Quan hệ tương tác giữa điều kiện tự nhiên với đời sống văn hóa của cư dân làng Việt cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội - Pdf 25


Đại học quốc gia Hà nội
Viện việt nam học và khoa học phát triển
Nguyễn Thị Phương Anh
Quan hệ tương tác giữa điều kiện tự nhiên với đời sống văn hoá
của cư dân làng việt cổ đường lâm, thị xã sơn tây, Hà Nội. Luận văn thạc sĩ


Mã số: 603160
Luận văn thạc sĩ việt nam học Người hướng dẫn khoa học:

GS.TSKH Vũ Minh Giang Hà nội, 2008 i

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn 2

3.1.1.3. Ăn trầu, hút thuốc 68

ii
3.1.1.4. Thuốc và phƣơng thức chữa bệnh cổ truyền 69
3.1.2. Trang phục 70
3.1.3. Nhà ở 72
3.1.4. Đi lại 77
3.2 VĂN HOÁ QUY PHẠM 77
3.2.1 Phong tục tập quán theo chu trình đời ngƣời 77
3.2.1.1 Sinh đẻ 77
3.2.1.2 Hôn nhân 79
3.2.1.3 Tang ma 81
3.2.2 Các lễ tết và lễ hội trong năm 84
3.3. VĂN HOÁ TÂM LINH 85
3.3.1 Tín ngƣờng thờ Nhiên thần 86
3.3.1.1 Tín ngƣỡng thờ cúng Thành hoàng (Tản Viên Sơn Thánh) 86
3.3.1.2 Tín ngƣỡng thờ thần linh bản thổ 89
3.3.1.3 Một số tín ngƣỡng thờ cúng của cƣ dân nông nghiệp 90
3.3.2 Tín ngƣờng thờ Nhân thần 91
3.3.2.1 Tín ngƣỡng thờ cúng các vị Anh hùng 92
3.3.2.2 Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên 95
3.3.2.3. Tín ngƣỡng thờ cúng Mẫu (Bà chúa Mía) 98
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107 iii
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trên thế giới, ít nơi nào làng lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cấu trúc
xã hội nhƣ ở Việt Nam. Làng là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc, là
một bức tranh vừa đồng nhất vừa đa dạng của xã hội Việt Nam trong suốt chiều dài
lịch sử dân tộc. Văn hoá làng xã chính là cái hồn của nền văn hoá Việt Nam.
Trong hệ thống làng Bắc Bộ, Đƣờng Lâm đƣợc biết đến là một vùng đất cổ,
mang cảnh quan của vùng trung du bán sơn địa với những đồi gò đá ong thấp, những
“rộc” sâu, những ruộng ven sông với địa hình rất đa dạng, phong phú.
Xã Đƣờng Lâm hiện nay bao gồm 9 thôn: Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh,
Cam Lâm, Đoài Giáp, Văn Miếu, Phụ Khang, Hà Tân, và Hƣng Thịnh. Nơi đây
không chỉ là mảnh đất “địa linh” sinh “nhân kiệt” mà còn là một địa chỉ văn hoá đặc
sắc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu tìm hiểu tập quán cƣ trú của cộng
đồng cƣ dân nông nghiệp cổ.
Đƣờng Lâm, quê hƣơng của hai vua Phùng Hƣng và Ngô Quyền, là không
gian còn lƣu giữ rất nhiều đặc trƣng của làng Việt truyền thống với cơ cấu tổ chức
làng xã khá đậm nét, những quần thể di tích kiến trúc cổ khá nguyên vẹn và nhiều tập
tục phản ánh lối sống của ngƣời xƣa. Đƣờng Lâm cần đƣợc nghiên cứu từ nhiều góc
độ, nhƣng nghiên cứu tổng hợp theo hƣớng tiếp cận khu vực học để có đƣợc những
nhận thức tổng hợp là một đề tài khoa học có ý nghĩa.
Trong thời gian gần đây, đƣợc tham gia chƣơng trình điều tra văn hoá phi vật
thể ở Đƣờng Lâm, tôi có dịp thâm nhập và tìm hiểu sơ bộ về đời sống văn hoá ở đây
và thấy rằng, để tiến tới nhận thức khoa học tổng hợp, trƣớc hết cần tìm hiểu mối
quan hệ tƣơng tác giữa điều kiện tự nhiên và đời sống văn hoá để lý giải những đặc
trƣng văn hoá của làng Việt cổ Đƣờng Lâm.
Với ý nghĩa đó “Tƣơng tác” giữa điều kiện tự nhiên với đời sống văn hoá của
cƣ dân làng Việt cổ Đƣờng Lâm có thể đƣợc hiểu là không phải đi sâu trình bày về

