BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
**********
NGUYỄN THỊ SONG THƯƠNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA
CƯ DÂN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ
(Qua tư liệu khảo cổ học)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2015
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
**********
NGUYỄN THỊ SONG THƯƠNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA
CƯ DÂN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ
(Qua tư liệu khảo cổ học)
Chuyên ngành
NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ÓC EO
1.1. Những khái niệm liên quan đến đề tài
Trang
3
8
1.2. Điều kiện hình thành văn hóa Óc Eo
8
13
1.3. Lịch sử nghiên cứu và các dấu tích văn hóa Óc Eo
23
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA
CƯ DÂN ÓC EO
2.1. Đời sống sinh hoạt
2.2. Đời sống mưu sinh
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA
CƯ DÂN ÓC EO
3.1. Tín ngưỡng, tôn giáo
3.2. Nghệ thuật
3.3. Phong tục, tập quán
3.4. Chữ viết
3.5. Giải trí
Chương 4: VĂN HÓA ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH
GIAO LƯU VĂN HÓA VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG
4.1. Tây Nam Bộ và mạng lưới thương mại trên biển giai đoạn thiên niên kỷ
PHỤ LỤC
187
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DSVH
: Di sản Văn hóa
ĐSVH
: Đời sống văn hóa
BTLS HCM
: Bảo tàng lịch sử tại thành phố Hồ Chí Minh
BTĐT
: Bảo tàng Đồng Tháp
BTAG
: Bảo tàng An Giang
BTKG
VH, TT & DL
: Văn hóa, Thể thao và Du lịch
CTQG
: Chính trị Quốc gia
KHXH
: Khoa học Xã hội
HN
: Hà Nội
SCN
: Sau Công nguyên
TCN
: Trước Công nguyên
LLCT
: Lý luận chính trị
Tp.HCM
chuyên khảo, kỷ yếu hội nghị và các báo cáo khảo sát điều tra liên quan tới nền văn
hóa Óc Eo. Đây là kết quả nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, nội
dung bao gồm: thông báo các phát hiện mới; tình trạng của các di tích, các loại hình
di vật phát lộ; nghiên cứu các vấn đề về nguồn gốc hình thành, sự phát triển của văn
hóa Óc Eo; các quan hệ giao lưu văn hóa và thương mại với bên ngoài... Một số khía
cạnh về đời sống văn hóa xã hội của cư dân được đề cập tới qua việc nghiên cứu các
tài liệu lịch sử và so sánh với tài liệu khảo cổ học.
4
Những thành quả này của các nhà khoa học về văn hóa Óc Eo rất đáng trân
trọng. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu nói trên mới chủ yếu là dưới góc độ các
nghiên cứu khảo cổ học. Việc tìm hiểu khối tư liệu khảo cổ học từ hướng tiếp cận văn
hóa học còn rất hạn chế. Việc nghiên cứu phạm vi phân bố, nội dung và đặc điểm,
niên đại và quá trình phát triển của các di tích, cội nguồn và truyền thống của văn hóa
Óc Eo... trong mối liên hệ với cư dân - chủ nhân của nền văn hóa này còn chưa đầy
đủ. Những vấn đề lịch sử liên hệ văn hóa Óc Eo với các thể chế chính trị đương thời
như nước Phù Nam, đến Chân Lạp... vẫn cần tiếp tục tìm tòi, lý giải, minh định.
Trong đó, vấn đề mối quan hệ giữa con người với dấu tích văn hóa mà cư dân Óc Eo
để lại; vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị DSVH đó trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế đang là những vấn đề có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn nhất cần được làm sáng tỏ.
Với những lý do trên, tác giả mong muốn sẽ có những khám phá, cách tiếp
cận mới về văn hóa Óc Eo ở TNB.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các mặt đời sống văn hóa (đời sống vật chất và đời sống tinh
thần) của cư dân Óc Eo ở miền TNB thông qua việc phân tích, diễn giải các nguồn
tư liệu khảo cổ học.
nghiên cứu các khía cạnh đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo ở các tỉnh miền TNB,
bao gồm các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu,
trong đó, tập trung ở ba tỉnh có các di tích văn hóa Óc Eo tiêu biểu nhất là: An
Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang.
