tóm tắt luận án tiến sĩ văn hóa kinh doanh hoa kỳ và bài học kinh nghiệm đối với việt nam - Pdf 19

1
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với tiến trình phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế, văn hóa kinh doanh ngày càng được các nước chú ý, vì lợi
ích kinh tế mà nó đưa lại. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều “cú sốc văn hóa” trong hợp
tác kinh doanh toàn cầu. Có tình trạng này là do mỗi một quốc gia đều có nền văn
hóa riêng, có cách thức, tập quán kinh doanh riêng, và khi giao lưu hội nhập quốc
tế, nếu không có những hiểu biết về văn hóa của nước đối tác, quan hệ song
phương sẽ gặp nhiều thách thức to lớn là điều hiển nhiên.
Hiện nay, trong các đối tác kinh tế lớn của Việt Nam, Mỹ là đối tác quan
trọng bậc nhất. Kim ngạch thương mại Việt Nam và Mỹ tăng lên nhanh chống,
năm 2012 đạt khoảng 25 tỉ đôla. Tổng giá trị vầu tư của Mỹ vào Việt Nam đạt gần
15 tỉ đôla, xếp thứ 7 trong số các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cả hai nước
đều cho rằng, kết quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Trong
nhiều nguyên nhân hạn chế tiềm lực hợp tác phát triển kinh tế giữa hai bên, có một
nguyên nhân quan trọng chính là rào cản về văn hóa kinh doanh.
Chúng tôi cho rằng, để thu được nhiều lợi ích trong quan hệ kinh tế Việt
Nam - Hoa Kỳ, bên cạnh những vấn đề khác, việc hiểu biết về văn hóa kinh doanh,
tập quán kinh doanh của Hoa Kỳ (và các nước khác) sẽ tránh được những “cú sốc”,
giảm nhẹ những thiệt hại kinh tế (chẳng hạn do những vụ kiện chống bán phá
giá…), sẽ mở rộng đường cho doanh nhân Việt Nam làm ăn thành công hơn với
các đối tác Hoa Kỳ. Chính vì vậy, có thể cho rằng, việc nghiên cứu văn hóa kinh
doanh của Hoa Kỳ hiện nay là vô cùng cấp thiết và quan trọng.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về văn hóa kinh
doanh, tuy nhiên chưa có nhiều các công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ
thống về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ.
Về nghiên cứu văn hóa kinh doanh của Việt Nam, có bốn hướng sau:
Về cơ sở lý luận của VHKD: Đáng chú ý là các nghiên cứu của Phạm Xuân

có trình bày giản lược về văn hóa kinh doanh; tiêu biểu có cuốn “Văn hóa Bắc Mỹ
trong toàn cầu hóa” của Lương Văn Kế (NXB Giáo dục Việt Nam, 2011). Về lĩnh
vực văn hóa xã hội Hoa Kỳ, cho đến nay cuốn “Hồ sơ văn hóa Mỹ” của nhà
nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc (NXB Thế giới, 1995). Về sách dịch, có cuốn sách
“Cuộc sống và các thiết chế ở Mỹ”(NXB Chính trị Quốc gia, 2000), tác giả
Doughlas K.Steveson, và cuốn “Phong cách Mỹ”, của Gary Althen (NXB Văn
Nghệ, 2006), cuốn “Văn minh Hoa Kỳ” (NXB Thế Giới, 1998) của Jean - Pierre
Fichou đã đề cập khá toàn diện nhiều lĩnh vực liên quan đến xã hội, văn hóa, kinh
doanh và con người Mỹ. Những công trình nghiên cứu trên có đề cập, nhưng
không nhiều, đến văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ.
2.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Có thể sắp xếp các công trình nghiên cứu nước ngoài về văn hóa kinh doanh
Hoa Kỳ theo các hướng sau:
Hướng nghiên cứu về thực tiễn biểu hiện văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ:
Các công trình nghiên cứu theo hướng này có “Working With Americans: How to
Build Profitable Business Relationships” của Allyson Stewart-Allen and Lanie
Dansnow (2002) (NXB Prentice Hall), cuốn “Americans at Work: A Guide to the
Can-Do People” của Craig Storti (2004) (NXB Nicholas Brealey Publishing), cuốn
“Trust and Honesty: America's Business Culture at a Crossroad” của Tamar
Frankel (2008) (NXB Oxford University Press), hay cuốn “When we are the
foreigners: What Chinese think about working with Americans”, của Orlando R.
Kelm, John N. Doggett, Haiping Tang (2011), NXB CreateSpace v.v., đã đưa ra
những minh chứng về sự khác biệt giữa tính cách của người Mỹ, văn hóa kinh
doanh Mỹ, với văn hóa kinh doanh của các quốc gia khác. Các nghiên cứu trên đã
3
trình bày một cách khái quát những đặc tính biểu hiện chung trong văn hóa kinh
doanh của Hoa Kỳ, như các giá trị, niềm tin, nghi thức, thậm chí là “ngôn ngữ”
trong kinh doanh của người Mỹ v.v. Đây có thể được xem như là những hướng dẫn
để người nước ngoài có được những hiểu biết tổng quan về kinh doanh, văn hóa,
và suy nghĩ của người Mỹ.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục dích nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và
thực tiễn về VHKD Hoa Kỳ để làm rõ những đặc tính tiêu biểu của VHKD Hoa
Kỳ; So sánh và tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa VHKD Hoa Kỳ và
Việt Nam; từ đó nêu một số bài học kinh nghiệm cho các nhà quản lý, doanh nhân
Việt Nam nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh với đối tác Mỹ một cách hiệu quả
hơn.
4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở hình thành và phát triển những đặc tính tiêu biểu của
văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ.
- Phân tích và lý giải những tương đồng và khác biệt trong đặc tính văn hóa
kinh doanh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
- Nêu một số bài học kinh nghiệm, góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn
gợi ý cho các doanh nhân Hoa Kỳ và Việt Nam có thể làm việc, kinh doanh với
nhau một cách hiệu quả, từ đó thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và
Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là VHKD Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đây là một
khái niệm rất rộng, mở và chưa có được sự nhất trí chung giữa các nhà nghiên cứu.
Chính vì vậy, luận án đã xác định và giới hạn đối tượng nghiên cứu là nghiên
cứu VHKD Hoa Kỳ dưới góc độ đặc tính kinh doanh của người Mỹ (tính cách đặc
trưng trong kinh doanh của người Mỹ), cụ thể là nghiên cứu đặc tính văn hóa kinh
doanh tiêu biểu của người Mỹ trong các hoạt động kinh doanh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian: nghiên cứu những vấn đề văn hóa kinh doanh hiện nay
(thập niên đầu thế kỷ XXI) của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, văn hóa, hay văn hóa kinh
doanh luôn là dòng chảy mang tính kế thừa và phát triển, do vậy luận án cũng sẽ
phải tiến hành nghiên cứu có tính lịch sử văn hóa kinh doanh ở một số nơi cần