kiện tự nhiên với đời sống văn hoá của cƣ dân làng Việt cổ Đƣờng Lâm không chỉ có
ý nghĩa khoa học mà còn là một đề tài có tính thực tiễn cấp thiết.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đặc trƣng văn hoá làng là nghiên cứu những sáng tạo của con
ngƣời trong quá trình ứng xử với điều kiện tự nhiên, môi trƣờng xã hội và hoàn cảnh
lịch sử, trong đó, trƣớc hết là ứng xử của con ngƣời với điều kiện tự nhiên. Quan hệ
tƣơng tác giữa con ngƣời và điều kiện tự nhiên là nhân tố cơ bản tạo nên đặc trƣng

3
văn hoá. Chính vì vậy, muốn hiểu sâu sắc những đặc trƣng của một không gian văn
hoá nào đó không thể không nghiên cứu những điều kiện tự nhiên và tác động qua lại
của nó với cuộc sống của cƣ dân.
Bƣớc đầu tìm hiểu và nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là những nhân tố
có tác động mạnh và trực tiếp đến đời sống văn hoá của cƣ dân của làng Đƣờng Lâm .
Chỉ ra những mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên với đời sống văn hoá của cƣ dân
làng Việt cổ Đƣờng Lâm.
Đề tài luận văn của chúng tôi chọn làng Việt cổ Đƣờng Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà
Tây (nay là Hà Nội) là một khu vực làm đối tƣợng nghiên cứu.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một làng còn lƣu giữ rất nhiều đặc trƣng của làng Việt truyền thống,
Đƣờng Lâm đã và đang đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và
ngoài nƣớc.
Trƣớc năm 1990 đã có một số công trình nghiên cứu về làng cổ Đƣờng Lâm.
Công trình đầu tiên phải kể đến là “Mông Phụ một làng ở đồng bằng sông Hồng” do
Nhà xuất bản Văn hoá thông tin ấn hành năm 2003. Công trình này là kết quả của
chƣơng trình hợp tác nghiên cứu khoa học về các biến đổi của làng xã ở đồng bằng
Bắc Bộ do một nhóm tác giả của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học của
Pháp, CNRS và Viện Dân tộc học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
Quốc gia Việt Nam thực hiện. Nội dung của công trình này chỉ tập trung nghiên cứu
ở thôn Mông Phụ (1 trong 9 thôn của xã Đƣờng Lâm). Các tác giả đã đi vào nghiên

Báo Văn nghệ trẻ, số 21(ra ngày 21/5/2006) Làng cổ từ góc nhìn văn hoá của tác giả
Đặng Bằng; Một làng quê cổ kính của tác giả Lê Quang Chắn; Làng văn- làng nghề
của tác giả Nguyễn Khải Hƣng; Báo Gia đình và xã hội số 80 ra ngày 20/5/2006 có
bài: Làng cổ đầu tiên được xếp hạng di tích quốc gia của tác giả Việt Hà; Báo Sức
khoẻ và đời sống số 61 ra ngày 23/5/2006 có bài: Công bố di tích quốc gia làng cổ
Đường Lâm của tác giả Lan Phƣơng; Báo Lao động số 138 ra ngày 21/5/2006 có bài:
Đường Lâm trước bao việc phải làm của tác giả Lê Quang Vinh; Báo Quân đội nhân
dân ra ngày 21/5/2006 có bài: Cầm vàng đừng để vàng rơi của tác giả Quang Minh;
Tạp chí Di sản kiến trúc có bài: Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá làng cổ Đường
Lâm của tác giả Đặng Văn Tu; Báo Lao động xã hội số 38 ra ngày 23/3/2006 có bài:
Bảo tồn Đường Lâm - chuyện không chỉ một sớm một chiều của tác giả Vũ Xuân
Khoa Tất cả các bài viết đều tập trung giới thiệu và khẳng định Đƣờng Lâm là nơi
hội tụ đủ các giá trị văn hoá của một làng cổ Việt Nam. Trên bất kỳ phƣơng diện nào
cũng có thể tìm thấy ở Đƣờng Lâm những giá trị tiêu biểu của một làng cổ. Từ đó các