- Về thời gian: Việc phân kỳ các giai đoạn của văn hóa Óc Eo còn chưa
được giải quyết triệt để cho nên luận án tập trung tìm hiểu văn hóa Óc Eo chủ yếu ở
giai đoạn từ khoảng thế kỷ II đến thế kỷ VII, là thời kỳ hình thành rõ nét và phát
triển những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa này.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử trong nghiên cứu văn hóa quá khứ, nhằm nhìn nhận và đánh giá
khách quan, khoa học về DSVH.
4.2. Văn hóa học là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, cần được áp dụng
nhiều phương pháp và có hướng tiếp cận đa ngành và liên ngành. Tuy nhiên, các
6
phương pháp nghiên cứu được lựa chọn tuỳ vào từng đối tượng cụ thể. Do đối
tượng đặc thù của luận án là các tư liệu khảo cổ học (di tích, các sưu tập di vật trong
bảo tàng và các tư liệu viết có liên quan), luận án sử dụng các phương pháp nghiên
cứu của chuyên ngành dân tộc học, xã hội học và nhân học. Đặc biệt là sử dụng
nhân học biểu tượng vào quá trình thu thập, phân tích tư liệu. Trong đó, các phương
pháp định tính và định lượng trên cơ sở quan sát, mô tả, thống kê, chụp ảnh v.v.
được đặc biệt chú trọng.
Mặc dù phương pháp phỏng vấn không được áp dụng cho các đối tượng khảo
cổ học, tác giả luận án đã tham gia một số đợt khảo sát khảo cổ học tới các di tích và
các bảo tàng, thảo luận cùng với các nhà khảo cổ học về mối liên hệ của các bộ sưu
tập với di tích và địa tầng khảo cổ học, cũng như môi trường sinh thái cổ. Từ đó có cơ
được trình bày trong 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về miền Tây Nam Bộ và lịch sử nghiên cứu văn hóa
Óc Eo
Chương 2: Đặc điểm đời sống văn hóa vật chất của cư dân Óc Eo
Chương 3: Đặc điểm đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Óc Eo
Chương 4: Văn hóa Óc Eo ở Tây Nam Bộ trong bối cảnh giao lưu văn hóa
với các nước láng giềng
8
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ
VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ÓC EO
1.1. Những khái niệm liên quan đến đề tài
Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa khảo cổ. Tiếp cận văn hóa Óc Eo dưới
góc độ văn hóa học, cần làm rõ một số khái niệm: Văn hóa, văn hóa khảo cổ, văn
hóa Óc Eo, đời sống văn hóa. Chúng tôi xin đề cập một cách khái lược về những
khái niệm này để làm công cụ lý luận cho nội dung luận án.
Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hoá nhân loại.
Ngay những bước đi lịch sử đầu tiên của mình, loài người đã gắn liền với văn hóa.
Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt
so với những con vật khác trong thế giới động vật. Theo Từ điển tiếng Việt (Viện
Ngôn ngữ học, Hà Nội, 2000) [33,tr.35-36] thì từ văn hóa có 5 nghĩa:
1. Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo ra trong quá trình lịch sử (Thí dụ: kho tàng văn hóa Việt Nam).
2. Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh
thần – nói một cách tổng quát (Thí dụ: phát triển văn hóa).
3. Tri thức, kiến thức khoa học (Thí dụ: Trình độ văn hóa).
4. Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh (Thí
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của
đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [99, tr.431].
Vậy với khái niệm này, văn hóa ở đây được hiểu theo nghĩa thứ hai, là do con
người sáng tạo ra, nhằm thích ứng với nhu cầu của cuộc sống. Nó là sản phẩm của
con người và chỉ dành riêng cho con người, cộng đồng người; nó được sinh ra, tồn tại
và phát triển với con người. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống
cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của
sự phát triển, hay vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện, điều đó chứng tỏ, con người và
môi trường văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Theo Phan Ngọc, khái niệm văn hóa dùng để chỉ trình độ phát triển về vật
chất và tinh thần của những xã hội, dân tộc, bộ lạc cụ thể; đôi khi theo nghĩa hẹp,
văn hóa chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người [102, tr.14-17].
