (Nguyễn Văn Sự dịch), Khi cha mẹ chia tay, tâm lý học
gia đình, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội – 2003. Nội dung cuốn sách nói về quan hệ
giữa cha mẹ và con cái khi ly hôn, tâm lý của trẻ em có cha mẹ ly hôn qua các giai
đoạn cụ thể như: khi còn bú, từ 2-3 tuổi, từ 3-6 tuổi, trong thời kỳ tiềm ẩn và tuổi
thiếu niên, ví trí của trẻ em mối quan hệ với gia đình. Đồng thời cũng đề xuất việc

- Nguyễn Thị Minh Hằng, Một số đặc điểm tâm lý của trẻ em có cha mẹ ly
hôn, Tạp chí Tâm lý học số 2, 2003, tr. 27-32. Bài viết nói về đặc điểm tâm lý
chung của những đứa trẻ trong các gia đình có bố mẹ ly hôn dưới góc độ lứa tuổi và
giới tính. Những đặc điểm đó biểu hiện khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau và cũng
khác nhau giữa các em nam và nữ. Đồng thời cũng chỉ ra những khó khăn của trẻ
trong quá trình thích ứng tâm lý - xã hội: khó khăn trong học tập, trong việc thích
nghi với hoàn cảnh sống mới, khó khăn trong các mối quan hệ xã hội (đặc biệt là
trong quan hệ bạn bè. Chúng cảm thấy vị thế của mình trong nhóm không còn như
trước nữa. Ở các em sinh ra tâm lý mặc cảm, tự ti, ngại tiếp xúc với bạn bè, có xu
hướng co mình lại hoặc chỉ thích chơi với một nhóm nhỏ hai người).
- Nguyễn Thị Minh Hằng, Nghiên cứu tâm lý trẻ em có bố mẹ ly hôn bằng
trắc nghiệm vẽ tranh gia đình, Tạp chí Tâm lý học số 11(104), 2007, tr. 33-40. Qua
việc phân tích các bức tranh (của 99 trẻ từ 6-10 tuổi có bố mẹ ly hôn và 92 trẻ bình
thường để so sánh) bài viết đã đưa ra một số kết luận và cũng là một số đặc điểm
tâm lý của trẻ em có bố mẹ ly hôn như sau:
+ Trẻ em trong các gia đình đó thể hiện mong ước, khát khao tình yêu thương
của bố mẹ. Trẻ em có những biểu hiện thiếu hụt tình cảm đối với bố mẹ, biểu hiện ở
chỗ không thích nghi tâm lý đối với sự vắng mặt của bố hoặc mẹ, hoặc cả hai người
trong cuộc sống.
+ Trẻ em trong các gia đình đó tồn tại hai xu hướng trong quan hệ với cha
mẹ: trẻ vừa dành nhiều tình cảm cho mẹ vừa thể hiện sự khao khát tình cảm của
người bố hoặc mẹ vắng mặt của mình.
+ Thường bộc lộ tâm trạng buồn, u uất, mặc cảm, tự ti, có khi là ức chế.
+ Có biểu hiện khó khăn trong quá trình đồng nhất hóa do sự vắng mặt lâu
ngày của người bố hay mẹ cùng giới với mình.
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 6
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
Nhìn chung các tác phẩm, các công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học
cũng như các bài viết trên các báo, tạp chí đã phần nào nghiên cứu về những đặc
điểm tâm lý của trẻ em trong các gia đình khuyết thiếu. Nhìn chung các công trình

Dư luận xã hội: Thuật ngữ này được nhà văn ,nhà hoạt động nhà nước người
Anh J.Solsbery sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ 12. Tuy nhiên, chính Rousseau mới
được coi là người đầu tiên sử dụng nó vào năm 1744 theo nghĩa hiện đại khi ông là
bộ Trưởng Bộ ngoại giao Pháp. Trong tiếng Việt, thuật ngữ Dư luận xã hội còn
được gọi theo những cách khác bằng những thuật ngữ tương đương như công luận,
dư luận công chúng, ý kiến công luận, ý kiến quần chúng…Thuật ngữ này sử dụng
nhiều trong đời sống xã hội, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, và trong
một số ngành khoa học cũng như chính trị học, triết học và trong tâm lý học xã
hội… Tuy nhiên, cho dù được sử dụng khá phổ biến, nhưng khái niệm này lại
không có nội dung xác định, không có một ý nghĩa thống nhất. Chính vì vậy, có
những trường hợp cả hai nhóm ủng hộ và phản đối một vấn đề gì đấy thì được nói
rằng Dư luận xã hội đứng về phía họ. Nói cách khác, trong nhiều lĩnh vực, người ta
sử dụng khái niệm Dư luận xã hội như một thói quen, mà không có định nghĩa cụ
thể về nó.
