1
VNH3.TB16.61
QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ
SINH HOẠT CỦA CƯ DÂN LÀNG VIỆT CỔ ĐƯỜNG LÂM,
THỊ XÃ SƠN TÂY, HÀ TÂY.
CN. Nguyễn Thị Phương Anh
Viện Việt Nam học & KHPT
Đặt vấn đề
Trong hệ thống làng Bắc Bộ, Đường Lâm được biết đến là một vùng đất cổ, mang
cảnh quan của vùng trung du bán sơn địa với những
đồi gò đá ong thấp, những “rộc” sâu,
những ruộng ven sông với địa hình rất đa dạng, phong phú
1
.
Đường Lâm là vùng đất của một cộng đồng dân cư gồm 9 thôn hợp lại. Nơi đây
không chỉ là mảnh đất “địa linh” sinh “nhân kiệt” mà còn là một địa chỉ văn hoá có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc nghiên cứu tìm hiểu tập quán cư trú sinh hoạt của những cộng
đồng cư dân nông nghiệp cổ.
Đường Lâm là không gian còn lưu giữ rất nhiều đặc trưng sinh hoạt của làng Việt
truyền thố
ng với cơ cấu tổ chức làng xã khá đậm nét và nhiều tập tục phản ánh lối sống của
người xưa. Đã có không ít đề tài nghiên cứu về làng cổ Đường Lâm theo hướng chuyên
ngành nhưng nghiên cứu một cách tổng hợp theo phương pháp khu vực học thì hầu như
chưa có. Hơn nữa, nghiên cứu làng theo từng khía cạnh mà không tìm hiểu quan hệ tương
tác giữa các yếu tố thì sẽ rất khó nhận diện
được những đặc trưng tổng quát. Ngày nay,
trong quá trình đô thị hoá, những yếu tố truyền thống đang bị tác động của cuộc sống hiện
đại làm mất đi từng ngày nên việc triển khai nghiên cứu về làng cổ Đường Lâm theo hướng
Với ý nghĩa đó, khi nghiên cứu đời sống văn hoá của mỗi vùng, miền, khu vực, làng
xã chúng ta đều nhận thấy văn hoá ở đó thấm đẫm dấu ấn riêng của môi trường tự nhiên.
Làng cổ
Đường Lâm trước đây thuộc thị xã Sơn Tây tỉnh Hà Tây, nay thuộc Hà Nội,
cách trung tâm thị xã về phía Tây bắc 4 km (theo quốc lộ 32). So với các xã trong vùng, Đ-
ường Lâm là một xã lớn với diện tích tự nhiên là 800,25 ha, trong đó có 415 ha đất canh
tác, 385,25 ha đất thổ cư, dân số 9337 nhân khẩu với 1.937 hộ gia đình. Trung tâm làng cổ
Đường Lâm được xác định là thôn Mông Phụ, một thôn có dân số lớn, ở vào vị trí trung tâm
của làng.
Nằm trên vùng văn hoá cổ Sơn Tây - xứ
Đoài, Đường Lâm kẹp giữa sông Hồng và
các ngọn đồi đá ong thấp kéo dài của chân núi Ba Vì về phía Bắc, xen giữa những cánh
đồng, những dải đất trũng. Theo quan niệm xưa, Đường Lâm là đất đắc địa, nằm ở thế toạ
sơn vọng thuỷ: Lưng dựa vào núi Tản, mặt ngoảnh ra sông Hồng
3
.
Thị xã Sơn Tây, là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du Bắc Bộ, phía Tây và
phía Nam giáp với Thượng du và Trung du nên có đồi núi. Đất Sơn Tây không tốt như các
vùng khác mà đất ở đây có nhiều đá ong. Đó cũng là điểm làm nên nét đặc trưng sinh thái
xứ Đoài.
Sơn Tây đất đá ong khô
2
Trần Quốc Vượng: Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Giáo dục
3
GS. Trần Quốc Vượng. Đường Lâm dưới góc nhìn địa – văn hoá- lịch sử NXB Khoa học xã hội. Hà Nội 2005
3
Ăn cơm thì ít, ăn ngô thì nhiều
Đường Lâm ở vào vị trí rất thuận lợi cả về giao thông đường bộ và đường thuỷ.
t của xứ Đoài “đất đá ong khô”.
