Luận án Tiến sĩ về phát huy nguồn lực thanh niên trong sự nghiệp cnh, hđh ở việt nam hiện nay. - Pdf 15

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX là thế kỷ phát triển với một tốc độ vô cùng lớn. Nhân loại
đã từng chứng kiến những thành tựu thần kỳ trong sự phát triển kinh tế,
khoa học kỹ thuật và công nghệ; đồng thời, cũng đã chứng kiến những sự
đổ vỡ có tính bi kịch. Lịch sử đã ghi nhận những thành tựu đó, đã cảnh báo
không ít bài học đối với các quốc gia, các chính phủ trong lĩnh vực quản lý
cũng nh trong việc xác lập mô hình phát triển nói chung. Một trong những
bài học nổi bật đó là bài học về sử dụng, phát huy và phát triển các nguồn
lực tự nhiên và xã hội. Với đờng lối đổi mới, Đảng ta đã khẳng định rằng,
nguồn lực con ngời là nguồn lực cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với sự
phát triển bền vững của xã hội. Đây là "nguồn lực của mọi nguồn lực", là
"tài nguyên của mọi tài nguyên", là nhân tố bảo đảm quan trọng bậc nhất đa
nớc ta trở thành một nớc CNH, HĐH trong thế kỷ XXI đang tới gần. Đảng
ta khẳng định rằng: "Lấy việc phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững" [16, 85], "Nâng cao dân trí, bồi
dỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngời Việt Nam là nhân tố quyết
định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH" [16, 21].
Nói tới nguồn lực con ngời ở Việt Nam không thể không nói đến
nguồn lực chủ yếu là nguồn lực thanh niên. Thanh niên Việt Nam chiếm
hơn 50% lao động xã hội và gần 29% dân số. Họ đợc đào tạo một cách cơ
bản và khá toàn diện. Do đó, nguồn lực thanh niên giữ một vị trí quan trọng
và có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc hiện nay cũng nh
trong tơng lai. Sự nghiệp CNH, HĐH đòi hỏi rất cao ở thanh niên vốn trí
tuệ và trình độ phát triển ngời về mọi mặt. Đảng ta chỉ rõ: "Sự nghiệp đổi
mới có thành công hay không, đất nớc bớc vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng
trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bớc theo
con đờng xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy thuộc vào lực lợng thanh
1
niên, vào việc bồi dỡng rèn luyện thế hệ thanh niên, công tác thanh niên là
vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành

Vì những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài: "Phát huy nguồn lực
thanh niên trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay" có ý nghĩa
lý luận, thực tiễn cấp thiết và lâu dài.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề con ngời và nguồn lực con ngời đã từng thu hút sự chú ý của
các nhà lãnh đạo, quản lý, của giới lý luận trong nớc và nớc ngoài. Đã có
nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề chiến lợc con ngời nói chung và
thanh niên nói riêng từ các góc độ, các lĩnh vực khác nhau. Nhiều tác giả đã
đề cập đến vai trò của nhân tố con ngời trong chiến lợc phát triển kinh tế -
xã hội, tính tích cực xã hội của con ngời và con đờng nâng cao vai trò nhân
tố con ngời. Chẳng hạn: "Chăm sóc, bồi dỡng và phát huy nhân tố con ngời
vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng và văn minh" - Đỗ Mời -
Tạp chí Thông tin lý luận số 3, 1993; "Bàn về chiến lợc con ngời" - Viện
Thông tin khoa học - xã hội Trung ơng, ST, H.1990; "Con ngời và công cuộc
đổi mới" - KX. 07, Kỷ yếu Hội thảo khoa học từ 28-29/7/1993 tại Thành
phố Hồ Chí Minh; "Phát huy nhân tố con ngời trong đổi mới quản lý kinh
tế" - Nguyễn Văn Sáu - Nxb Chính trị quốc gia, H.1993; "Nâng cao tính
tích cực xã hội của ngời lao động Việt Nam trong quá trình đổi mới" -
Nguyễn Văn Hạ - Luận án PTS Khoa học Triết học, H.1996, "Nghiên cứu
con ngời , giáo dục, phát triển và thế kỷ XXI" - Chơng trình khoa học công
nghệ cấp Nhà nớc, H.1995.