Luận án gồm phần mở đầu, 3 chương, phần kết luận và tài liệu tham khảo. 3
chương của luận án có nội dung chủ yếu sau:
Chương I: Tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn
văn hóa kinh doanh hiện nay.
Chương II: Xem xét nhân tố tác động, cũng như tiến trình hình thành và
phát triển của VHKD Hoa Kỳ dưới góc độ lịch sử xã hội, và kết hợp với các kết
quả nghiên cứu thực tiễn từ các mô hình VHKDHK để làm sáng tỏ VHKD Hoa Kỳ
dưới góc độ đặc tính dân tộc Hoa Kỳ, thông qua việc chỉ ra những đặc tính tiêu
biểu của người Mỹ trong kinh doanh.
Chương III: Tập trung làm sáng tỏ những nét tương đồng và khác biệt giữa
Văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ và văn hóa kinh doanh Việt Nam. Đưa ra những bài
học kinh nghiệm giúp cho doanh nhân Hoa Kỳ và Việt Nam có thể làm việc, kinh
doanh với nhau một cách hiệu quả, từ đó thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế giữa
Hoa Kỳ và Việt Nam.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ VĂN HÓA KINH DOANH
1.1. Khái quát về văn hóa kinh doanh
1.1.1. Định nghĩa văn hóa kinh doanh
Định nghĩa văn hóa
Văn hóa là một phạm trù đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong
nước đề cập. Chúng có rất nhiều định nghĩa. Trước đây, Kroeber và Kluckolm
(1952) đã sưu tầm được khoảng trên 160 định nghĩa về văn hoá. Đến năm 2002, tại
Hội nghị về văn hóa do UNESCO tổ chức tại Mêhicô, người ta đã thống kê được
trên 200 định nghĩa và đến nay, con số đó vẫn tiếp tục tăng lên.
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, luận án khái quát lại: văn hóa là tất cả
những thứ mà các thành viên trong một xã hội có, suy nghĩ và hành động.
Ba từ “có”, “suy nghĩ” và “hành động” trong khái quát về văn hóa nêu trên có
thể giúp chúng ta xác định được 3 thành phần cốt lõi khi đề cập đến văn hóa. Thứ
nhất, để con người ta “có” một cái gì đó dưới giác độ văn hóa, thì chúng phải được
xuất hiện như là các đối tượng vật chất cụ thể. Thứ hai, khi con người ta “suy

mục đích nghiên cứu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án.
. Hình 1.1: Các lớp cấu thành của Văn hóa kinh doanh
7
1.1.2. Các lớp cấu thành của văn hóa kinh doanh
Harris và Moran (1999) hay Trompenaars (2000) đã chia văn hóa kinh doanh
thành ba lớp cắt chính: (1) lớp bên ngoài: các sản phẩm cụ thể; (2) lớp giữa: các
chuẩn mực và giá trị cơ bản; và (3) lớp lõi:các giả định cơ bản (hàm ý) hay các giá
trị mặc nhiên. Có thể hiểu là, lớp bên ngoài cùng của văn hóa kinh doanh, là những
sản phẩm cụ thể, dễ dàng nhận thấy được của văn hóa kinh doanh, như cách thức
giao tiếp trong kinh doanh, đàm phán, cách thức ăn mặc trong giới kinh doanh,
cách thức ứng xử trong kinh doanh .v.v…, sau đó chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu các
lớp văn hóa kinh doanh bên trong, đó chính là các giá trị, các chuẩn mực, các
thông lệ ẩn sâu trong lòng mỗi một quốc gia, chúng không hiển thị một cách trực
tiếp, và khó xác định hơn nhiều so với lớp văn hóa kinh doanh bên ngoài
1.1.3. Các đặc trưng của văn hóa kinh doanh
Theo nghiên cứu của Dương Thị Liễu (2008) và của Phùng Xuân Nhạ và cộng
sự (2010), văn hóa kinh doanh là văn hóa của một lĩnh vực đặc thù trong xã hội, là
một bộ phận trong nền văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội. Vì vậy, yếu tố này cũng
mang những đặc điểm chung tương đồng với các đặc trưng của văn hóa như tính
tập quán, tính cộng đồng, tính dân tộc, tính chủ quan, tính khách quan, tính kế
thừa, tính học hỏi và tính tiến hóa. Nhưng kinh doanh là một hoạt động có những
nét khác biệt so với các hoạt động khác, nên văn hóa kinh doanh còn có những nét
đặc trưng riêng phân biệt với văn hóa trên các lĩnh vực khác. Điều này được thể
hiện rõ nét ở hai đặc trưng sau: Thứ nhất, văn hóa kinh doanh xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của thị trường. Thứ hai, văn hóa kinh doanh phải phù hợp với trình
độ kinh doanh của chủ thể kinh doanh.
Chúng ta không thể nhận xét nền văn hóa của một quốc gia là tốt hay xấu,
cũng như không thể khen chê văn hóa kinh doanh của một chủ thể kinh doanh là
hay hoặc dở, bởi thực chất yếu tố này luôn phù hợp với trình độ phát triển kinh
doanh của họ. Do đó, cần học cách chấp nhận và học hỏi văn hóa hóa kinh doanh