Đường Lâm xưa kia thuộc đất Phong Châu cổ kính, kinh đô của các Hùng Vương
thời dựng nước, một địa bàn đã có cư dân từ rất lâu đời và cũng là một trung tâm cư dân
4
Nguyễn Danh Phiệt. Viện Khoa học xã hội Từ bảo tồn, tôn tạo đến xây dựng khu di tích lịch sử – văn hoá Đường
Lâm.NXB Khoa học xã hội. 2005
4
quan trọng
5
. Thuở khai sinh lập địa nơi này
vốn là rừng rậm lau lách, cỏ dại mọc um tùm,
nhiều thú rừng ẩn nấp, đồng thời cũng là địa bàn sinh sống của người Việt cổ. Nhiều thế hệ
nối tiếp nhau khai phá, cải tạo thiên nhiên đã để lại cho nhân dân Đường Lâm thừa hưởng
một di sản quý giá, đó là những cánh đồng, những đồi gò và cả những rộc sâu có thể canh
tác lúa, màu, rau đậu và cây công nghiệp…
Đường Lâm thuộc vùng núi Ba Vì nên khí hậu th
ời tiết có sự phân hoá theo hướng
các sườn núi. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 25
0
C, cao nhất khoảng 27
0
C và thấp nhất
khoảng 20
0
C; lượng mưa trung bình năm 1800 - 2000 mm nhưng phân bố không đều. Lư-
ợng mưa trong mùa khô chỉ bằng 12 - 13% lượng mưa trong mùa mưa; lượng bốc hơi trong
mùa khô rất cao.
Đặng Văn Tu (Giám đốc Sở Văn hoá thông tin). Báo cáo khái quát về làng cổ Đường Lâm. 2006.
5
Địa bàn cụ thể mà chúng tôi đang nghiên cứu là làng cổ Đường Lâm, nơi đại diện cho
làng Việt vùng thượng châu thổ sông Hồng. Đứng trước điều kiện tự nhiên của vùng bán sơn
địa, con người ở đây đã tận dụng và thích ứng với điều kiện đó trong đời sống văn hoá sinh
hoạt (ăn, mặc, ở, đi lại và y dược học cổ truyền) như
thế nào ?
1. Ẩm thực và y dược cổ truyền
1.1. Ăn
1.1.1. Lựa chọn nguồn lương thực thực phẩm
Đường Lâm là một làng thuần nông truyền thống với 95% dân số hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp. Vì vậy, cũng như bao làng quê khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ làng
Đường Lâm tương đối đơn giản trong ăn uống. Thức ăn chính của họ là những sản phẩm
nông nghiệp do chính họ làm ra. A.G. Haudricourt đã từng nhận xét: “nông nghiệp và bếp
núc gắn liền với nhau; do đó, cảnh quan của một vùng đất giống như một tấm gương soi
bóng cách ăn uống của một làng quê”
7
. Điều đó rất đúng khi bàn về cái ăn, cái uống của
người dân Đường Lâm. Ở Đường Lâm thức ăn chủ yếu thiên về thực vật mà đứng đầu là cây
lương thực rồi đến cây hoa màu, rau củ quả. Có thể dễ dàng nhận thấy điều đó qua cơ cấu
bữa ăn thường ngày của người dân Đường Lâm là: Cơm - rau - cá - thịt. Món ăn thường
theo mùa vụ, và ph
ụ thuộc vào thực phẩm sẵn có trong vườn, trong nhà. Có nghĩa là bữa ăn
của người dân Đường Lâm chủ yếu dựa vào thảm thực vật của hệ sinh thái bán sơn địa.
Từ xưa đến nay một trong những nguồn thức ăn mà người dân có thể khai thác được
từ môi trường tự nhiên sông nước là thuỷ sản. Hầu như tất cả các loại cá, tôm, cua, ốc … mà
người dân đánh bắt đượ
c trong môi trường sông, hồ, ao, rộc… đều được chế biến, tận dụng
đưa vào bữa ăn hàng ngày.
lương th
ực thay thế, luôn có mặt trong bữa ăn của người nông dân Đường Lâm.
Với gạo, có hai loại chính là nếp và tẻ. Gạo nếp từ lâu trong đời sống của người dân
Đường Lâm được sử dụng hạn chế, chủ yếu được sử dụng vào các dịp lễ tết, giỗ chạp. Gạo
nếp cũng có hai loại chính là nếp cái hoa vàng và nếp tám thơm. Đây là hai loại gạo thơm
ngon có tiếng được kh
ắp nơi trong vùng biết đến. Gạo nếp, ngoài việc dùng để nấu xôi, chè,
làm bánh, kẹo… gạo nếp còn được dùng để nấu rượu, làm tương.