10
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng, mỗi định nghĩa
đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa. Từ góc độ
tiếp cận và mục đích nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã cố gắng làm sáng tỏ
những yếu tố căn cốt nhất của văn hóa. Còn theo quan điểm của tôi, với hướng nghiên
cứu một nền văn hóa khảo cổ, thì Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất (văn hóa vật
thể) và tinh thần (phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động, sản
xuất, được tích luỹ từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ở đây, tôi xem xét các giá trị tinh thần không phải ở những phong tục tập
quán, tôn giáo tín ngưỡng và những giá trị văn hóa hiện hữu, mà tiếp cận nó thông
qua những sản phẩm vật chất (văn hóa vật thể) đã nằm sâu dưới lòng đất để làm rõ
yếu tố tinh thần trong đó.
Khảo cổ học là ngành khoa học nghiên cứu những nền văn hóa của loài
của người Trung Hoa. Còn phiên âm của tiếng Khmer cổ là “bnam”, ngày nay gọi là
“phnom” có nghĩa là “núi”. Vua Phù Nam có nghĩa như “vua núi” theo tiếng Phạn là
“parvatabhûpala”, tiếng Khmer là “kurung bnam” [56, tr.84]. Vương quốc Phù Nam
được coi là thể chế nhà nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Nó hình thành từ thế
kỷ I SCN, suy vong từ khoảng thế kỷ VI và mất hẳn từ thế kỷ VII.
Phù Nam được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa một bộ lạc Môn cổ sống
bằng nghề săn bắn, thu hoạch lâm sản và một bộ lạc Nam Đảo làm nông nghiệp, đánh
cá và buôn bán trên biển. Phù Nam là đế chế bao gồm nhiều tiểu vương quốc và lãnh
địa. Trong mỗi tiểu vương quốc thường có một vị tiểu vương làm thủ lĩnh lãnh đạo
các thủ lĩnh khác (chư hầu). Lãnh vực của vương quốc Phù Nam bao trùm một vùng
rộng lớn, gồm phía Nam Việt Nam, Malaysia, một phần Campuchia và Thái Lan.
Đời sống văn hóa là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam từ
những năm 80, tuy nhiên đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa nào thống nhất, có
tính chất thuyết phục.
Theo tác giả Trần Độ thì “phải hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng, không
bó hẹp tính văn hóa vào một số lĩnh vực đời sống văn hóa nào đó mà coi đời sống
văn hóa là một khái niệm rộng rãi, bao quát mọi mặt của đời sống xã hội: sản xuất,
trao đổi, tiêu dùng, nhận thức, sáng tạo” [36; tr.24].
Theo GS.TS Hoàng Vinh “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã
hội, mà đời sống xã hội là một phức thể của những hoạt động sống của con người,
nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó”. Trong đó “Nhu cầu vật
12
chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh
thần giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức một nhân cách văn
hóa” [153, tr.149]. Như vậy, ở đây tác giả nhìn nhận đời sống văn hóa gắn liền với
những nhu cầu cơ bản của con người, con người không thể tách rời hai nhu cầu thiết
yếu, đó là nhu cầu về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng chỉ có
thuật trình diễn như vũ điệu, âm nhạc, hò vè, sân chơi cổ truyền, đờn ca tài tử…;
các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc như chủ nghĩa yêu nước, truyền thống nhân
đạo, ý thức cộng đồng, tinh thần khoan dung, đề cao nghĩa tình, đạo lý, lạc quan,
yêu đời. Đó là các giá trị về đạo đức, pháp lý và thẩm mỹ của dân tộc như lương
tâm, phẩm giá, danh dự, trách nhiệm…Với đề tài này thì đời sống văn hóa tinh thần
(những phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, các loại hình nghệ thuật…) được
thể hiện thông qua các di vật, tức là thông qua đời sống vật chất.