Hiểu một cách chung nhất Dư luận xã hội chính là ý kiến còn lại sau quá
trình thảo luận, trao đổi trong xã hội. Nói cách khác, nó là kết quả của quá trình
thảo luận xã hội. Quá trình thảo luận dài hay ngắn và theo hình thức nào tùy theo
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 8
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội và đặc điểm văn hoá và tính thuần nhất của mỗi
quốc gia.
Trong giới hạn của bài tiểu luận này tôi xin được sử dụng khái niệm dư luận
theo nghĩa là các phán xét của xã hội về một hiện tượng nào đó, mà cụ thể là hiện
tượng trẻ trong gia đình chỉ có mẹ.
Kỳ thị: là một quá trình làm giảm giá trị của một cá nhân dưới mắt của người
khác. Trong một nền văn hóa hoặc một bối cảnh nào đó, một số đặt tính nhất định bị
người khác để ý và coi là đáng xấu hổ hoặc đáng bị coi thường. Khi kỳ thị được thể
hiện hành động thì đó là phân biệt đối xử.
1.2 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài
- Xã hội học gia đình: là một nhánh của xã hội học chuyên biệt; xã hội học

và hãy coi chừng, chính nó đang dắt dẫn lịch sử!
- Hành động xã hội là hành vi mà chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan
nhất định. Trong ngành xã hội học, hành động xã hội (tiếng Anh: Social actions) là
một hình thức hoặc cách thức giải quyết các mâu thuẫn hay các vấn ðề xã hội. Hành
ðộng xã hội ðýợc tạo ra bởi các phong trào xã hội, các tổ chức, các ðảng phái chính
trị, v.v Thực chất, hành ðộng xã hội là sự trao ðổi trực tiếp giữa các cá nhân với
nhau cũng nhý các khuôn mẫu quan hệ ðã ðýợc cấu trúc hóa bên trên các nhóm, tổ
chức, thiết chế và xã hội. Một thực tế có thể quan sát ðýợc trong mọi tình huống cá
nhân và công cộng hàng ngày là hành ðộng xã hội của con ngýời diễn ra theo những
quy tắc nhất ðịnh và trong những hình thái nhất ðịnh, những quy tắc và hình thái
này có một sứ bất biến týõng ðối. Hành ðộng xã hội là cốt lõi của mối quan
hệ giữa con ngýời với xã hội, ðồng thời là cõ sở của ðời sống xã hội của con ngýời.
Hành ðộng xã hội mang một ý nghĩa bao trùm tổng thể các mối quan hệ xã hội.
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 10
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
- Thuyết gán nhãn: Lý thuyết gán nhãn hiệu (tiếng Anh: Labeling Theory) là
một lý thuyết xã hội học nghiên cứu hành vi ứng xử của con người theo phương
pháp phân tích tương tác biểu tượng qua đó khẳng định hành vi tuân thủ hay lệch
lạc của một người là do kết quả của quá trình người khác xác định hay gán nhãn
hiệu. Lý thuyết này nhấn mạnh đến tính tương đối trong việc đánh giá hành vi lệch
lạc, cùng một hành vi có thể định nghĩa khác nhau trong các tình huống khác nhau.
Người đưa ra những quan điểm và phân tích có tính chất nền móng cho lý thuyết
gán nhãn hiệu là nhà xã hội học nổi tiếng ngườiMỹ George Herbert Mead (1863 -
1931) Người đã có công định hình và phổ biến lý thuyết gán nhãn hiệu là nhà xã
hội học người Mỹ Howard Becker (1928). Lý thuyết gán nhãn hiệu đã cho thấy
nguồn gốc của sự lệch lạc trong phản ứng của người khác, nó cũng đưa ra lý giải
thuyết phục cho việc một hành vi ở người này bị xem là lệch lạc trong khi hành vi
tương tự ở người khác thì lại không. Thông qua sự phát triển của các ý niệm lệch
lạc sơ cấp, lệch lạc thứ cấp, vết nhơ và lệch lạc chuyên nghiệp, thuyết này đã chứng
minh rằng nhãn hiệu lệch lạc có thể kết hợp vào sự tự nhận thức bản thân của người

không nhỏ đến những đặc điểm tâm lý của mỗi thành viên trong gia đình đó đặc
biệt là đối với những đứa con khi mà chúng mất đi một chỗ dựa vững chắc nhất.