Gạo tẻ ở đây cũng có rất nhiều loại, có loại chỉ cấy vào vụ chiêm hoặc vụ mùa. Trong
số cây lúa tẻ được trồng ở đồng đất Đường Lâm thì có một vài loại nổi tiếng thơm ngon, có
độ dẻo cao như: gạo tám thơm, g
ạo rí ra, rí yêu.
Ngô, khoai, sắn là cây lương thực giữ vị trí quan trọng đứng kế tiếp sau cây lúa. Cây
ngô có mặt ở hầu khắp đồng đất Đường Lâm. Vì thế, không phải ngẫu nhiên ngô đã đi vào
đời sống và trở thành món ăn quen thuộc của người nông dân xứ Đoài. “Ăn cơm thì ít, ăn
ngô thì nhiều”. Bên cạnh cây ngô, cây khoai cũng được trồng khá nhiều. Nhiều nhất phải kể
đến khoai lang - là loại cây đóng vai trò làm cây lương thực phụ thay thế cho cơm. Ngoài ra,
người dân Đường Lâm còn trồng một số loại khoai khác như khoai tây, khoai sọ vừa dùng
làm lương thực, vừa làm thực phẩm. Sắn cũng là một trong những cây trồng đặc trưng của
vùng đất trung du đồi gò Đường Lâm. Cây sắn là loại thân cứng, dễ thích ứng với vùng đất
sỏi đá khô hạn, thường cho năng suất cao, được trồng cả ở trong vườn nhà, trên đồi gò hay ở
xung quanh nhà làm hàng rào. Cung cấp nguồn lương thực “chất bột” nuôi sống con người
và đàn gia súc lúc khó khăn, giáp hạt,
7
Thịt gia súc, gia cầm, thuỷ cầm như: trâu, bò, dê, lợn gà, ngan, vịt, chim… mà họ tự
nuôi trồng, tăng gia được cũng là để cung cấp nguồn thực phẩm cho người dân Đường Lâm,
đó cũng là một trong những thế mạnh phát triển chăn nuôi của vùng đất này.
Tuy nhiên, cũng giống như cơ cấu bữa ăn truyền thống của người Việt“Ăn cơm
thế cơm trong bữa phụ mà còn được sử dụng cả vào bữa ăn chính khi mất mùa hay lúc giáp
hạt.
Trước đây người ta hay nấu ngô hạt để ăn vào bữa sáng, tức là họ có thể cho hạt ngô
vào nồi đun sôi rồi chất rơm xung quanh để đốt (hay còn gọi là chàm ngô). Cách này người
8
dân Đường Lâm gọi là “ăn ngô vỏ”; hoặc ngô được luộc lên với nước vôi, đãi sạch vỏ, phơi
khô và khi ăn cũng nấu tương tự như trên - cách này gọi là “ăn ngô vôi”. Nếu bữa sáng ăn
không hết thì độn lẫn với gạo rồi nấu ăn vào bữa trưa hoặc bữa tối.
Với món khoai, họ cũng có thể độn cơm theo nhiều cách. Nếu là khoai tươi, họ cạo
v
ỏ, cắt từng khoanh, cho cùng với gạo đun lên - tức nấu như cơm nấu thường. Lúc cơm
chín, có khi người ta dùng đũa cái (đũa cả) nghiền nát khoai lẫn cơm để cho dễ ăn. Người
dân Đường Lâm gọi cách làm này là “đánh xéo”. Ngoài ra họ còn băm khoai phơi khô, rồi
lúc nấu cơm thì đãi (vo) lẫn với gạo và nấu như nấu cơm trắng. Tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh
của mỗ
i gia đình ở Đường Lâm mà tỷ lệ lương thực độn với cơm trong bữa ăn có khác nhau.