Một số tác giả khác lại tiếp cận theo hớng xem xét những động lực
kích thích tính tích cực của con ngời trong sự nghiệp đổi mới ở nớc ta:
Hoàng Chí Bảo: "Một số vấn đề chính sách xã hội ở nớc ta hiện nay" - Nxb
Chính trị Quốc gia, H.1993; Bùi Đình Thanh (chủ biên): "Chính sách xã
hội - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" - Nxb KHXH, H.1993. Các Nghị
quyết Trung ơng 4, 5, 7 (khóa VII), Văn kiện Đại hội lần thứ VIII các nghị
3
quyết Trung ơng 2, 5 (khóa VIII) cũng đề cập tới các vấn đề bồi dỡng và
phát huy nguồn lực con ngời, v.v

Tuy vậy vẫn cha có một công trình khoa học nào nghiên cứu một
cách cơ bản và hệ thống vấn đề: "Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự
nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay" dới góc độ chủ nghĩa xã hội khoa
học. Công trình luận án là cố gắng bớc đầu của tác giả nhằm góp phần vào
việc nghiên cứu đề tài đã nêu ra.
3. Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Dựa trên những vấn đề chung về lý luận và phơng pháp luận nghiên cứu
nguồn lực con ngời, tác giả tập trung nghiên cứu về nguồn lực thanh niên.
Từ thực tiễn đổi mới đất nớc trong một thập kỷ vừa qua (1986-1996)
và những yêu cầu mới đặt ra hiện nay, tìm hiểu thực trạng đào tạo, sử dụng
nguồn lực thanh niên ở nớc ta, xu hớng và triển vọng phát huy nguồn lực
thanh niên theo yêu cầu phục vụ CNH, HĐH đất nớc.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
4.1. Mục đích
Làm rõ vai trò của nguồn lực thanh niên trên cơ sở phân tích những
yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp CNH, HĐH, từ đó đề xuất một số quan
điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát huy và phát triển nguồn nhân lực thanh
niên đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH, theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
4.2. nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau đây:
- Xác lập những quan điểm về nguồn lực con ngời, nguồn lực thanh
niên trong mối quan hệ với phát triển.
- Phân tích vị trí, vai trò, nhiệm vụ của thanh niên đối với sự nghiệp
CNH, HĐH ở nớc ta.
5
- Đánh giá thực trạng đào tạo sử dụng, phát huy nguồn lực thanh niên
trong thời gian qua.
- Phân tích khả năng và triển vọng phát triển nguồn lực thanh niên,
xác định phơng hớng và những giải pháp chủ yếu để phát huy và phát triển

1.1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực
Con ngời với t cách là nguồn lực của sự phát triển
Lịch sử loài ngời là lịch sử các nền văn minh, văn hóa gắn liền với
lịch sử phát triển con ngời. Con ngời luôn giữ vị trí trung tâm trong mọi
hoạt động thực tiễn nhằm cải biến giới tự nhiên, sáng tạo lịch sử để phát
triển và hoàn thiện chính bản thân mình. Con ngời là giá trị sản sinh ra mọi
giá trị, là thớc đo mọi giá trị, trong nó còn chứa đựng rất nhiều tiềm năng và
giá trị cha thể phát hiện và khai thác hết. Vì thế, nhiều thời đại lịch sử đã đi
qua, nhiều chế độ xã hội đã từng thay thế nhau, song vấn đề con ngời vẫn
không hề mất đi ý nghĩa thời sự của nó. Ngày nay, để thực hiện mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của CNXH thì nghiên cứu con ngời với t cách là
nguồn lực của sự phát triển là phơng diện mang nhiều ý nghĩa lý luận và
thực tiễn cần phải đặc biệt quan tâm.
Có những căn cứ nào giúp ta nhận thức đợc điều nói trên?