5
nhà nghiên cứu đã đƣa ra những ý kiến nhằm bảo tồn và lƣu giữ và những giá trị quý
báu của ngôi làng cổ.
Nhƣ vậy, có thể nói cho đến nay làng cổ Đƣờng Lâm đƣợc nghiên cứu, giới
thiệu chủ yếu trên từng khía cạnh, nhƣng mối quan hệ tƣơng tác giữa điều kiện tự
nhiên và đời sống văn hoá, tiếp cận theo hƣớng nghiên cứu khu vực học để có đƣợc
những nhận thức tổng hợp chƣa một công trình nào đề cập tới.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thu thập tài liệu, phƣơng pháp điền dã, phỏng vấn, điều tra xã hội học và
nhân học đƣợc sử dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu.
Để tiến hành nghiên cứu, tiếp cận theo hƣớng khu vực học (area studies) đƣợc
chúng tôi sử dụng làm phƣơng pháp chủ đạo. Đây là hƣớng nghiên cứu đang đƣợc
giới khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm. Hƣớng nghiên cứu này có thể hạn chế
đƣợc tính chủ quan, tƣ biện của các nghiên cứu khoa học để tìm ra các cứ liệu cụ thể,
xác thực.

Chƣơng 3: Đời sống văn hóa của cƣ dân làng Việt cổ Đƣờng Lâm
Luận văn đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn của GS.TSKH Vũ Minh Giang.
Nhân dịp hoàn thành, tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Giáo sƣ về sự giúp đỡ tận tình quý báu đó. 7
CHƢƠNG 1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
LÀNG VIỆT CỔ ĐƢỜNG LÂM
Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử là những nhân tố
có tác động trực tiếp đến sự hình thành đặc trƣng văn hoá nên
khi tìm hiểu bất kỳ một khu vực nào rất cần phải nghiên cứu sâu
sắc những nhân tố này. Tuy nhiên, đây không phải chỉ là những
ham số địa lý hay sự kiện lịch sử thuần tuý, mà phải đƣợc xem
xét rong mối quan hệ với con ngƣời và văn hoá.
1.1. Điều kiện tự nhiên và môi trƣờng sinh thái
Điều kiện tự nhiên và môi trƣờng sinh thái thƣờng đƣợc hiểu là các yếu tố tự
nhiên nhƣ địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, …Nhƣng trong luận văn này, điều kiện
tự nhiên và môi trƣờng sinh thái đƣợc xem xét là môi trƣờng sống của con ngƣời -
một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên bản sắc văn hoá. Nhiều nhà
nghiên cứu gọi đó là địa văn hoá.Văn hoá có thể hiểu là toàn bộ những mối quan hệ
giá trị do con ngƣời sáng tạo trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác
của con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội. Trong đó môi trƣờng tự
nhiên là nền tảng đầu tiên góp phần tạo nên đặc trƣng văn hoá đó. Điều này thật đúng
khi các nhà dân tộc học phƣơng Tây đã nhận thấy rằng nếu miêu tả nền văn hoá của
một tộc ngƣời mà không đặt nó trong một khuôn viên cụ thể, chẳng khác nào đi xem
bảo tàng : toàn bộ hiện vật đã bị đƣa ra khỏi môi trƣờng sống của chúng [6, tr.37].
Đƣờng Lâm trƣớc đây thuộc thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội)
cách trung tâm thị xã về phía Tây bắc 4 km (theo quốc lộ 32). So với các xã trong