Phần dưới đây sẽ minh họa hai xu hướng nghiên cứu VHKD cơ bản này với
lý thuyết và mô hình của Edgar H. Shein và Richard D. Lewis.
1.3.1. Văn hóa công ty: Lý thuyết và mô hình của Edgar H. Schien
Edgar H. Schein là một trong các nhà lý thuyết nổi tiếng nhất về văn hóa công
ty, hay văn hóa tổ chức. Trong cuốn sách “Văn hoá tổ chức và lãnh đạo "(1992)
của mình, Edgar H. Schein định nghĩa: “Văn hóa tổ chức là loại quy ước cơ bản
do một nhóm người nghĩ ra, phát hiện hay xây dựng nên để giải quyết những
vấn đề về sự thích ứng với bên ngoài và sự hòa nhập bên trong. Những quy ước
này phải được coi là có hiệu lực và là chuẩn mực để các thành viên mới của tổ
chức thấm nhuần và tuân thủ”.
Như vậy, theo Shein, văn hoá doanh nghiệp hay văn hoá tổ chức được hiểu là
một hệ thống hữu cơ các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do các
thành viên trong doanh nghiệp đó sáng tạo và tích luỹ trong quá trình tương tác với
môi trường bên ngoài và hội nhập bên trong tổ chức, nó đã có hiệu lực và được coi
là đúng đắn, do đó, được chia sẻ và phổ biến rộng rãi giữa các thế hệ thành viên,
như một phương pháp chuẩn mực để nhận thức, tư duy và cảm nhận trong mối
quan hệ với các vấn đề mà họ phải đối mặt.
Mô hình cấu trúc văn hóa công ty 3 tầng của Shein
9
Theo Edgar H. Schein, văn hoá doanh nghiệp có ba tầng giá trị: (1) các giá trị
hữu hình, (2) các giá trị được chấp nhận và (3) các giá trị (quan niệm) nền tảng.
Giữa các tầng văn hoá này có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau. Các nhà
lãnh đạo doanh nghiệp muốn xác lập các giá trị văn hoá nền tảng cho doanh nghiệp
của mình, thì trước hết phải làm cho các thành viên chấp nhận và trở thành phổ
biến. Đến lượt mình, các giá trị nền tảng sẽ quyết định việc lựa chọn các giá trị văn
hoá ở các tầng bên ngoài và chỉ những giá trị nào phù hợp với các giá trị văn hóa
nền tảng mới có thể được lựa chọn và phổ biến.
Như vậy, được các yếu tố văn hóa của công ty, và có khả năng phân tích mối
quan hệ giữa các giả định về giá trị nền tảng của công ty với thực tiễn hoạt động
đang diễn ra trong công ty. Qua đó, các nhà lãnh đạo có thể xây dựng, thay đổi,

Những đặc tính văn hóa kinh doanh của mỗi quốc gia sẽ tác động tới suy nghĩ
và hành động của các cá nhân, hay của các nhà quản lý làm việc trong môi trường
văn hóa đó. Vì vậy, một số hướng dẫn chung để làm việc trong môi trường đa văn
hóa là rất quan trọng, để có thể làm việc hiệu quả trong môi trường đó.
Bảng 1.1. Đặc tính doanh nhân trong ba loại hình văn hóa
(Đơn tuyến – Đa tuyến – Phản hồi) của Lewis
Đơn tuyến
(Linear-active)
Đa tuyến
(Multi-active)
Phản hồi
(Reactive)
Lần lượt làm từng việc
một
Làm nhiều việc cùng
một lúc
Phản hồi hành động của
đối tác
Lên kế hoạch trước theo
từng bước
Thường chỉ lên kế hoạch
tổng thể
Nhìn vào các nguyên tắc
chung
Định hướng dựa trên kết
quả
Định hướng dựa trên
quan hệ
Định hướng dựa trên sự
hòa hợp

với công việc cá nhân
Đan xen công việc chung
với công việc cá nhân
Liên kết công việc chung
với công việc cá nhân
Tuân thủ luật lệ Thường không tuân theo
luật lệ
Giải thích luật lệ một cách
linh hoạt
Hợp đồng là cơ sở ràng Hợp đồng được xem là Hợp đồng là bản thông báo
11
buộc các bên văn bản lý tưởng trong
một thế giới lý tưởng
nội dung và có thể đàm
phán lại
Địa vị gắn với kết quả
công việc
Địa vị gắn với quen biết
và uy tín quần chúng
Địa vị gắn với thừa kế và
giáo dục
Tối thiểu khoảng cách
quyền lực
Tối đa khoảng cách
quyền lực
Tuân theo khoảng cách
quyền lực đã định ra
Tính hợp lý và khoa học
chi phối suy nghĩ hơn tôn
giáo