Những gia đình này cha mất có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như: có
thể là do tai nạn, ốm đau, bệnh tật, bỏ đi không rõ lý do nhưng không ly hôn vì vậy
trên danh nghĩa thì đứa con vẫn có cả bố và mẹ nhưng trên thực tế thì chỉ sống với
mẹ và cũng có trường hợp là do tự tử.
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 12
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
Trong những gia đình này dù người cha mất vì nguyên nhân nào đi chăng nữa
thì cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định đến những thành viên trong gia đình, họ
hàng và đặc biệt là những đứa trẻ đã từng sinh ra và lớn lên dưới mái ấm gia đình
đó. Nhìn chung, trong tất cả những trường hợp đó khi người cha không còn nữa thì
tất cả những đứa con đều chịu sự thiếu thốn về tình cảm cũng như sự dạy dỗ của
người cha. Tuy nhiên trong từng hoàn cảnh cụ thể thì mỗi trẻ một sẽ có những
những biểu hiện tâm lý, thái độ tình cảm cũng như những hành động khác nhau.
Với những đứa trẻ trong các gia đình mà cha mất vì lý do tai nạn, ốm đau,
bệnh tật thì trẻ ít bị tổn thương hơn. Thông thường, trong trường hợp này trẻ đã có
cả một quá trình để chuẩn bị tâm lý cho sự thiếu đi tình cảm của người cha nên ít
ảnh hưởng đến tâm lý hơn và thời gian ảnh hưởng cũng không kéo dài lắm. Tuy
nhiên cũng có sự khác nhau giữa những trẻ đó.
Có những đứa trẻ bề ngoài thì tỏ ra lãnh đạm, lầm lì, ít nói, ngại tiếp xúc với
mọi người hơn, thường cố che giấu tình cảm của mình để tránh sự thương hại của
mọi người. Trong mọi hành động của mình chúng thường tỏ ra tự lập, quyết đoán
không muốn nhờ vào sự giúp đỡ của những người xung quanh. Nhưng trong thâm
tâm thì cảm thấy đau khổ, dằn vặt hơn. Vì có những điều mà khi sống cùng nhau
chúng ta không nhận ra và chỉ khi có sự chia ly, mất mát thì mới nhận ra những ý
nghĩa đích thực của nó. Chính vì vậy, có nhiều đứa trẻ đã cảm thấy đau khổ hơn vì
trước đó đã làm cho cha mẹ mình không vui, phải bận tâm và không hài lòng. Đó có
thể chỉ là những hành động cử chỉ rất bình thường không đến mức gây ra những hậu
quả nghiêm trọng như có lần không nghe lời cha mẹ, phàn nàn về những điều mà bố

Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 14
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
một số bệnh xã hội như stress, trầm cảm; hoặc là cách sống buông thả, bất cần đời,
xu hướng trở thành những người xấu, tội phạm xã hội là trường hợp không thiếu
trong xã hội hiện nay Cũng không thể nói rằng, tất cả những đứa trẻ lớn lên trong
gia đình có bố mẹ ly hôn đều hư hỏng, sống trong trạng thái tâm lý tổn thương,…
tùy thuộc vào sự quan tâm giáo dục từ cha mẹ, gia đình và xã hội, cùng với nhận
thức từ bản thân mình, các em vẫn có thể phát triển toàn diện về thể chất và tinh
thần như bao đứa trẻ khác.
Như vậy từ người lớn đến trẻ em, tác động của ly hôn tới đời sống tình cảm
là không nhỏ, và những điều kiện để cho sự phát triển bình thường đã bị xáo trộn
làm cho cái tôi của trẻ chưa kịp trưởng thành đã vấp phải những trở ngại.
Trẻ em, thanh thiếu niên là độ tuổi đang trong quá trình hình thành nhân cách
cần phải được giáo dục chặt chẽ, cần sự yêu thương chăm sóc từ cả cha lẫn mẹ.