Như vậy, đời sống văn hóa mà chúng ta hiểu ở đây là một lát cắt trong đời
sống chung của xã hội. Nó là tổng hoà của những yếu tố đời sống vật chất và đời
sống tinh thần do con người sáng tạo ra.
1.2. Điều kiện hình thành văn hóa Óc Eo
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Vùng ĐBSCL ngày nay là địa phận của 13 tỉnh, thành phố gồm: Long An,
Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, An Giang, Kiên
Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, với diện tích tự nhiên khoảng
40.604 km2. Phía Đông Bắc giáp vùng Đông Nam Bộ, Tây Bắc giáp Campuchia, Tây
Nam giáp vịnh Thái Lan, Đông Nam giáp Biển Đông. Được xác định từ vĩ độ 8030’
Bắc - 10040’ Bắc và kinh độ 104026’ Đông - 106040’ Đông. Nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo, có nền nhiệt độ cao và ổn định. Nhiệt độ
trung bình phổ biến khoảng từ 25 - 280C. Một năm chia làm hai mùa: mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.
Vùng TNB có hai con sông lớn chảy qua: sông Tiền (ở phía Bắc) và sông
Hậu (ở phía Nam) là hạ lưu của hệ thống sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Trạng
(Trung Quốc).
Sông Tiền nhận 2/3 lưu lượng nước của sông Mê Kông, từ biên giới Campuchia
đến cửa sông dài khoảng 200 km, chạy qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long,
Trà Vinh, Bến Tre. Đến Cai Lậy (Tiền Giang), sông Tiền chia làm bốn con sông đổ ra
biển bằng 6 cửa: sông Mỹ Tho (Cửa Đại, Cửa Tiểu); sông Cổ Chiên (cửa Cổ Chiên,
cửa Cung Hầu); sông Hàm Luông (cửa Hàm Luông) và sông Ba Lai (cửa Ba Lai).
đắp phù sa. Dựa vào phân vùng sinh thái đất nông nghiệp, vùng ngập lũ TNB có thể
chia thành 4 tiểu vùng chính: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, khu vực Tây
sông Hậu và khu vực giữa sông Tiền - sông Hậu [5, tr.3-4].
15
Quá trình hình thành và biến đổi của vùng TNB cùng với những đặc điểm về
môi trường sinh thái là một trong những yếu tố rất cần thiết để hiểu hơn về sự phân
bố và cuộc sống của các cộng đồng cư dân vùng này qua các thời kỳ lịch sử.
Theo các nhà địa chất, quá trình hình thành vùng đất TNB diễn ra trong thời
gian khá dài và phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quá trình biển tiến,
biển thoái, vận động của vỏ trái đất qua hàng trăm triệu năm, các hoạt động bào
mòn và tích tụ… đã tạo nên những vùng sụt lún như vùng Đồng Tháp Mười hay
vùng trồi lên cao như dãy Bảy Núi (An Giang), đảo Phú Quốc (Kiên Giang)…
Trong đó, các đợt biển tiến, biển thoái có tác động mạnh mẽ nhất đến sự hình thành
vùng đất Nam Bộ [PL1.2, tr.190].