2.2.1. Nhân tố con người và con người kinh doanh Hoa Kỳ
Nước Mỹ ra đời và phát triển đã tập hợp những con người từ khắp nơi trên thế
giới, và nước Mỹ trở thành một trong những nước đa chủng tộc đặc biệt của thế
giới. Người Mỹ có những đặc tính chung của cả cộng đồng nước Mỹ, cũng như
những đặc tính riêng của các cộng đồng chủng tộc khác nhau. Điều này tạo nên sự
đa dạng và phức tạp của con người và văn hóa Mỹ. Nhân tố con người và văn hóa
Mỹ đã góp phần thúc đẩy VHKD Mỹ phát triển. Người Mỹ nhìn chung có tính
12
cách đặc trưng như chủ nghĩa cá nhân với quyền và tự do cá nhân được luật pháp
bão trợ, đa dạng và tôn trọng lẫn nhau, mạnh mẽ và sáng tạo, có tinh thần kinh
doanh độc lập tự chủ…Những tính cách này đã tạo nên tính cách doanh nhân Mỹ.
2.2.2. Về thế chế chính trị Hoa Kỳ.
Có thể cho rằng, nhân tố thể chế chính trị xã hội Mỹ là môi trường tích cực cho
người dân Mỹ phát huy những sở trường của mình, thể chế đó bảo đảm cho người Mỹ
tự do kinh doanh không giới hạn vì lợi ích của mình và lợi ích của quốc gia. Chính
nhân tố thể chế này góp phần tạo nên môi trường mở rộng lớn, làm cho văn hóa kinh
doanh Hoa Kỳ có tính chủ động sáng tạo, đổi mới mạnh mẽ và năng động hơn rất
nhiều so với các nước khác.Thể chế chính trị Mỹ cũng tạo điều kiện cho sự phát triển
kinh doanh Hoa Kỳ ở trong và ngoài nước, góp phần tạo nên những thế hệ doanh nhân
Hoa Kỳ với rất nhiều người nổi tiếng, có đóng góp tích cực cho nước Mỹ và thế giới.
Chính những điều này đã tiếp tục tạo nên môi trường phát triển kinh tế, phát triển kinh
doanh và tạo nên một nền VHKD Hoa Kỳ phát triển cao, và nhiều nước đã có thể học
hỏi kinh nghiệm từ nền văn hóa kinh doanh này.
2.2.3. Sự hình thành, phát triển kinh tế-xã hội và nền văn hóa Mỹ
Điều kiện lịch sử, cơ cấu dân cư và quá trình phát triển kinh tế, xã hội và văn
hóa đã hình thành tính cách Mỹ, hay phong cách của người Mỹ, được thể hiện
trong các nguyên tắc của đời sống chính trị- kinh tế-xã hội Mỹ, cũng như chiến
lược phát triển của Mỹ.
Điều này cũng thể hiện rõ nét trong các hoạt động kinh tế, kinh doanh ở Hoa
Kỳ; các hình thức tổ chức sản xuất xã hội (trong công nghiệp, giao thông vận tải

công nghệ và làm chủ công nghệ cao, có tính cạnh tranh cao nhằm chiến thắng
trong cạnh tranh kinh doanh, thâm nhập sâu rộng vào thị trường các nước, tôn
trọng luật pháp kinh tế trong nước và của các nước khác, cũng như các quy định
của các thể chế kinh tế quốc tế. Khi hiểu về thực chất văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ
như vậy, chúng ta có thể cho rằng, triết lý kinh doanh Hoa Kỳ có thể là triết lý
làm chủ mọi mặt về lao động, công nghệ, cạnh tranh, thị trường, nắm vững
nguyên tắc trò chơi và luôn có tính nhân văn, nhằm kinh doanh có lợi nhuận
cao trên toàn cầu, vì lợi ích của mình, của quốc gia và của thế giới, liên tục phát
triển.
2.2.5. Những tác động của giao lưu quốc tế
Những tác động của giao lưu, quan hệ quốc tế đối với nền văn hóa Hoa Kỳ
được thể hiện qua rất nhiều hình thức, nhiều loại hình và các mối quan hệ khác
nhau, như quan hệ kinh tế, chính trị, an ninh toàn cầu, giao thoa văn hóa toàn
cầu…Trong kinh doanh quốc tế của Hoa Kỳ, những đặc trưng này càng được nỗi rõ,
không chỉ có tác động tích cực (văn hóa kinh doanh làm ăn lớn, chống tham những
trong kinh doanh, phong cách giao lưu lịch thiệp của các doanh nhân…) mà còn có
những ảnh hưởng tiêu cực đối với các đối tác (tác phong nhanh nhẹn và mạnh mẽ,
thẳng thắn của doanh nhân Mỹ đôi chi cũng gây căng thẳng với những đối tác
phương Đông trầm tĩnh, ảnh hưởng đến kết quả ký kết hợp đồng…).
Những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển văn hóa kinh doanh Hoa
Kỳ nêu trên, theo chúng tôi, chỉ mới là những nhân tố chung nhất, xuất phát từ con
người Mỹ, môi trường tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội (thể chế) của nước Mỹ, các
mối quan hệ quốc tế của nước Mỹ và những tác động của mối quan hệ này đến văn
hóa kinh doanh Hoa Kỳ; những nhân tố bên trong, bên ngoài này sẽ hun đúc nên tinh
thần kinh doanh và tính cách kinh doanh của người Mỹ, từ đó, người Mỹ hình thành
nên triết lý kinh doanh của mình, để dẫn dắt tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Mỹ,
hoàn thiện nền văn hóa Mỹ, văn hóa kinh doanh Mỹ, nhằm tiếp tục phát triển hơn
nữa. Bên cạnh những nhân tố này, còn có nhiều nhân tố quan trọng khác cũng góp
phần tạo nên văn hóa kinh doanh Mỹ.
2.3. Thực tiễn VHKD Hoa Kỳ và so sánh qua một số mô hình