trũng chia Đƣờng Lâm thành hai nửa. Nửa phía Bắc rộng hơn gồm các làng Hà Tân,
Hƣng Thịnh, Đông Sàng, Cam Thịnh, Mông Phụ, Đoài Giáp, Văn Miếu; nửa phía
Nam gồm Cam Lâm và Phụ Khang. Sông Con còn gọi là sông Tích, theo truyền
thuyết là dấu tích của cuộc chiến “năm năm báo oán, đời đời đánh ghen”giữa Thuỷ
Tinh và Sơn Tinh xung quanh nàng công chúa của Hùng Vƣơng thứ 18. Sông Con
trƣớc đây là đƣờng giao thông thuỷ quan trọng, thuyền buồm từ Nam Định, Thái
Bình, Hà Nam thƣờng chở hàng hoá từ miền xuôi lên cập bến mua bán, đổi chác lâm
thổ sản của miền ngƣợc. Ngày nay sông Con chỉ còn tác dụng tƣới tiêu nƣớc phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp, tô điểm cho cảnh quan Đƣờng Lâm thêm hữu tình.
Đặc biệt, ngày nay Đƣờng Lâm còn có thuận lợi khi cầu Trung Hà vừa mới
đƣợc khánh thành (năm 2003), đƣờng cao tốc Láng Hoà Lạc tiếp tục mở rộng nâng
cấp, đƣờng tránh thị xã (đƣờng Hồ Chí Minh) đã khởi công năm 2003.

9
Ngày nay, Đƣờng Lâm còn có thêm những thuận lợi lớn với những tiềm năng
về du lịch của chính mình cũng nhƣ quan hệ với cả một mạng lƣới liền kề của một
vùng du lịch đa dạng thuộc Sơn Tây và các địa phƣơng kế cận nhƣ: Đền Thƣợng,
Đền thờ Bác Hồ, rừng Quốc gia Ba Vì, Ao Vua, Khoang Xanh (Ba Vì), Đền Hùng
(Phú Thọ) chùa Tây Phƣơng, chùa Thày, chùa Trăm Gian, khu du lịch Đồng Mô,
Ngải Sơn…Với vị trí địa lý nhƣ vậy, Đƣờng Lâm thực sự có nhiều điều kiện thuận lợi
để phát triển về mọi mặt.
Đƣờng Lâm có địa hình đồi gò nối tiếp nhau nhƣ bát úp với ba mặt nƣớc
sông bao bọc, có đá ong, đá vôi là nguồn vật liệu xây dựng với trữ lƣợng lớn. Là
vùng đất nằm trên bậc thềm phù sa cổ không bằng phẳng, có đặc điểm gồm những dải
đất uốn cong uyển chuyển hợp thành từ các mỏm đồi gò liên tiếp từ chân núi Ba Vì
soải ra, với độ cao trung bình so với mặt biển 18 m, trung tâm là đồi Cấm có độ cao
48 m. Phía Tây Bắc và Đông Bắc là rặng Ruối cổ cùng không gian của khu đền, lăng
Ngô Quyền, hƣớng mặt xuống Minh Đƣờng (vũng Hùm), đình Phùng Hƣng tựa lƣng
vào đồi Viễn. Phía dƣới len vào giữa các mỏm đồi là khe nƣớc uốn khúc nối với dải
sông Tích.

khoảng 20
0
C; lƣợng mƣa trung bình năm 1800 - 2000 mm nhƣng phân bố không
đều. Lƣợng mƣa trong mùa khô chỉ bằng 12 - 13% lƣợng mƣa trong mùa mƣa; lƣ-
ợng bốc hơi trong mùa khô rất cao.
Nói chung, khí hậu thời tiết ở Đƣờng Lâm tƣơng đối ôn hoà, có 4 mùa: Xuân,
Hạ, Thu, Đông rõ rệt. Tính chất khí hậu ổn định của 4 mùa giúp cho việc sản xuất và
sinh hoạt có nhiều thuận lợi. Cƣ dân Đƣờng Lâm có thể hiểu đƣợc quy luật tự nhiên
đó để áp dụng vào sản xuất, tránh đƣợc khí hậu hà khắc và những thiên tai bất biến
làm ảnh hƣởng đến mùa màng.
Điều kiện khí hậu ở xã Đƣờng Lâm đƣợc thể hiện cụ thể trong Bảng 1: Khí
hậu ở Đường Lâm dƣới đây [24, tr.36]:

11
Bảng 1: Tình hình khí hậu thời tiết ở HTX Đường Lâm thị xã Sơn Tây Yếu tố
Tháng
ĐVT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

27,3
22,6
21,5
16,5
23,69
3. Độ ẩm BQ
%
84
84,2
87,5
87,5
84,3
84,6
83,0
86,5
83,8
83,3
80,2
80,3
84,97
4. Giờ nắng BQ
h
46
49
52
78
192
218,0
182
202

C.
Nói chung với nhiệt độ nhƣ trên, cây trồng có thể phát triển quanh năm. Độ ẩm bình
quân giữa các tháng trong năm là 84,97%. Nhìn chung sự chênh lệch độ ẩm của các
tháng không đáng kể, đó là điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển. Tổng số giờ
nắng trong năm là 1614 giờ, bình quân một tháng trong năm là 139,68 giờ. Những
tháng có giờ nắng thấp nhất là tháng 1, 2, 3 giờ nắng chỉ đạt 46 – 52 giờ/tháng.
Những tháng có giờ nắng cao là 5, 6, 7, 8 bình quân từ 182 – 218 giờ/tháng. Với cân
bằng bức xạ luôn dƣơng, điều kiện sinh trƣởng và phát triển của cây trồng rất thuận
lợi.
Tóm lại, điều kiện khí hậu thời tiết nhƣ trên rất phù hợp với sự phát triển
nông nghiệp nói chung và thuận lợi trong việc trồng trọt ở Đƣờng Lâm. Từ những
căn cứ đó nông dân có thể dự tính, dự báo để bố trí cây trồng cho phù hợp, tránh
đƣợc thiệt hại do thiên tai gây ra.
Về mạng lƣới sông ngòi, làng cổ Đƣờng Lâm nằm giữa sông Cả/ Sông Hồng
và sông Con/sông Tích, là vùng trung du ở bên rìa ngoài của vùng châu thổ Bắc Bộ,
mà “36 đồi gò, 18 rộc sâu” [29, tr.3], cùng với khúc sông Tích uốn lƣợn … là những
vết tích còn lƣu lại đến ngày nay.
Hệ thống sông Hồng và sông Tích chảy qua địa bàn xã Đƣờng Lâm trên
tổng diện tích đất tự nhiên là 800,25 ha. Có một phần diện tích ngoài đê của hai thôn
Hà Tân và Hƣng Thịnh thƣờng xuyên chịu ảnh hƣởng của thuỷ chế sông Hồng.
Những sông này đều mang đặc tính sông miền trung du, do vậy chế độ thuỷ văn rất
phức tạp, phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ mùa mƣa của vùng lƣu vực các nhánh sông

13
và chế độ thuỷ văn của sông Đáy (đặc biệt khi có nhiệm vụ phân lũ). Chính vì vậy
mà mực nƣớc của các nhánh sông nhỏ này lên xuống rất thất thƣờng, ảnh hƣởng trực
tiếp đến sản xuất nông nghiệp.
1.2. Lịch sử hình thành làng cổ Đƣờng Lâm
Núi Tản, Sông Đà là những “chứng nhân” thiên nhiên hùng vĩ thuở ban đầu
dựng nƣớc. Đƣờng Lâm nằm trong vùng chân núi Ba Vì/ Tản Viên – nơi mà theo