- Trong sự phát triển xã hội, bằng hoạt động thực tiễn, con ngời đã in
dấu ấn sáng tạo của bàn tay và trí tuệ của mình vào giới tự nhiên, không
ngừng chinh phục thế giới khách quan, cải tạo hoàn cảnh, thực hiện sự phát
triển lực lợng sản xuất mà trong lực lợng sản xuất đó, con ngời là nhân tố
quan trọng, quyết định nhất. Mặt khác, chính con ngời hởng thụ những
thành quả của sự phát triển đó. Không có con ngời thì không có bất cứ một
sự phát triển nào. Điều đó có nghĩa là, con ngời tồn tại với hai t cách: vừa
là chủ thể, vừa là đối tợng của quá trình phát triển lịch sử. Con ngời làm nên
lịch sử của chính mình. Lịch sử là lịch sử của con ngời, do con ngời, và vì
7
con ngời. Lịch sử đó không chỉ là một chuỗi biến cố đợc tạo nên bởi những
điều kiện khách quan, mà còn là một chuỗi những hoạt động do con ngời
thực hiện. Các Mác đã nhấn mạnh: Không phải lịch sử dùng con ngời làm
phơng tiện để đạt mục đích của nó, mà lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động
của con ngời theo đuổi những mục đích nhất định [35, 141].
- Con ngời là sản phẩm của hoàn cảnh, nhng chính con ngời lại là tác

Chung quy lại, các nhà Triết học trớc Mác đã không đặt đúng vị trí con ngời
là trung tâm của quá trình hình thành và phát triển của lịch sử. Mác là nhà t t-
ởng đầu tiên đã đem lại những kiến giải triết học đúng đắn, sâu sắc và triệt
để nhất vấn đề bản chất con ngời. Mác đã dùng quan điểm duy vật biện
chứng để lý giải bản chất xã hội của con ngời với phạm trù "con ngời hiện
thực" và "hoạt động thực tiễn". Cái chìa khóa thực sự của vấn đề là ở đấy. Ông
viết: "Bản chất con ngời không phải là một cái gì trừu tợng cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời là tổng hòa những
quan hệ xã hội" [36, 11].
Nói cách khác, Mác đã xuất phát từ con ngời thực tiễn để kiến giải
các quan hệ giữa ngời với ngời, ngời với tự nhiên cùng các qui luật xã hội
chi phối những quan hệ đó.
Qua luận đề nổi tiếng đó, ít nhất chúng ta cũng thấy Mác đã không
làm mất cá nhân mà hoàn toàn ngợc lại. Mác khẳng định cá nhân, khẳng
định sự kỳ diệu, sự phong phú vô hạn của tính cách con ngời. Sự phong phú
của mỗi cá nhân tùy thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã hội
của nó. ở đây, cá nhân đợc hiểu với t cách là những cá nhân sống, là kẻ
sáng tạo các quan hệ xã hội, cũng có nghĩa là chủ thể đích thực sáng tạo ra
lịch sử, thúc đẩy lịch sử tiến lên. Hơn thế nữa, Mác còn xem: mỗi cá thể là
sự tổng hợp không chỉ của các quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử của các
quan hệ đó, tức là sự đúc kết của toàn bộ quá khứ.
Từ quan điểm hoạt động thực tiễn của con ngời, Mác còn cho rằng:
bản chất con ngời chính là nhân cách tìm thấy bản chất trong các mối
9
quan hệ xã hội. Nội dung của nhân cách nằm trong nội dung của các quan
hệ xã hội. Thông qua quá trình thâm nhập vào các quan hệ xã hội, nhân cách
đợc hình thành, phát triển và có vai trò nhất định trong các quan hệ mà cá
nhân đã thâm nhập. Mặt khác, con ngời với bản chất xã hội, gắn bó chặt chẽ
với đồng loại đến mức không thể tách rời, đồng thời lại là những cá nhân tự
biểu hiện và tự khẳng định mình với ý nghĩa ngày càng đầy đủ. Mức độ giải

nhiên dù phong phú đến đâu cũng có thể bị khai thác cạn kiệt. Hơn nữa, các
nguồn lực vật chất khác nh vốn, kỹ thuật, công nghệ cũng sẽ không đợc sử
dụng có hiệu quả nếu không có những con ngời có trí tuệ và đủ năng lực để
làm chủ nó. Trái lại, trí tuệ con ngời lại là nguồn lực vô hạn, luôn luôn phát
triển, có khả năng tái sinh và tự tái sinh không bao giờ cạn kiệt nếu chúng
ta biết nuôi dỡng, thúc đẩy nó phát triển. Thông qua quá trình đó, năng lực
nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngời phát triển. Nhờ đó, con ngời
đã in dấu ấn sáng tạo của bàn tay và trí tuệ vào giới tự nhiên, ngày càng khám
phá ra những tài nguyên thiên nhiên mới hoặc sáng tạo ra những nguồn tài
nguyên vốn không có sẵn trong tự nhiên, thực hiện sự phát triển lực lợng
sản xuất, trong đó con ngời là nhân tố quan trọng, quyết định nhất. Đó cũng
chính là quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác. Rõ ràng,
con ngời là nguồn lực chủ yếu, vững chắc, lâu bền nhất trong sự phát triển
của nhân loại, là nguồn lực của mọi nguồn lực.