Trong các nền văn hóa bối cảnh cao, hợp đồng kinh doanh là văn bản dùng để
chính thức hóa một mối quan hệ kinh doanh đã được thiết lập từ trước, dựa trên
mối quen biết và tin tưởng lẫn nhau. Ngược lại, tại các nền văn hóa bối cảnh thấp,
hợp đồng kinh doanh thường cụ thể, chi tiết, và ít bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ cá
nhân. Như vậy, chúng ta có thể thấy các mối quan hệ kinh tế, kinh doanh và văn
hóa có những gắn bó rất chặt chẽ với nhau.
Văn hóa thời gian đơn tuyến / đa tuyến.
Chiều so sánh thứ hai của Hall liên quan đến việc doanh nhân tại các nền văn
hóa khác nhau thực hiện cấu trúc thời gian, hay quản lý thời gian như thế nào.
Các doanh nhân tại các nền văn hoá theo thời gian đơn tuyến thường tiến hành
công việc một cách tuần tự từng nhiệm vụ một cho đến khi toàn bộ công việc được
hoàn tất, có kế hoạch chi tiết các công việc, kiểm tra tiến độ công việc theo lịch
thời gian đề ra, bảo đảm hiệu quả cao cho công việc.
Ngược lại, những các doanh nhân thuộc nền văn hóa thời gian đa tuyến thường
tiến hành nhiều việc tại một thời điểm, với các mức độ chú ý khác nhau cho từng
việc. Đối với họ, thời gian là liên tục, di chuyển từ một quá khứ vô hạn, thông qua
15
hiện tại và tiến tới một tương lai vô hạn, nó không có cấu trúc cụ thể. Họ không
muốn bị áp đặt bởi một kế hoạch chi tiết, mà muốn thực hiện công việc theo lịch
trình riêng và hoàn thành tiến độ theo cách riêng của mình
2.3.2. Mô hình của Geert Hofstede
Các công trình nghiên cứu của Hofstede, tiêu biểu là cuốn “Culture’s
consequences” (1980), đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của việc nghiên
cứu văn hóa kinh doanh và quản lý xuyên văn hóa nói riêng trên thế giới hiện nay.
Các công trình nghiên cứu của ông tập trung vào nghiên cứu lý thuyết và thực
tiễn khác biệt trong quản lý đa văn hóa tại các quốc gia. Dựa trên 117.000 bảng câu
hỏi điều tra được tiến hành tại các chi nhánh của công ty IBM trên khắp thế giới
(tập trung tại 40 quốc gia lớn nhất thế giới, sau đó mở rộng ra trên 50 quốc gia,
trên 3 châu lục), Hofstede đã thiết kế một mô hình gồm bốn đại lượng hay còn gọi
là bốn chiều so sánh để phân loại đặc tính của các nhà quản lý, các doanh nhân, các

lập / mặc nhiên, (6) Định hướng thời gian, (7) Tự nhiên. Năm trong số bảy đại
lượng này liên quan đến mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau, hai đại
lượng còn lại mô tả quan hệ giữa con người với thời gian và tự nhiên.
Công trình nghiên cứu của Trompenaars và cộng sự đã lý giải một cách xuất
sắc cách thức để các doanh nghiệp, các nhà quản lý, các doanh nhân có thể ứng
phó với những vấn đề khác biệt văn hóa trong môi trường kinh doanh toàn cầu.
Hiện nay các công trình nghiên cứu của Trompenaars đã được sử dụng vào trên
1.000 các chương trình đào tạo về quản lý xuyên văn hóa trên 50 quốc gia, và được
các công ty hàng đầu thế giới ứng dụng và tham khảo như AT&T, Motorola,
Phillips, Volvo, Novartis Trompenaars cho rằng, văn hóa luôn biến đổi, do vậy
ông thường xuyên cập nhập các thang điểm số của từng quốc gia trong các nghiên
cứu điều tra của ông.
2.4. Các đặc trưng tiêu biểu của VHKD Hoa Kỳ
Dựa trên nghiên cứu về lịch sử và xã hội Hoa Kỳ, dựa trên kết quả nghiên cứu
về văn hóa kinh doanh của Hoa Kỳ, so sánh văn hóa kinh doanh quốc tế của Hall,
Geert Hofstede, Fons Trompenaars và của Richard D.Lewis, cũng như thực tiễn
văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ, đề tài rút ra một số đặc trưng tiểu biểu của VHKD
Hoa Kỳ như sau.
Chủ nghĩa cá nhân
Các doanh nhân Hoa Kỳ đề cao Chủ nghĩa cá nhân và thường suy nghĩ theo
quan điểm “cái tôi”. Trong hoạt động kinh doanh, họ thường rất quyết đoán, sẵn
sàng cạnh tranh và nỗ lực để đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Trong đàm
phán, với tư cách là người đại diện cho công ty, họ có khả năng ra quyết định độc
lập, ngay lập tức, bởi hệ thống quản lý phân quyền cao. Trong các công ty Hoa Kỳ,
nhân viên được tuyển chọn, thăng cấp, hay khen thưởng đều tùy thuộc vào tài
năng, kiến thức và kết quả công việc đã đạt được. Họ thường tự chịu trách nhiệm
đối với công việc của mình. Tất cả những điều này, đều thể hiện rất rõ đặc tính chủ
nghĩa cá nhân của Hoa Kỳ.
Coi trọng luật pháp hơn các mối quan hệ
Các doanh nhân Hoa Kỳ coi trong luật pháp hơn là các mối quan hệ. Tại Hoa