Đợt biển tiến đầu tiên cách nay khoảng 11.000 đến 6.000 năm thì đạt đến
mức cực đại, cao hơn mực nước biển hiện tại 4 - 5m. Thời điểm đó, toàn vùng TNB
ngày nay tràn ngập nước mặn, trở thành vịnh biển nông rộng lớn. Những ngọn đồi,
quả núi trong vùng Bảy Núi (An Giang), Hà Tiên (Kiên Giang) đều trở thành những
hòn đảo nhấp nhô trong vịnh biển. Giai đoạn biển tiến này đã phân hoá đồng bằng
thành nhiều vùng có đặc điểm khác nhau: biển nông, biển nông ven bờ, đầm lầy ven
biển… Tại các vùng biển nông ven bờ động vật thân mềm, da gai, san hô phát triển
rất phong phú... Đặc biệt, thời kỳ này hình thành và phát triển phong phú thực vật
nhiệt đới, tạo điều kiện cho sự hình thành các vùng chứa than bùn rộng lớn ở thời
kỳ tiếp theo [27, tr.18; 30, tr.16]…
Sau khi biển tiến đạt đến cực đại (+4 đến +5m), thì bắt đầu rút liên tục khỏi
đồng bằng (khoảng 1.600 năm) và dừng ở mực cao +2m (trong vòng 700 năm). Quá
trình mực nước biển rút và sự bồi lắng của phù sa mới từ hệ thống sông Mê Kông,
nước biển đã ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái tại những địa
bàn thấp trũng của châu thổ. Đến giữa thế kỷ XII về sau, mực nước biển dần hạ thấp
rồi dừng lại ở mức hiện tại. Vùng TNB bước vào thời kỳ phát triển mới theo chiều
hướng không ngừng mở rộng, phù hợp với quy luật tự nhiên của nó [27, tr.20-21].
Theo thư tịch cổ: Khang Thái và Chu Ứng là quan triều đình nhà Ngô thời
Tam Quốc (230 - 280) được cử đi sứ đến nước Phù Nam. Khi về nước, hai vị quan
này viết một vài quyển sách nói về chuyến đi của mình đến đất nước Phù Nam như:
Phù Nam ký, Phù Nam thổ tục, Phù Nam thổ tục truyện, Phù Nam dị vật chí. Tuy
nhiên, các sách này đều đã thất lạc, chỉ còn biết đến qua các trích dẫn trong một số
thư tịch cổ được ghi chép từ thế kỷ V - VI SCN như: Lương Thư, Nam Tề Thư, Tuỳ
Thư, Đường Thư... Những nội dung này đã cho chúng ta những hình dung về địa
17
hình, thiên nhiên và môi trường sinh thái vùng TNB thời bấy giờ (tương đương với
thời kỳ biển thoái kéo dài khoảng 800 năm SCN).
Theo Nam Tề Thư: Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh
lớn phía Tây biển lớn, diện tích rộng hơn 3.000 dặm, nước ấy có một con sông lớn
chảy theo hướng tây ra biển [120, tr.268]. Theo Lương thư: Nước phù Nam cách
Nhật Nam khoảng 7.000 dặm, ở phía Tây Lâm Ấp, cách nước ấy 3.000 dặm. Kinh
thành cách biển 500 dặm. Trong nước có con sông lớn, rộng 10 dặm, chảy theo
hướng Tây Bắc sang phía Đông đổ ra biển. Diện tích cả nước rộng hơn 3.000 dặm.
Đất đai nước ấy thấp và bằng phẳng. Khí hậu và phong tục giống như Lâm Ấp [120,
tr.273]. Sách Tam Tạng kinh - Cao Tăng truyện còn có đoạn bổ sung “Phù Nam là
cửa biển có ngàn con sông” [27, tr.23].
Dựa vào những mô tả khái quát về nước Phù Nam qua các ghi chép của thư
tịch cổ Trung Quốc, đa số các nhà khoa học đều có chung nhận định: vị trí của nước
Phù Nam nằm ở phía Nam Đông Dương, phía Nam quận Nhật Nam (một phần đất
phía Nam Việt Nam xưa) và Lâm Ấp (Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay). Trong
đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ
cây đầy rẫy. Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy trong vùng này. Tiếp
đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm [116, tr.73]… Đây là
quang cảnh của vùng TNB mà Châu Đạt Quan ghi lại trong chuyến đi sứ đến nước
Chân Lạp vào khoảng năm 1296 - 1297 SCN.