Tuy nhiên cần lu ý rằng, trong khi nhấn mạnh tới vai trò con ngời và
nguồn lực con ngời (nhân lực) trong đó có nguồn lực trí tuệ, nguồn lực
thanh niên, chúng ta không bao giờ đợc tuyệt đối hóa nó, không đặt nó ở
bên ngoài những điều kiện lịch sử - hiện thực, không tách rời nó khỏi mối
liên hệ hữu cơ với những nguồn lực khác.
Con ngời chỉ thực sự thể hiện đợc vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo
của nó đối với lịch sử khi nó đợc giải phóng khỏi tình trạng bị áp bức, bóc
lột và nô dịch, khỏi những hoàn cảnh và môi trờng xã hội làm tha hóa bản
chất của nó nh điều đã xảy ra trong xã hội TBCN.
11
Cũng nh vậy, nguồn lực con ngời, đặc biệt là năng lực trí tuệ của nó
chỉ phát huy đợc vai trò, sức mạnh trong thực tế khi nó dựa trên cơ sở
những nguồn lực khác, lấy đó làm điều kiện, tiền đề cho mọi hoạt động và
phát triển của con ngời trong thực tiễn.
Mối liên hệ biện chứng giữa hoàn cảnh và con ngời, giữa khách quan
và chủ quan luôn luôn phải là điểm tựa phơng pháp luận để nhận thức đúng

ngời xuống hàng sinh vật, làm tha hóa bản chất ngời. Lao động bị tha hóa
trong CNTB là một bằng chứng nh thế. Do đó, khi xem xét Con ngời là
nguồn lực thì ở đây, trong khái niệm "nguồn lực" này, cần phải hiểu đúng
biện chứng giữa phơng tiện với mục đích (mục tiêu). Việc khai thác, sử
dụng, phát huy nguồn lực con ngời phải nhằm phát triển nó, hoàn thiện nó,
xuất phát từ sự giải phóng nó, làm cho nó trở thành tự do, có hạnh phúc
xứng đáng với con ngời.
Con ngời với t cách là nguồn lực quan trọng của sự phát triển chính là
con ngời đại diện cho chất lợng và trình độ trí tuệ mới. ở đây, việc đề cao
sức mạnh của trí tuệ, của sự hoàn thiện nhân cách nói chung cũng có nghĩa
là đề cao năng lực phát triển ngời của con ngời. "Con ngời đợc đặt lên th-
ợng đỉnh của toàn bộ phát triển tiến hóa, thế giới tinh thần của con ngời đợc
coi là tinh hoa của lịch sử văn minh và là thần tợng của khoa học và nghệ
thuật" [59, 309]. Đó là những con ngời đang vơn tới những chất lợng mới
trong hoạt động thực tiễn làm cho nỗ lực chủ quan phù hợp với biện chứng
phát triển khách quan hết sức phức tạp và sinh động của đời sống. Những
con ngời ấy đang phá vỡ các quan niệm xơ cứng, bảo thủ, giáo điều để tự
khẳng định khả năng và diện mạo của mình. Nó phải khẳng định mình nh
một cá thể cụ thể sáng tạo trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng xã hội.
Mác đã luôn phê phán tình trạng kìm hãm sự phát triển cá nhân, không có
cá tính và bản sắc riêng. Mỗi cá nhân phải là một chủ thể có năng lực tự
biểu hiện và phát triển.