về sản xuất phân phối.
Thời gian là tiền bạc
Đối với các doanh nhân Hoa Kỳ, thời gian là tiền bạc là một thứ hàng hóa
khan hiếm. Do vậy, họ rất chú trọng tới việc sử dụng thời gian một cách khoa học
và hợp lý.
Phong cách giao tiếp trực tiếp, thẳng thắn, rõ ràng
Các doanh nhân Hoa Kỳ có phong cách giao tiếp trực tiếp, quyết đoán, tập
trung vào công việc, không hình thức, cởi mở, thẳng thắn, chính xác, cụ thể, và đối
đầu khi cần thiết. Đối với doanh nhân Hoa Kỳ, sự chỉ trích, hay không hài lòng,
thường được nêu ra một cách trực tiếp và cụ thể; những xung đột, hay bất đồng
quan điểm không bị nhìn nhận một cách tiêu cực, bởi họ xem sự khác biệt như là
một điều tất yếu, một điều lành mạnh và đáng giá. Chính tư tưởng tự do cá nhân đã
đảm bảo cho những tư tưởng, hay ý tưởng trái chiều nhau được trao đổi một cách
cởi mở, không hạn chế; tranh luận giữa các tư tưởng khác nhau được khuyến khích
khi làm việc.
CHƯƠNG III: VĂN HÓA KINH DOANH VIỆT NAM- HOA KỲ: SO
SÁNH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
3.1. Văn hóa trong kinh doanh Việt Nam và Hoa Kỳ: góc nhìn lịch sử,
kinh tế và xã hội
Sự khác biệt trong văn hóa hiện nay giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tạo nên
những đặc tính khác biệt trong kinh doanh giữa người Việt Nam và người Mỹ.
Đây là kết quả của tiến trình phát triển khác nhau qua nhiều thế hệ, trong đó sự
18
khác biệt về lịch sử, kinh tế và xã hội đóng một vai trò hết sức quan trọng. Thậm
chí, ngay cả yếu tố địa lý cũng góp phần tạo nên sự khác biệt này.
Các khác biệt chủ yếu là về các giá trị, niềm tin, và hành vi ứng xử. Xã hội
Việt Nam bắt nguồn từ nền văn hóa lúa nước, kinh tế tiểu nông, trải qua giai đoạn
phong kiến, rồi tiếp đến nền kinh tế tập trung thời bao cấp, đã thúc đẩy mạnh mẽ
hơn tư tưởng cộng đồng (mang tính làng xã), hay định hướng nhóm, bên trong mỗi
nhóm thường nhấn mạnh sự nhất trí, hòa đồng. Do vậy. mặt trái của thiên hướng

tiếp tục là một nét đặc trưng của con người Mỹ hiện nay.
Về mặt xã hội, trong một xã hội tự do kiểu Mỹ với nhu cầu thúc đẩy tự do
kinh tế, kinh tế thị trường, thì đặc tính cạnh tranh là điều hiển nhiên. Về mặt cá
nhân, người Mỹ luôn đối mặt với sự cạnh tranh ở trường học, nơi làm việc, thâm
chí cả trong vui chơi giải trí. Việc chấp nhận đối đầu cởi mở được minh họa khá rõ
19
trong hệ thống tư pháp của Mỹ, khi mà bị cáo được quyền đối chất trực tiếp với
người buộc tội họ. Tranh luận cởi mở được người Mỹ xem là một công cụ hữu ích
trong môi trường giáo dục, cũng như trong môi trường kinh doanh.
3.2. Văn hóa kinh doanh Việt Nam – Hoa Kỳ: góc nhìn từ các mô hình
nghiên cứu so sánh thực tiễn VHKD quốc tế
Trong phần này, các chiều so sánh văn hóa kinh doanh của Hall, Hofstede,
Trompenaars và Lewis, các học giả hàng đầu thế giới về quản lý quốc tế, sẽ được
phân tích để xác định những khác biệt văn hóa trong kinh doanh giữa Việt Nam và
Hoa Kỳ. Nghiên cứu của các học giả khác về thực tiễn kinh doanh của Việt Nam
và Hoa Kỳ cũng sẽ được tham khảo.
Các chiều so sánh trong các mô hình nêu trên có những chiều trùng nhau, có
những chiều khác nhau, song cách tiếp cận là tập trung so sánh, phân loại văn hóa
kinh doanh theo cách mà các doanh nhân, các nhà quản lý nhìn nhận về thời gian,
về công việc, về các mối quan hệ. Chính vì vậy, để để tiện lợi cho việc so sánh văn
hóa kinh doanh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, đề tài sẽ tập trung xem xét và phân tích
các chiều so sánh quan trọng được rút ra từ các mô hình trên, như sau: (1) nhìn
nhận vai trò của luật pháp (Luật pháp vs Quan hệ), (2) Nhìn nhận về địa vị và
quyền lực (Bình đẳng vs Cấp bậc), (3) Nhìn nhận vai trò cá nhân (Cá nhân vs
Nhóm), (4) Nhìn nhận về quan hệ công việc và cuộc sống riêng tư, (5) Nhìn nhận
về định hướng công việc (Kết quả vs Hòa hợp), (6) Nhìn nhận về thời gian (Thời
gian cố định vs Thời gian cao su), (7) Nhìn nhận về phong cách giao tiếp (Trực
tiếp vs Gián tiếp).
20
Bảng 3.1: Các chiều so sánh đặc tính doanh nhân