Những đứa trẻ trong gia đình ly hôn, ngoài việc phải biết học hành chúng còn phải
chịu những tác động trái chiều từ gia đình và xã hội. Tùy vào nhận thức, bản lĩnh
của từng đứa trẻ mà sự hình thành và phát triển nhân cách của chúng khác nhau.
Người cha trong gia đình là người có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành
nhân cách, tâm sinh lý của những đứa con trong gia đình. Khi ly hôn, những đứa bé
còn quá nhỏ thì thường theo mẹ, lớn hơn một chút thì dựa vào điều kiện của cha
hoặc mẹ mà theo cha hoặc mẹ (phần lớn là theo mẹ), lớn hơn thì đứa trẻ có thể tự
lựa chọn theo cha hoặc mẹ. Tùy vào tình cảm của đứa con với cha mẹ mà sau khi
cha mẹ ly hôn thì chúng sẽ lựa chọn theo cha hoặc mẹ. Trong bài nghiên cứu này,
tôi chỉ xét đến trường hợp, sau khi ly hôn đứa trẻ được ở với mẹ.
Với vấn đề ly hôn có nhiều nguyên nhân để từ đó nảy sinh thái độ, tình cảm
và ứng xử của những đứa con trong quá trình phát triển thể chất và tinh thần của
chúng.
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 15
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
- Thứ nhất: Ly hôn do hai người nhận thấy không hợp, cuộc sống hôn nhân

ngoại tình là mẹ, sau ly hôn, đứa trẻ ở với mẹ thì tâm lý của chúng lại
khác. Thông thường chúng có tâm lý coi thường, thiếu tôn trọng người mẹ
và thương người cha nhiều hơn, Nhiều trường hợp do mẹ ly hôn, đứa
con mà nhất là con gái thường có hai chiều hướng hoặc là sống hoàn thiện
mình, hành động và ứng xử đúng, có phẩm chất đạo đức, Nhưng ngược
lại, cũng không ít những trường hợp đứa con sống buông thả, bất cần, lao
theo vòng xoáy cuộc đời, trở thành những người xấu, hoặc một số trở
thành tội phạm xã hội.
- Thứ ba: ly hôn do sức ép của dòng tộc họ nội khi mà vấn đề trọng nam
khinh nữ, coi trọng con trai vẫn còn tồn tại trong một số gia đình. Trường
hợp này, thường cha mẹ vẫn còn tình cảm với nhau nhưng vì sức ép đó, họ
buộc lòng phải đi tới ly hôn và thường thì đứa con gái sẽ ở với mẹ. Ở đây,
đứa trẻ đó vẫn giữ thái độ tôn trọng với cha mẹ chúng, vẫn ứng xử tốt với
cộng đồng nhưng với gia đình họ nội thì thái độ của chúng thường là căm
ghét, không tôn trọng. Ngoài ra, cũng nằm trong nội dung này còn ly hôn
do bản thân người bố mang nặng tư tưởng về người con trai nối dõi theo
tư tưởng: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” mà hai vợ chồng không có
con trai nên người chồng đi ngoại tình để có con trai. Nếu đứa con gái
hiểu được cho cha mình và có sự dung hòa của người mẹ, đứa trẻ vẫn có
thể giữ lòng tôn trọng với người cha, nhưng ngược lại khi đứa trẻ đó
không hiểu, cộng với những lời nói mạt sát, cay độc từ người mẹ dành cho
người cha của đứa bé thì sẽ khiến đứa bé sẽ có những phản ứng tiêu cực
đối với người cha, dù cho người cha đó có quan tâm và lo lắng cho chúng.
- Thứ tư: Ly hôn do vấn đề bạo lực gia đình. Thông thường, bạo lực gia
đình thường đến từ người chồng. Người chồng đó có thể do rượu chè, cờ
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 17
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
bạc đánh đập người vợ… nên dẫn đến ly hôn. Trường hợp này, người con
thường có tâm lý ám ảnh, chán nản, nhất là với người con gái, dễ gây cảm
giác sợ hãi, sống khép kín, không dám mở lòng đón nhận những tình cảm

trường hợp cha mất, hoặc cha mẹ ly hôn thường chịu nhiều áp lực tâm lý từ dư luận
xã hội nhiều hơn. Bản thân những đứa trẻ đó nhận thức được hoàn cảnh của mình,
song trước dư luận xã hội mỗi đứa trẻ sẽ phản ứng theo các thái độ khác nhau. Có
những trẻ sẽ chống đối lại các dư luận bằng cách biến mình trở thành trẻ xấu, cũng
có trẻ sẽ chấp nhận dư luận xã hội, song cũng có trẻ chọn cách đấu tranh với những
dư luận xã hội đó.