Thế giới ngày nay đang chuyển nhanh sang nền văn minh trí tuệ, tin
học. Những phát minh khoa học kỹ thuật mới đã thực sự làm thay đổi cách
13
nghĩ, cách sống của con ngời. Lực lợng sản xuất không còn bó hẹp trong
phạm vi mỗi quốc gia, dân tộc mà đã vợt ra ngoài biên giới mỗi nớc. Thế
giới tuy có những mâu thuẫn nhng lại nơng tựa vào nhau để cùng tồn tại và
phát triển. Trong hoàn cảnh đó, chỉ quốc gia nào tìm đợc lối đi thông minh
nhất, tập trung đầu t vào nguồn lực con ngời một cách đúng đắn và có hiệu

quần chúng nhân dân là lực lợng cơ bản, to lớn của mọi cuộc cách mạng, là
chủ thể của sự sáng tạo lịch sử.
Trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn để cải biến tự nhiên
và xã hội, con ngời đồng thời tự biểu hiện, tự khẳng định những sức mạnh
tiềm tàng của chính mình trong đời sống hiện thực. "Nhân tố con ngời" là
một phạm trù triết học xã hội đã khái quát hóa vai trò và ý nghĩa của con
ngời trong hoạt động nêu trên.
Song, thực tiễn và kinh nghiệm đã cho thấy, không phải lúc nào NTCN
cũng đợc xem xét, đánh giá đúng mức và việc lý giải bản chất của nó lại
càng là một vấn đề hết sức phức tạp. Trong nhiều tác phẩm và tài liệu khoa
học, vấn đề NTCN đợc xem xét từ các góc độ khác nhau: Triết học, Tâm lý
xã hội, Xã hội học, Chính trị học, CNXH khoa học Một quan niệm đúng
đắn về NTCN có thể và cần phải bao hàm những mặt sau đây:
Thứ nhất: NTCN là một nhân tố xã hội để phân biệt nhân tố "ngời"
với các nhân tố khác (kinh tế, kỹ thuật ) trong đời sống xã hội, quan trọng
hơn là để khẳng định sức mạnh tổng hợp của chủ thể ngời trong quan hệ với
khách thể là xã hội mà hoạt động thực tiễn của nó đem lại sự phát triển, tiến
bộ của xã hội.
ở đây cần chú ý: "NTCN" hay "yếu tố con ngời" thống nhất nhng
không đồng nhất hoàn toàn với "con ngời"tuy NTCN không thể tách rời
khỏi con ngời, khỏi cộng đồng ngời trong xã hội. Giữa con ngời và nhân tố
con ngời có chỗ giống nhau và cũng có chỗ khác biệt. NTCN thống nhất,
(đồng nhất trong khác biệt) với con ngời trên một ý nghĩa nào đó. Nó biểu
thị tiềm năng, năng lực, nguồn lực ngời của sự phát triển. Nó đối diện trực
15
tiếp với các nhân tố khác. Con ngời với tính cách là một thực thể sinh vật -
xã hội, con ngời nh một tổng thể những phẩm chất xã hội và tự nhiên của
nó. Còn nhân tố con ngời lại nhấn mạnh tới khía cạnh chủ yếu, quan trọng
nhất của con ngời, của đời sống con ngời, đó là khía cạnh hoạt động. Nó
nhằm nêu bật vai trò đặc biệt đó của con ngời, của cộng đồng ngời đối với

độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng ngời với thế giới tự
nhiên, với thế giới đồ vật do loài ngời sáng tạo, với xã hội và với bản thân,
là bản sắc độc đáo của mỗi cá nhân, là cái "tôi" của mỗi con ngời, biểu hiện
tính độc lập tơng đối của con ngời đối với ngời khác. Nói tới nhân cách là nói
tới phẩm chất con ngời, là t cách đạo đức con ngời trong sự không tách rời
với năng lực thực tiễn của nó, giúp cho nó thực hiện đợc chức năng và biểu
hiện những giá trị xã hội của nó giữa những ngời khác. Đạo đức và năng lực
là hai thành phần cốt yếu tạo nên nhân cách của một con ngời, trong đó đạo
đức là gốc, là cơ sở cho việc định hớng và phát triển năng lực của mỗi ngời.