Không chỉ đối với người dân Đường Lâm mà đối với bất cứ người Việt nào cơm
luôn là thành phần quan trọng nhất trong bữa ăn. Cấu trúc một bữa ăn truyền thống của Việt
Nam thường là cơm, rau. Chất đạm chủ yếu thường là thuỷ sản; thịt động v
ật tuy cũng được
sử dụng trong bữa cơm nhưng không phải là món ăn thường xuyên; cơm được thổi từ gạo
tẻ; rau quả được trồng trong vườn; thuỷ sản do đánh bắt và nuôi trồng từ sông ngòi, ao hồ;
thịt lấy từ gia súc, gia cầm; Chất đốt để đun nấu chủ yếu tận dụng những loại phế liệu từ
nông nghiệp như: rơ
m, rạ, vỏ chấu, cây ngô, cây đậu
Cùng với sự phát triển của văn hoá sinh hoạt nói chung. Văn hoá ẩm thực của Đường
Lâm khá đa dạng và phong phú. Từ sản phẩm của các loại cây lương thực, nhiều món ăn
được chế biến. Trước hết phải kể đến xôi - một món ăn được sử dụng nhiều từ xưa tới nay ở
Đường Lâm. Phần lớn diện tích đất tr
khác đến. Ngày nay các loại quà bánh có tên gọi quen thuộc đã trở thành món quà đặc sản
của quê hương Đường Lâm. Có loại bánh đã trở thành một loại bánh thiêng, không thể thiếu
trong các ngày lễ thành hoàng của thôn
Đông Sàng như bánh tì tì (hay dân gian gọi là bánh
trôi).
Trong số 18 loại bánh chúng tôi đã thống kê được thì có đến 17 loại bánh được làm
từ gạo tẻ và gạo nếp. Loại bánh làm từ gạo nếp có số lượng nhiều hơn cả. Loại bánh có nhân
đỗ xanh và đường/mật cũng chiếm số lượng đa số 11/18. Tiếp đến là những bánh có nhân
được làm từ thịt/mỡ, hành. Lạc, vừng, khoai, sắn cũng là những nguyên liệu được sử dụng
theo thứ tự giảm dần trong các loại bánh có mặt ở Đường Lâm. Lá gai, mộc nhĩ, dừa là
những thứ nguyên liệu gia vị góp phần làm tăng thêm độ hấp dẫn của một số loại bánh cũng
có mặt.
Qua đó cho thấy bất cứ nông sản nào có mặt ở Đường Lâm, với sự cần cù, sáng tạo
và bàn tay khéo léo người dân ở đây đã chế biến ra đủ loại quà bánh làm phong phú thêm
món ăn cho quê hương và đã trở thành đặc sản ẩm thực của vùng quê bán sơn địa - xứ Đoài.
1.1.4. Thức ăn
Thức ăn là một bộ phận không thể tách rời cơm mà luôn đi cùng cơm để cấu thành
bữa ăn hàng ngày. Thức ăn trong bữa cơm hàng ngày, theo quan niệm của người Việt đồng
bằng Bắc Bộ nói chung, người Đường Lâm nói riêng là thứ để “làm trôi cơm”. Thức ăn
được chế biến từ hai nguồn chính: thực vật và động vật. Bên cạnh những thực phẩm tươi
10
sống được chế biến và nấu thành thức ăn sử dụng hàng ngày, người Đường Lâm còn chế
biến rất nhiều loại thức ăn dự trữ để ăn dần, chủ yếu bằng cách ủ men. Đó là nguồn thức ăn
có khả năng chống ôi, thiu, dễ tiêu hoá có nhiều vi khuẩn lành và có chất đề kháng cao phù
hợp với vùng có điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nguồ
n thức ăn sản xuất được theo
mùa.
Người Đường Lâm có nhiều kinh nghiệm được đúc kết qua thực tế trong việc chế
biến, bảo quản thức ăn quanh năm như ủ mốc làm tương, muối dưa cải, muối cà, phơi khô, ủ
11
cá, kho thịt và chế biến các món ăn mặn. Vì thế từ xưa đến nay khi nói đến tương ở Đường
Lâm thì câu nói “chồng thiu vợ thối ối người mê” vẫn được mọi người trong làng nhắc đến.
Cũng như tương, dưa cải, cà ghém cũng là những món lên men phổ biến trong bữa ăn
của dân Đường Lâm thường được ăn kèm với cơm trong bữa ăn hàng ngày. Ngoài ra, còn có
một món ăn cũng khá ph
ổ biến phải kể đến nữa là lạc rang giã nhỏ với muối và vừng để ăn
kèm với cơm vào buổi sáng hay trong những ngày mưa dầm gió bấc, người dân ngại ra đồng
lấy rau, chuẩn bị cho bữa ăn.
1.2. Uống
Nước uống ở Đường Lâm được nấu hay hãm từ các loại cây trồng trong vườn nhà, trên
đồi gò rất phong phú đa dạng, phù hợp với điều kiện thờ
i tiết nóng ẩm và đời sống dân dã
của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ nói chung và người nông dân xứ Đoài nói riêng .