Với những trẻ chọn cách thứ nhất, chúng thường có những biểu hiện chống
đối với những người xung quanh thậm chí với cả những người thân trong gia đình,
theo tâm lý bị “gán nhãn”. Bản thân chúng nghĩ rắng dù có cố gắng thì xã hội vẫn
coi chúng là những đứa trẻ không cha, không được dạy dỗ và giáo dục như những
đứa trẻ bình thường. Chúng có thể có những hành động như bỏ học, mải chơi, đua
đòi, và dễ vướng vào các tệ nạn xã hội… Như trường hợp anh Lữ Văn Hoan (27
tuổi, Bắc Giang), mặc dù đã ở vào độ tuổi trưởng thành nhưng vẫn ham chơi, hơn
nữa còn tự cho mình là đàn anh khi đầu xanh đầu đỏ phóng xe vèo vèo quanh xóm,
bỏ ngoài tai sự la mắng của mẹ và những người xung quanh.
Khi được sự can thiệp của gia đình chúng thường kháng cự và tỏ thái độ bất
cần, thậm chí còn mắng chửi, và sỉ nhục nặng tiếng.
Với những đứa trẻ lựa chọn cách thứ hai, là những đứa trẻ thường chấp nhận
và bỏ ngoài tai các điều tiếng từ dư luận nhưng chúng cũng không có sự phấn đấu
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 19
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
của riêng mình trước dư luận. Những đứa trẻ như vậy, thường chọn lối sống khép
kín, ít tiếp xúc với những người xung quanh và thu mình vào trong không gian của
riêng mình, bàng quang trước mọi sự kể cả sự quan tâm của những người thân trong
gia đình. Chúng thường rất dễ mắc phải căn bệnh tự kỷ.
Với những đứa trẻ lựa chọn cách thứ ba thường là những đứa trẻ có ý thức
cao, chúng không chỉ nhận thức được hoàn cảnh của mình, hiểu được những đánh
giá của xã hội mà còn tự phấn đấu vượt qua những tác động đó, để xóa đi những
định kiến của xã hội về mình. Chúng thường phải đối đầu với cuộc sống, nhưng
chính những khó khăn khó sẽ giúp chúng có được những kinh nghiệm trong cuộc

3
Bùi Thị Chãm 22 Kế toán Hýng Yên
4
Bùi Thị Hiền 16 Ở nhà Hýng Yên
5
Nguyễn Vãn Khánh 21 Ði làm Lào Cai
6
Bùi Thị Nguyệt 11 Học sinh Hýng Yên
7
Trần Hùng Cýờng 24 Sinh viên Hýng Yên
8
Lữ Vãn Hoan 26 Ở nhà Bắc Giang
9
Vi Hải Yến 21 Sinh viên Thái Nguyên
Chương 3 Đời sống văn hoá của trẻ sinh ra trong gia đình
khuyết thiếu chỉ có mẹ.
1. Những tác động của dư luận xã hội:
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 21
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
Ngay từ xa xưa, cha ông ta có câu “Con không cha như nhà không nóc” để
ám chỉ rằng những đứa trẻ sinh ra mà không có cha, sẽ không được che chở và dạy
dỗ, giống như ngôi nhà không nóc, sẽ không vượt qua nổi những thách thức của
cuộc sống. Dư luận xã hội với từng trường hợp cũng không giống nhau, thậm chí
với cùng một trường hợp cũng khác nhau.
Trong những trường hợp mà bố chết vì bệnh tật bình thường hoặc tai nạn thì
dư luận xã hội có thể nói là nhẹ nhàng hơn rất nhiều so với trường hợp bố mất do tự
tử hoặc những căn bệnh xã hội.
Những trường hợp mà bố mất do bệnh tật hoặc tai nạn thì thường những đứa
trẻ và gia đình của người đã mất hay nhận được sự quan tâm nhiều hơn là sự kì thị.