Nhng "trong thực tế vẫn thờng thấy một cách hiểu, cách nghĩ có phần đơn
giản là, đồng nhất đạo đức với nhân cách và khi nhấn mạnh mặt chủ yếu
của nhân cách là đạo đức thì lại thờng không thấy hết ảnh hởng quan trọng
của năng lực đối với sự phát triển của nhân cách và dờng nh đạo đức có
thể thay thế cho những thiếu hụt nào đó của năng lực mà vẫn không ảnh h-
ởng gì tới nhân cách" [1, 10-11]. Cái để phân biệt ngời này với ngời khác là
nhân cách và cái đặc trng tiêu biểu, tổng hợp nhất về giá trị con ngời cũng
chính là nhân cách của nó.
Do đó, nói đến nhân cách cũng là nói đến chức năng xã hội của con
ngời, là nói lên tính chủ thể của con ngời trong quá trình phát triển lịch sử
xã hội. Nó phản ánh và thể hiện những yêu cầu, những chuẩn mực xã hội đề
ra theo cách thức riêng của nó, với những sắc thái riêng thuộc về cá nhân
của nó. Đó cũng là tính toàn vẹn, là năng lực tự nhận thức, tự đánh giá, tự
điều chỉnh hoạt động và hành vi của mình để thực sự trở thành một cá nhân
xã hội. Nói cách khác, nhân cách con ngời chính là mức độ phù hợp giữa
thang giá trị, thớc đo giá trị của từng ngời với thang giá trị, thớc đo giá trị
17
của gia đình, cộng đồng, giai cấp, dân tộc và nhân loại. Mức độ phù hợp
càng lớn thì nhân cách càng cao. Nhân cách của con ngời sinh thành và
phát triển theo con đờng từ bên ngoài vào nội tâm, chủ yếu theo qui luật
lĩnh hội di sản văn hóa vật chất và tinh thần do các thế hệ trớc tạo ra, các

nguyên lao động đơng nhiên có sẵn trong quá trình sản xuất, nên chỉ "khai
thác" một cách triệt để mà không tính đến nhu cầu vật chất và tinh thần
chính đáng của họ. Họ đã quên mất sự phát triển sản xuất không phải là
mục đích tự thân, mà là tiền đề cần thiết, là cơ sở hiện thực để nhân đạo hóa
hoàn cảnh, để phát triển giá trị chủ yếu của xã hội là con ngời.
Quan niệm lệch lạc này chịu ảnh hởng của khuynh hớng kỹ trị, xem
con ngời nh là công cụ của máy móc. Thực tế thì con ngời trong bất cứ thời
đại nào vẫn là nhân tố quyết định của lực lợng sản xuất, là chủ thể của các
quan hệ xã hội; máy móc, khoa học kỹ thuật đều do con ngời làm ra, đều
sản sinh từ chiều sâu trí tuệ - nhân bản của con ngời nhằm đáp ứng yêu cầu
thực tiễn của hoạt động ngời, của sự phát triển đời sống xã hội.
- Do nhận thức sai lầm (về phơng diện thế giới quan triết học) trong
việc giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa quần chúng và cá
nhân trong lịch sử, dẫn đến chỗ, chỉ xem xét NTCN trên bình diện hoạt
động của các cá nhân tiên tiến, xuất chúng, những vua chúa, những anh
hùng và lãnh tụ. Trong khi đó, đông đảo quần chúng nhân dân lao động -
lực lợng to lớn của sự phát triển xã hội - lại bị bỏ qua, bị che khuất. Do đó,
những ngời lao động "bình thờng" không tự khẳng định đợc vai trò và
những sức mạnh tiềm tàng của bản thân mình trong quá trình phát triển,
hoàn thiện nhân cách. Mặt khác, do nhấn mạnh một chiều và quá đáng tính
cộng đồng, tính tập thể, hay thành phần giai cấp v.v , ngời ta đã thiếu chú
ý đầy đủ đến cá nhân, nhân cách của con ngời. Không quan tâm giải quyết
các nhu cầu phát triển về khả năng sáng tạo của con ngời với t cách là một
cá nhân có nhân cách sáng tạo độc lập. Quan niệm sai lầm này có khi phủ
nhận cả những nhu cầu và lợi ích chính đáng của cá nhân bắt nguồn từ
những động cơ tự nhiên, bản năng của con ngời. Vậy mà trên thực tế, lợi ích
19
lại là cái kênh nhạy cảm và quan trọng, là giao điểm của các quan hệ xã hội
để từ đó có thể khơi dậy và phát huy tính tích cực xã hội của con ngời hớng
vào mục tiêu phát triển vì con ngời, do con ngời.