(3) Địa vị gắn với tuổi tác, giới tính, bằng
cấp, quen biết và các tiêu chí khác
Địa vị gắn với khả năng và thành quả
công việc đạt được
(4) Định hướng dựa trên sự hòa hợp Định hướng dựa trên kết quả
(5) Quan tâm nhiều đến gia đình Quan tâm nhiều đến bản thân
(6) Tránh đối đầu và tìm kiếm sự hòa hợp Chấp nhận đối đầu và cạnh tranh
(7) Giao tiếp ẩn ý: dựa trên bối cảnh, nhấn
mạnh giao tiếp phi ngôn ngữ, gián tiếp
Giao tiếp trực ý: ít dựa trên bối cảnh,
Giao tiếp bằng lời, trực tiếp
(8) Thời gian cao su Thời gian là hữu hạn
21
3.3. Văn hóa kinh doanh Việt Nam và Hoa Kỳ: Góc nhìn từ một số doanh
nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam
Phần này sẽ xem xét thực tiễn kinh doanh thông qua điều tra nghiên cứu một
số doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam, đặc biệt là liên quan đến sự khác biệt về
văn hóa kinh doanh mà các doanh nghiệp Mỹ phải đối mặt.
3.3.1. Miêu tả nghiên cứu điều tra
Các bảng hỏi điều tra đã được chúng tôi gửi tới 18 nhà quản lý của các công ty
và tổ chức Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam, trong các ngành khác nhau như hóa
chất, dược, dầu khí, da giầy và may mặc, công nghiệp chế tạo, vận tải, xây dựng,
thương mại và dịch vụ, tư vấn luật, phát triển phần mềm, du lịch, ngân hàng và
giáo dục quốc tế, đã được phỏng vấn (tham khảo thêm Phụ lục 3 trong Luận án về
các câu hỏi điều tra). Mười nhà quản lý trong số 18 người là người Mỹ, còn lại là
người Việt Nam làm cho các công ty Mỹ, hay có hoạt động kinh doanh với đối tác
Mỹ. Ngoài các bảng hỏi, trao đổi email và điện thoại cũng được thực hiện để làm
rõ thêm thông tin.
Mục tiêu của việc nghiên cứu điều tra:
• Làm rõ thêm sự khác biệt giữa văn hóa kinh doanh Mỹ và Việt Nam đã

tiêu chuẩn về môi trường, về lao động, hay cam kết xã hội.v.v., cũng như phải hiểu
doanh nhân Hoa Kỳ nghĩ gì, làm gì, phong cách kinh doanh của họ ra sao. Không
nắm vững những điều này, khó có thể hội nhập thành công trong kinh doanh với
người Mỹ, nhằm điều chỉnh thích nghi với những môi trường kinh doanh mới, với
những đặc tính văn hóa kinh doanh mới, rất khác biệt với các đặc tính của người
Việt Nam.
3.4.1. Thích nghi với văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ
Phần này trình bày một số bài học đối với doanh nhân Việt Nam, nhằm giúp
cho doanh nhân Việt Nam thích ứng tốt hơn, để từ đó có thể phát huy sự hiểu biết
của mình một cách linh hoạt và sáng tạo khi tiến hành kinh doanh và làm việc với
các đối tác Hoa Kỳ.
3.4.1.1. Nâng cao ý thức coi trọng kỷ cương và luật pháp
Các doanh nhân Hoa Kỳ coi trong kỷ cương và luật pháp hơn là các mối quan
hệ cá nhân. Ngoài ra, luật pháp của Mỹ rất phức tạp và chặt chẽ. Tại Mỹ có hai hệ
thống luật bang và liên bang với thẩm quyền riêng. Do vậy, khi làm ăn với người
Mỹ, các doanh nhân Việt Nam cần phải nâng cao ý thức về kỷ cương và pháp luật.
Khi đã ký kết hợp đồng kinh doanh, cần thực hiện đúng các qui định trong hợp
đồng, nếu không sẽ rất rắc rối khi phải đối mặt với tòa án, kiện tụng tốn kém.
3.4.1.2. Ý thức tầm quan trọng về thời gian và kế hoạch
Đối với các doanh nhân Hoa Kỳ, thời gian là tiền bạc, là một thứ hàng hóa
khan hiếm. Họ thích làm tuần tự từng việc một tại từng thời điểm, sau đó mới
chuyển sang việc khác. Họ cũng nhấn mạnh vào việc thực hiện công việc theo
đúng thời hạn qui định, đặc biệt liên quan đến lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, và
các vấn đề sản xuất phân phối. Người Mỹ rất coi trọng kỷ luật và đúng hẹn. Họ
luôn có mặt đúng giờ trong các cuộc họp, làm việc đúng giờ, và tôn trọng thời hạn.
Trong khi đó, tại Việt Nam thời gian mang tính cao su, các nhà quản lý ít chú
trọng đến hoàn thành công việc đúng thời hạn và lịch trình. Phong cách quản lý ở
Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi nền kinh tế kế hoạch tập trung trong một thời
gian dài, nên các hoạt động kinh doanh tại các công ty như quy hoạch sản xuất,
phân phối, dự toán ngân sách, đều do sự chỉ dẫn của nhà nước, do vậy, các nhà