Mọi người quan tâm hơn, thương cảm nhiều hơn hay có những hoạt động giúp đỡ

do mâu thuẫn trong gia đình (chủ yếu là về kinh tế). Khi nói chuyện, bạn bảo trước
mặt mình thì họ (làng xóm, bạn bè cùng lớp cũng như bạn bè từ thời nối khố) vẫn
động viên an ủi mình cố gắng học tập và phải sống tốt hơn vì cuộc sống vẫn còn
nhiều điều tốt đẹp ở phía trước. Họ nói “dù sao mọi chuyện cũng đã xảy ra rồi có
đau buồn cũng chẳng thay đổi được hoàn cảnh và cũng chẳng giải quyết được việc
gì. Điều quan trọng nhất bây giờ là mày phải tập trung vào học để sau này mới có
cơ hội để thay đổi cuộc sống của mình”. Nhưng sau lưng mình thì họ lại bàn tán thì
thầm to nhỏ rằng: “bố mẹ nó thế thì chắc nó cũng chẳng hơn gì đâu “rau nào sâu
ấy” mà” hoặc những câu như “mẹ nó như thế đứa nào sau này mà làm con dâu
nhà ấy thì cũng khốn khổ”, “may mà trong gia đình mình mẹ mình không như vậy.
Chứ nếu không chắc mình sẽ không dám đi học nữa vì xấu hổ, nhục nhã với bạn bè
và bà con làng xóm” – Cường kể lại. Trước những lời bàn tán đó, bạn tâm sự:
“nhiều lúc thấy bạn bè và hàng xóm nói như vậy, mình rất buồn và rất giận mẹ và
chị gái. mình chỉ mong muốn có một gia đình hạnh phúc thôi. Mình sẽ cố gắng
nhiều hơn nữa để mọi người phải thay đổi cách nhìn về mình”.
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 23
Vũ Thị Phi Yến – k53 Lịch sử văn hoá
Còn trường hợp những đứa trẻ trong gia đình có bố mẹ ly hôn thì cũng có
nhiều quan điểm khác nhau
Trường hợp bạn Nguyễn Văn Khánh ở Bảo Yên – Lào Cai – bố mẹ ly hôn do
không hợp nhau, mâu thuẫn tồn tại, không thể giải quyết bằng tình cảm, và chia tay.
Bạn có chia sẻ rằng, bố mẹ chia tay, bạn thấy tổn thương, bạn còn nói: “Tao cũng
chán, mày nghĩ xem, bố mẹ tao không yêu nhau mới bỏ nhau, tao thấy tao cũng chỉ
là vật không mong muốn, thế thì phấn đấu làm gì?…Bây giờ, tao ở với mẹ nhưng
tao là con trai, bố tao cũng vẫn qua lại nhưng chỉ vì sợ khi ông ấy chết không ai
chống gậy, chứ có yêu thương gì đâu?”. Như vậy, chính trong nhận thức của bạn đã
tồn tại những tư tưởng bất cần, buông xuôi, chấp nhận cái gọi là “An bài số phận”
và trong lời nói của bạn đi kèm với sự thách thức rằng… “ông ấy chết ai chống
gậy”.
Trong khi đó, cũng có nhiều trẻ không vì những dư luận đó mà buông xuôi,

Khó khăn nhất vẫn là những đứa trẻ sinh ngoài giá thú, chúng tuy không chịu
nỗi đau mất mát, nhưng lại chịu rất nhiều sự kỳ thị từ xã hội, vì nguồn gốc không rõ
ràng của mình. Trường hợp bạn Vi Hải Yến (21 tuổi, Thái Nguyên). Sinh ra trong
gia đình chỉ có mẹ và được gia đình ngoại bao bọc, mẹ Yến cũng rất vất vả để nuôi
con một mình. Yến có biết về cha qua mẹ và những người thân trong gia đình cũng
như những người xung quanh. Bởi câu chuyện tình cảm giữa cha và mẹ Yến, hầu
như trong làng ai cũng biết và thông cảm. Ngoài những người thân trong gia đình,
Yến cũng được rất nhiều người trong làng quan tâm và yêu thương. Cứ ngỡ ai cũng
giống như những người xung quanh, khi đi học, Yến không mấy ngại ngùng kể về
Đời sống văn hoá của những đứa trẻ trong gia đình khuyết thiếu chỉ có mẹ Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status