tranh của nhân dân Đƣờng Lâm đều gắn liền với công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ
quốc của các đời vua Việt Nam trong lịch sử .
Cuộc khởi nghĩa do Phùng Hƣng lãnh đạo diễn ra vào năm 767 (Đinh Mùi).
Sau một thời gian dài xây dựng lực lƣợng Phùng Hƣng quyết định mở một cuộc
tổng công kích, tiêu diệt bọn giặc xâm lƣợc hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất
nƣớc. Phùng Hƣng lên ngôi vua đƣợc 7 năm thì mất, nhân dân tôn Phùng Hƣng là
Bố Cái Đại Vƣơng.
Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, giết chết Hoằng Thao trên
sông Bạch Đằng. Cuộc kháng chiến thắng lợi do Ngô Quyền lãnh đạo đã mở ra kỷ
nguyên hoàn toàn độc lập cho dân tộc ta. Năm 939 Ngô Quyền xƣng Vƣơng đóng
đô ở Cổ Loa.
Đƣờng Lâm còn là quê hƣơng của Thám Hoa Giang Văn Minh - vị sứ thần
đã làm vẻ vang cho đất nƣớc.
Trong các giai đoạn sau này với các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên
Mông khởi nghĩa Lam Sơn, chống Thanh, nhân dân Đƣờng Lâm đều có những
đóng góp xứng đáng.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Đƣờng Lâm cũng nhƣ các vùng đất
khác trên toàn lãnh thổ Việt Nam đã liên tiếp chứng kiến nhiều biến động lịch sử.
Những biến động đã tác động tới đời sống văn hoá Việt Nam nói chung và Đƣờng
Lâm nói riêng.
Ngày nay vùng đất Đƣờng Lâm xƣa đã đƣợc sáp nhập với nhiều xã khác,
nhƣng địa danh Đƣờng Lâm vốn là một địa danh cổ trên vùng đất xứ Đoài vẫn đƣợc
lƣu giữ làm tên gọi cho xã.
Tên Đƣờng Lâm đƣợc nhắc đến sớm nhất là trong sách Việt điện u linh”,
trong đó có chép rằng: Ông cha Phùng Hƣng đời đời làm tù trƣởng ở châu Đƣờng
Lâm. Có thể châu Đƣờng Lâm thuở ấy rộng hơn xã Đƣờng Lâm bây giờ rất nhiều.
Lần giở cuốn sử ca bằng chữ Nôm ở thế kỷ XVII thì tên gọi Đƣờng Lâm đã
xuất hiện gắn liền với lịch sử lừng lẫy của hai vị anh hùng dân tộc Phùng Hƣng,
Ngô Quyền.


thì thấy có vị ngọt và thơm mát. Nàng thích lắm liền về khoe với nhà Vua. Nhà Vua

16
nghe xong và nghĩ rằng đó là một loài cây quý, có ích cho con ngƣời. Từ đó Vua đã
ra lệnh cho mọi ngƣời trồng thử trên bãi sông. Chẳng bao lâu, loài cây này mọc
thành những bụi cây xanh tốt um tùm. Nhân dân chặt về, ép lấy nƣớc rồi nấu thành
mật ăn. Ngày tết đến, nàng sai chặt những cây to ngon cùng ít nƣớc mật đã cô đặc,
đem về dâng vua cha. Vua Hùng ăn nếm rất thích thú, bèn lấy ngay tên công chúa là
Mị Ê để đặt tên cho giống cây quý này. Từ đó khắp cả một vùng đất bãi ven sông
Thao, đặc biệt là từ Ba Gò, Đông Viên đến làng Phú Nhi, cây Mị Ê đƣợc trồng xanh
tốt nhƣ rừng. Cái tên Mị Ê lâu dần cũng bị mọi ngƣời đọc trại đi theo tiếng địa
phƣơng thành cây Mi…Ế, rồi … cây Mía. Cứ đến mùa thu, quang cảnh thu hoạch
mía thật tấp nập, nhân dân vừa nô nức chặt mía vừa dựng những lò kéo mật, dùng
trâu kéo máy ép mía để nấu mật, ngày đêm khói toả nghi ngút. Và tất cả một vùng
rộng lớn có trồng cây mía đầu tiên đó đƣợc gọi chung là Kẻ Mía