xã hội đều hớng vào phát triển nguồn nhân lực, chuyển đối tợng khai thác
vào chính bản thân con ngời.
Thật vậy, nhìn từ góc độ toàn cầu cũng nh mỗi quốc gia, quá trình
phát triển của xã hội đang đợc sắp xếp lại dựa trên những lợi thế của nguồn
lực con ngời với hàm lợng trí tuệ ngày một tăng. Nhờ tiến bộ khoa học - kỹ
thuật và công nghệ hiện đại mà tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm ngày
một giảm đáng kể. Những năm đầu của thế kỷ XX, nếu tỷ lệ này là 9/10, thì
bớc vào những năm 90 phần tỷ lệ đó đã giảm xuống chỉ còn 1/5, nhng khối
lợng sản phẩm đạt đợc đã tăng gấp 50 lần so với 80 năm về trớc. Theo dự
báo, đến năm 2010, phần tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm chỉ còn
1/10 [51, 148]. Điều đó có nghĩa là đã diễn ra quá trình dịch chuyển từ
dùng nhiều sức lao động giản đơn sang lao động dùng nhiều trí tuệ hơn để
sản xuất ra sản phẩm. Theo xu thế này, nguồn nhân lực trở thành vũ khí
cạnh tranh cốt tử của mỗi quốc gia.
Với cách tiếp cận nh vậy, quan niệm về nguồn lực con ngời (nguồn
nhân lực) không đồng nhất với nguồn lực. Dới dạng tổng quát, nguồn lực đ-
ợc hiểu là một hệ thống các nhân tố cả vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ
có khả năng góp phần thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một quốc gia
dân tộc. Còn nguồn lực con ngời hay nguồn nhân lực (Human resources) đ-
ợc xem xét trên hai bình diện: "số lợng (số dân) và chất lợng con ngời, bao
gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất"
[21, 4]. "Là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lợng thể hiện
sức mạnh và sự tác động của con ngời trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã
hội" [12, 9]. Nói cách khác, "đó là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả
năng sáng tạo, chất lợng - hiệu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển
21
của con ngời" [2, 14]. Phơng diện cá thể của nguồn lực con ngời đợc hiểu
nh là những yếu tố tạo thành cơ sở của hoạt động và cơ sở để phát triển của
một con ngời với t cách là một cá nhân và trong tính chỉnh thể của đời sống
xã hội của nó khi những nhu cầu sống của nó bộc lộ ra và đợc thực hiện. Đó

"Ngoài thể lực và trí lực, cái làm nền nguồn lực con ngời còn là kinh
nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con ngời, là
nhu cầu và thói quen tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng
đồng" [2, 15] vào việc tìm tòi, vào sự sáng tạo vì lợi ích của cá nhân, của
cộng đồng và của toàn xã hội. Cấu thành nguồn lực con ngời xét từ phơng
diện cá thể cũng nh xã hội, đó là một tổng hợp các năng lực và giá trị về sức
khỏe (thể lực), trí lực (trí tuệ) và đạo đức, nhân cách.
Theo ý nghĩa đó, nguồn lực con ngời bao chứa trong đó toàn bộ sự
phong phú, sự sâu sắc, sự đổi mới thờng xuyên các năng lực trí tuệ, năng
lực thực hành, tổ chức và quản lý, năng lực chuyên môn và tính tháo vát
trong công việc. Nói cách khác, nguồn lực con ngời là một tập hợp các chỉ
số phát triển con ngời, là hành trang mà nó có đợc nhờ sự hỗ trợ của cộng
đồng xã hội và của sự kết hợp sức mạnh thể lực, trí lực và đạo đức, là chất l-
ợng văn hóa mà bản thân nó và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao
động sáng tạo vì sự tiến bộ và phát triển. Nguồn lực con ngời còn có thể
hiểu là một thứ vốn cùng với vốn tài chính tạo nên dòng chủ đạo của phát
triển kinh tế - xã hội.