Vào cuối thế kỷ XVIII, trong cuốn sách “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn có
những mô tả: Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ cửa biển Cần Giờ, Soài Lạp, Cửa Đại,
Cửa Tiểu… toàn là rừng rậm hàng mấy trăm dặm [27, tr.24]. Qua mô tả từ các thư
tịch cổ cho thấy, từ thế kỷ thứ XII đến cuối thế kỷ XVIII vùng TNB phát triển theo
chiều hướng ngày càng hoang dã, cảnh vật thiên nhiên như chưa từng có ai khai phá.
Về khí hậu, theo các nhà nghiên cứu, những đặc điểm của các nhóm cổ sinh
đặc biệt là bào tử phấn hoa, cùng với đặc điểm của lớp vỏ phong hoá cổ có thể xác
định được khí hậu thời kỳ Pleistocen ở đồng bằng Nam Bộ có chế độ nhiệt đới gió
mùa rất rõ [34, tr.16-17]. Thảm thực vật toàn vùng đã phản ánh điều kiện khí hậu
thời kỳ Óc Eo mang tính nhiệt đới có sự xen kẽ nóng khô và nóng ẩm.
Như vậy, có thể thấy, điều kiện thiên nhiên và khí hậu những thế kỷ đầu
Công nguyên không khác nhiều so với ngày nay.
19
1.2.2. Dân cư
Qua các phát hiện khảo cổ học có thể thấy, con người đã có mặt trên vùng
đất Nam Bộ từ rất sớm. Trong quá trình phát triển (từ thời kỳ đồ đá cũ tiến đến thời
kỳ kim khí), con người nơi đây đã để lại trên vùng đất Nam Bộ một nền văn minh
rực rỡ. Vậy chủ nhân của nền văn minh đó (Óc Eo) là ai? Câu hỏi này được nhiều
học giả nghiên cứu, lý giải và tranh luận, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả
đáng. Việc nghiên cứu dân cư Óc Eo từ khối tư liệu khảo cổ học lại càng gặp nhiều
khó khăn hơn do các tư liệu nhân chủng phát hiện trong các cuộc khai quật quá ít ỏi,
một số khu mộ được phát hiện là chủ yếu là mộ hoả táng khiến cho việc xác định
mộ vò, tuy nhiên, các di cốt không còn nguyên vẹn. Đến cuối năm 1993, cũng tại
địa điểm này, các nhà khảo cổ học tiếp tục phát hiện 3 mộ đất và 3 mộ chum. Trong
đó, có một bộ di cốt có hộp sọ còn tương đối nguyên được xác định giới tính nam,
khoảng 50-60 tuổi, có quan hệ gần gũi với sọ của người Mongoloid, cư dân Đông
Sơn (nhóm loại hình Đông Nam Á).
Tại địa điểm Giồng Cá Vồ, các cuộc khai quật trong các năm 1993, 1994 và
1997 đã phát hiện 359 mộ chum và mộ đất, trong đó 24 sọ (13 sọ nam và 11 sọ nữ)
đã được Nguyễn Lân Cường đưa đi nghiên cứu. Tuy nhiên chỉ 6 sọ có đủ yếu tố xác
định nhân chủng, trong đó có 5 sọ nữ khá gần với những sọ nữ thuộc nhóm loại
hình Đông Nam Á của văn hóa Đông Sơn có đặc trưng của chủng tộc Mongoloid
Nam Á [19, tr.187].
Tại địa điểm Lộc Giang (Long An) đã phát hiện một hộp sọ của phụ nữ
khoảng 30 - 35 tuổi trong tầng văn hóa Óc Eo. Tuy không còn nguyên vẹn, song
Nguyễn Lân Cường cho rằng sọ có một số nét của người Mongoloid [19, tr.185].
Tại khu vực Gò Rạch Rừng, huyện Mộc Hoá, Long An, nhân dân đã phát
hiện 8 bộ xương cốt cùng với một số đồ trang sức bằng đá, mảnh gốm, xương động
vật. Trong đó, có 3 sọ có thể nghiên cứu được: 1 sọ của một người phụ nữ khoảng
25 tuổi, cao 1,54m; 1 sọ của một người nam giới khoảng 60 tuổi, cao 1,65m; 1 sọ
của một người phụ nữ khoảng 65 tuổi, cao 1,57m; Nguyễn Quang Quyền cho rằng
họ thuộc loại hình “thượng cổ” gần giống với Melanesien. Tuy nhiên, Nguyễn Lân
Cường có các số đo hơi khác và cho rằng đây chính là những người Indonesien cổ.