trường kinh doanh quốc tế. Học hỏi những đặc tính văn hóa kinh doanh quốc tế
hiện đại, như của người Mỹ chính là mở rộng nguồn vốn “vô hình” quan trọng đối
với doanh nhân Việt Nam. Nguồn vốn văn hóa được xem là một tài sản cạnh tranh
vô giá mà lại ít tốn kém. Trong khi, cái giá phải trả cho việc không có vốn văn hóa
khi tham gia vào kinh doanh quốc tế lại có thể gây tác hại khôn lường. Việc nâng
cao tố chất doanh nhân Việt Nam chính là quá trình thực hiện chiến lược phát triển
nguồn nhân lực cho nền kinh tế Việt Nam hướng tới nền kinh tế thị trường phát
triển.
3.4.2.1. Phát triển tư duy kinh doanh mang tầm quốc tế
Thách thức lớn nhất với doanh nhân Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế đó
là chưa có được khát vọng và tư duy kinh doanh mang tầm quốc tế, họ chỉ nghĩ đến
việc xây dựng một công ty hàng đầu Việt Nam, ít khi nghĩ xa hơn tới việc xây
dựng các thương hiệu quốc tế, tham gia vào giải quyết các bài toán tiêu dùng cho
khách hàng mang tầm khu vực và toàn cầu.
Tham gia hội nhập, mỗi doanh nhân Việt Nam cũng đồng thời phải là “doanh
nhân quốc tế", với ý nghĩa là có tầm nhìn mang tầm quốc tê, có hoài bão, ý chí
kinh doanh quốc tế, và từ đó, đưa doanh nghiệp của mình ra khu vực và thế giới
một cách thành công, giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra.
3.4.2.2. Sáng tạo, đổi mới, dám làm, chấp nhận mạo hiểm, rủi ro
24
Đây là những tố chất hàng đầu của tinh thần doanh nhân mà các doanh nhân
Việt Nam khi hội nhập cần phải có. Sáng tạo nghĩa là tìm ra con đường đi của
riêng mình, dù rủi ro, mạo hiểm cũng cần phải tìm mọi cách vượt qua. Chỉ những
doanh nhân dám biến những ước mơ, những ý tưởng sáng tạo thành những sản
phẩm mới, dịch vụ mới; dám đối diện với các thách thức trong quá trình hội nhập
kinh tế mới có thể phát triển thành công.

KẾT LUẬN
Trong quá trình hội nhập, mở rộng quan hệ kinh doanh quốc tế sâu rộng như
hiện nay, nếu hiểu biết sâu sắc văn hóa kinh doanh sẽ là một “nguồn vốn” quan

ra các đặc tính văn hóa kinh doanh cơ bản của dân tộc Mỹ bao gồm: đề cao chủ
nghĩa cá nhân; coi trọng luật pháp hơn các mối quan hệ cá nhân; xu hướng tách
25
biệt trong kinh doanh, định hướng tự tạo lập, định hướng theo công việc và kế
hoạch; thời gian mang tinh đơn tuyến, tuần tự, thời gian là tiền bạc; phong cách
giao tiếp trực ý, thẳng thắn, rõ ràng.
Thứ tư, có thể thấy rằng, sự khác biệt trong tiến trình phát triển của lịch sử,
kinh tế, xã hội, cũng như về dân cư, địa lý, đã tạo nên những đặc tính khác biệt
giữa người Mỹ và người Việt Nam trong kinh doanh. Có một số điểm chính mà các
doanh nhân Việt Nam và Hoa Kỳ cần phải lưu ý khi kinh doanh với nhau. Thứ
nhất, Việt Nam là một xã hội coi trọng các mối quan hệ, trong khi Hoa Kỳ là một
xã hội coi trọng các nguyên tắc, luật pháp. Thứ hai, Việt Nam hướng về con người,
còn Hoa Kỳ hướng về kết quả công việc. Các doanh nhân Việt Nam thường cố
gắng tránh đối đầu và tìm kiếm sự hài hòa, trong khi các doanh nhân Hoa Kỳ lại
sẵn sàn cạnh tranh, coi trọng kết quả và thành tích đạt được. Thứ ba, các doanh
nhân Hoa Kỳ có phong cách giao tiếp trực ý, đi sâu vào trọng tâm vấn đề, trong khi
các doanh nhân Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ
và gián tiếp. Và cuối cùng, mặc dù đánh giá cao tầm quan trọng của thời gian,
doanh nhân Việt Nam không xem thời gian là một thứ hàng hóa xa xỉ, thời gian ở
đây mang tính luân hồi, luôn lặp đi lặp lại, trong khi các doanh nhân Hoa Kỳ lại
xem thời gian mang tính đơn tuyến, tuần tự, thời gian là tiền bạc.
Thứ năm, bài học đối với các doanh nhân Việt Nam khi tham gia vào những
thị trường phát triển như Hoa Kỳ, đó là các doanh nhân Việt Nam cần hiểu được và
ý thức được những khác biệt và tương đồng về văn hóa kinh doanh giữa Việt Nam
và Hoa Kỳ, để có những ứng xử hợp lý, không “phạm” vào những “vùng cấm”
trong làm ăn, mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ kinh doanh lâu bền giữa hai
bên. Mặc dù vậy, các bên đối tác cần có sự “hòa hợp” về những khác biệt văn hóa,
và cần phải tôn trọng, thân thiện vì mục đích hợp tác cùng phát triển.
Ngoài việc thích nghi với đặc tính văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ, các doanh
nhân Việt Nam cũng cần phải nâng cao tố chất doanh nhân Việt Nam trong môi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status