Trớc đây, chúng ta hiểu về nhân lực còn có phần đơn giản, thờng chỉ
chú trọng đến là sức ngời, sức vóc, thể chất chứ cha hiểu đợc trong sức ngời
có điều cực kỳ quan trọng là trình độ trí tuệ và phẩm chất đạo đức - tinh
thần của con ngời. Một cách hiểu đúng đắn, toàn diện về nguồn lực con ng-
ời đòi hỏi phải quan tâm thích đáng cả mặt bằng lẫn đỉnh cao dân trí, nhng
cần phải đặc biệt coi trọng mặt đạo đức, nhân cách, lý tởng của con ngời
làm nên giá trị của nguồn lực con ngời. Phát triển dân trí, nhân tài, nhân lực
phải trên nền tảng chung là nhân cách. Trình độ phát triển của nhân cách
23
bảo đảm cho con ngời thực hiện tốt chức năng xã hội của nó, phản ánh khả
năng sáng tạo của con ngời trong hoạt động thực tiễn xã hội của nó. Do đó,
giáo dục đào tạo phải theo hớng cân đối giữa dạy ngời, dạy chữ, dạy nghề,
trong đó dạy ngời là mục tiêu cao nhất nh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng

"lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại" [31, 430]. Do đó, trong
khi vật chất có thể bị phá hủy hoàn toàn thì các kỹ năng của con ngời nh công
nghệ, bí quyết tổ chức và nghị lực làm việc sẽ còn mãi và nguồn lực con ng-
ời rốt cục mới là yếu tố quan trọng nhất cho phát triển kinh tế.
Nhiều nhà lý luận Việt Nam đã khẳng định: khoa học kỹ thuật dù
phát triển mạnh mẽ đến đâu, nó chứng minh sức mạnh to lớn nh thế nào thì
cũng không thể đẩy con ngời ra ngoài quá trình sản xuất xã hội nói chung
mà chỉ thay thế những hoạt động lao động nặng nhọc phức tạp, giúp con ng-
ời có điều kiện tốt hơn để học tập, nghiên cứu phát triển trí tuệ.
Kinh nghiệm Nhật Bản và các "con rồng" châu á cho thấy, nếu chỉ
có lao động đông và rẻ thì không thể tiến hành CNH, HĐH. Điều quan
trọng hơn hết là phải có lực lợng lao động đạt trình độ cao. Chính nhờ lực l-
ợng lao động có trình độ chuyên môn cao mà Nhật Bản và các nớc NICs
vận hành có hiệu quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sản xuất ra nhiều mặt
hàng có khả năng cạnh tranh với các nớc công nghiệp phát triển trên thế giới.
Những mục tiêu phát triển nguồn nhân lực có trở thành hiện thực hay
không phụ thuộc từ nhiều yếu tố nh nhận thức, các biện pháp thực hiện, khả
năng nội sinh và ngoại sinh, vào điều kiện cụ thể của mỗi nớc và phụ thuộc
vào từng giai đoạn trong từng thời kỳ phát triển. Để tạo ra một sự phát triển
vợt bậc, đúng hớng, đẩy nhanh tốc độ tăng trởng và phát triển bền vững
trong quá trình hòa nhập vào đời sống của thế giới hiện đại, Đảng ta đã xác
định: "Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, xét về thực chất là
chiến lợc con ngời". "Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý
nghĩa quyết định của nhân tố con ngời, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi
nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia
25

Trích đoạn Giáo dục phải lấy nâng cao mặt bằng dân trí tối thiểu làm cơ sở: Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ với trí thứ c nhất là trí thức trẻ. Phải tập trung đào tạo hớng nghiệp cho học sinh thiết thực hơn Song song với giáo dục định hớng nghề nghiệp cho thanh niên, cần tăng cờng đầu t phát triển mạnh giáo dục dạy nghề để nâng cao chất lợng lao Nâng cao chất lợng đội ngũ giáo viên.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status