Năm 1997 tại địa điểm Gò Ô Chùa, các nhà khảo cổ học đã phát hiện 2 di cốt
(trong số 12 di cốt) được xác định là của một cá thể nam, khoảng 40 tuổi, cao 1,67m
và một cá thể nam, khoảng 18-20 tuổi, cao 1,63m. Sọ của hai cá thể này gần nhất
với sọ người Việt [19, tr.182].
21
Tại di tích Cạnh Đền (Trăm Phố), Malleret phát hiện 7 sọ người và được xác
22
nhau trên vùng đất Nam Bộ. Trong đó, các nhà nghiên cứu nhân chủng cho rằng,
nét nổi bật của cư dân cổ ở vùng Nam Bộ là những người Mongoloid gần gũi với
người Việt, nhóm loại hình Đông Nam Á của người Đông Sơn.
Khi nói về chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo, thư tịch Trung Hoa cho biết
người Phù Nam có nước da đen, tóc quăn, mặt tròn, mũi ngắn. Nam sử và Thông chí
cũng mô tả người Phù Nam nước da đen, xấu, búi tóc (có lẽ là chỉ phụ nữ, như Lương
thư cũng nói đến), vẽ mình, ở trần, đi chân đất. Những mô tả này cho thấy những
phong tục gần gũi với các nhóm cư dân vùng Tây Nguyên (người Thượng), theo chế
độ mẫu hệ, vốn là hậu duệ của lớp cư dân bản địa có nguồn gốc từ sự kết hợp giữa các
tộc người nói tiếng Nam Đảo với các tộc người nói tiếng Môn-Khmer [132, tr.50-55].
Ngoài ra, qua các ghi chép của sứ thần Trung Hoa, truyền thuyết và bia kí, có
thể thấy rằng từ khoảng đầu Công nguyên người Ấn Độ đã có mặt trên vùng đất
này. Điều này được thể hiện trước hết qua cuộc hôn nhân của thủ lĩnh địa phương
(Liễu Diệp) với giới quý tộc người Ấn Độ (Hỗn Điền). Những dấu tích sớm của các
ngôi nhà lợp ngói kiểu Ấn Độ, các loại đồ gốm cao cấp có bề mặt miết bóng màu
vàng bò (buff ware) kiểu Ấn phủ thành lớp dày trong hố khai quật tại Gò Tư Trâm
cho thấy ở đây có thể đã có những kiều dân Ấn hoặc ít nhất là những người mang
hai dòng máu Ấn và bản địa. Từ những đồ trang sức và một số điêu khắc thể hiện
sâu đậm những ảnh hưởng Ấn Độ, có thể cho rằng đã có các nhóm thợ thủ công
người Ấn cư trú trong vùng. Các giáo sĩ và nhà sư người Ấn không chỉ theo các con
tàu đi truyền giáo, mà còn định cư một số nơi trong vùng Đông Nam Á, trong đó có
vùng đất Nam Bộ. Họ đặc biệt được coi trọng trong triều đình Phù Nam. Vào năm
484, vua Jayavarman (Đồ Gia Bạt Ma) còn cử nhà sư Na Gia Tiên (Nagasena) sang
sứ Trung Quốc. Từ các nguồn tư liệu trên, không thể phủ nhận rằng có một số
lượng cư dân gốc Ấn đáng kể trong thành phần dân cư nơi đây.
Ngoài ra, các tác phẩm mang tính chất tôn giáo, những tượng đất nung nhỏ
hoặc các hình nhân phát hiện ở Óc Eo (An Giang), Nhơn Thành (Cần Thơ), Gò
Tháp (Đồng Tháp), cho thấy yếu tố của các nhóm cư dân ngoại lai từ Trung Hoa và