[14, tr.11].
Đó là cách giải thích dân gian về cái tên Kẻ Mía, còn cái tên Đƣờng Lâm lại
có cách giải thích khác. Thời cổ ngƣời Trung Hoa chỉ biết làm đƣờng mạch nha, chứ
chƣa biết làm đƣờng mía. Từ đời Đƣờng trở về sau họ mới học đƣợc cách làm
đƣờng mật mía từ các dân tộc phía nam. Một số sách cổ của Trung Quốc nhƣ “Dị
vật chí” của Dƣơng Phù hoặc “Tề dân yếu thuật” của Giả Tƣ Hiệp ghi chép khá
nhiều sản vật của Việt Nam, trong đó có chép rõ: “Mía do Giao Chỉ trồng đặc biệt
thơm ngon. Đẵn mà ăn tƣơi đã rất ngọt, ép lấy nƣớc nhƣ nƣớc mạch nha gọi là
“đƣờng” lại càng quý. Nếu cô đặc mà đem phơi để kết thành tảng nhƣ băng, khi bẻ
đem ăn cho vào miệng là tan biến dễ chịu liền, ngƣời đƣơng thời gọi đó là “mật đá”
(thạch mật)”. Thế kỷ III Ngô Chúa là Tôn Lƣợng thƣờng uống đƣờng của Giao
Châu cống nạp, từ đó về sau, các vùng Tứ Xuyên, Quảng Đông… cũng học cách
làm đƣờng của Việt Nam [13, tr.43]. Nhƣ vậy, cái tên Đƣờng Lâm (Rừng nƣớc
ngọt) là tên Hán hoá từ thời Bắc thuộc, từ thời Lý, Trần vùng đất này lại mang tên


18
CHƢƠNG 2
ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ SẢN XUẤT VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI
CỦA CƢ DÂN LÀNG VIỆT CỔ ĐƢỜNG LÂM
2.1. VĂN HOÁ SẢN XUẤT
2.1.1 Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất ra của cải vật chất là yếu tố quan trọng hàng đầu trong cuộc sống
con ngƣời bởi vì nó là điều kiện tiên quyết để con ngƣời tồn tại và phát triển. Trong
quá trình lao động sản xuất, con ngƣời đã phải dựa vào tự nhiên để vừa tận dụng,
khai thác những mặt thuận lợi đồng thời cũng phải tìm cách thích ứng, hài hoà với tự
nhiên.
Trong quá trình tác động và khai thác tự nhiên, con ngƣời đặc biệt quan tâm
đến nguồn tài nguyên đất đai. C.Marx đã từng so sánh đất là mẹ và lao động của con
ngƣời là cha. Bởi lẽ tự nhiên tác động vào con ngƣời là có tính tự thân, con ngƣời
ứng xử hay tác động trở lại với môi trƣờng tự nhiên để khai thác những gì mà tự
nhiên đặt ra một cách có ý thức và có tính mục đích. Thông qua hoạt động đó, con
ngƣời đã sáng tạo văn hoá, nhƣ định nghĩa về văn hoá của Hồ Chí Minh nêu rõ: "Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát sinh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở, đi lại và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá" [42, tr.431]. Hay khi
nghiên cứu đặc trƣng của Khu vực học hiện đại đƣợc tiến hành theo không gian văn
hoá với nhiều cấp độ khác nhau, GS.Vũ Minh Giang đã nói: “Văn hoá ở đây cần
được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những sáng tạo hữu thức của con người vì mục
đích tồn tại và phát triển”[8, tr.53-65].
Khái niệm văn hoá có thể tiếp cận từ những góc độ khác nhau mà đƣa ra
những định nghĩa khác nhau về văn hoá. Từ những định nghĩa đó có thể hiểu về văn
hoá nhƣ sau: Văn hoá là hoạt động của con ngƣời sáng tạo ra những giá trị vật chất
và những giá trị tinh thần nhằm mục đích duy trì sự tồn tại và phát triển của cộng

Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích đất canh tác
414,48
100,00
I. Phân loại theo hạng đất 1. Đất hạng 1 2. Đất hạng 2
112,38
29,09
3. Đất hạng 3
114,31
29,60
4. Đất hạng 4
52,37
13,50
5. Đất hạng 5
98,48
25,50
6. Đất hạng 6
8,83
2,31
7. Đất hạng 7 II. Phân loại theo địa hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status