Trước đây gần như cả làng Đường Lâm uống nước vối. Cây vối được trồng rất nhiều
ở bờ ao, hàng rào của các gia đình ở Đường Lâm. Thứ nước uống chát chát, nhưng dùng lâu
lại trở thành vị chát khó quên. Bên cạnh nước vối, cây chè cũng được trồng nhiều ở vùng đấ
t
đồi gò này. Lá chè tươi được hãm vào ấm rồi đem ủ nóng uống trong suốt cả ngày.
Ngày nay, nước chè là đồ uống quen thuộc của người dân Đường Lâm. Nước chè
tươi được dùng trong ngày thường và cả trong ngày lễ tết, đám tang, đám cưới Trung bình
ngày thường, mỗi gia đình ở Đường Lâm dùng từ 1 đến 2 lạng chè tươi, còn chè khô thì ít
hơn, chủ yếu dùng để tiếp khách. Chè ở Đường Lâm là sản phẩm đồ uống có hương v
ị đặc
trưng riêng và đặc biệt hơn khi được pha chè với nước giếng đào trên nền đá ong trong mát
thì độ ngon ngọt, tinh khiết của chè càng trở nên đậm đà, quyến rũ. Theo số liệu thống kê
của chúng tôi cho thấy trước đây ở Đường Lâm có tất cả 18 cái giếng cổ xây bằng đá ong,
xóm ít thì có 1 cái, xóm nhiều có đến 2, 3 cái. Hàng ngày người dân đi lấy nước từ giếng
làng về nấu ăn, đun nước pha chè uống cũng khá vất vả, nhất là những gia đình ở xa giếng.
Ca dao địa phương xưa có câu: “thứ nhất gần cha, thứ hai gần giếng, thứ ba gần chùa”.
tháng 5. Theo quan niệm dân gian, uống nước lá để rửa sạch đường ruột, tẩy những mầm
bệnh không cho chúng sinh sôi nảy nở. Phong tục uống nước lá vào ngày mùng 5 tháng 5
dường như chỉ còn thấy ở Đường Lâm.
Một loại đồ uống khoái khẩu được sử dụng rộng rãi trong các dịp giỗ tết, lễ chạp
cũng như trong bữa ăn thường ngày là rượu. Loại đồ uống này chủ yếu dành cho nam giới.
Cũng giống như các địa phương khác, ở Đường Lâm rượu được nấu từ gạo (nếp và tẻ) ngoài
ra rượu còn được nấu từ sắn, ngô.
1.3. Ăn trầu, hút thuốc
1.3.1. Ăn trầu
Ăn trầu là một phong tục cổ truyền ở Đường Lâm. Cau, trầu ở Đường Lâm được
trồng thành dãy trước nhà, hay c
ổng ra vào để phục vụ cho sở thích ăn trầu của người trong
gia đình. Khi nhai một miếng cau (tươi hoặc khô) với lá trầu quệt vôi cùng với miếng vỏ cây
chát, người ta thấy có vị thơm thơm cay cay rất dễ chịu. Nhai trầu còn giúp cho chân răng
13
chặt lại, khử mùi xú uế trong miệng, lại làm cho môi người nhai trầu tươi tắn (các cô, các
chị vì thế còn nhai trầu để làm duyên). Bởi vậy, khách đến chơi nhà cùng với bát nước chè
xanh là đĩa trầu được đem ra mời làm cho con người gần gũi, cởi mở với nhau hơn “miếng
trầu là đầu câu chuyện”. Tuy hiện nay tục ăn trầu ở Đường Lâm không còn phổ biến như
trước nữa song nó v
ẫn được dùng trong các nghi lễ để bày dùng trong các tiệc lễ (đám giỗ,
đám cưới, đám tang, lễ hội,…). Ở Việt Nam, từ thời cổ đại tục ăn trầu của các dân tộc miền
Bắc và miền Trung còn gắn liền với tục nhuộm răng đen “Người ta nhai trầu và nhổ ra một
thứ nước đỏ sậm. Ăn trầu được ưa thích như nghiện thuốc phi
ện vậy, ăn vào sẽ thấy người
khỏe khoắn và sảng khoái. Dần dần thứ nước đỏ do trầu tiết ra sẽ làm răng bị nhuộm màu
đỏ nâu sẫm, bọc ra ngoài lớp men răng tự nhiên một lớp “sơn” bóng để bảo vệ răng, đặc
biệt là chân răng và còn có tác dụng làm đẹp”
8
Bệnh sâu răng, nhức răng người ta lấy cây đùm đũm, mọc tự nhiên rất nhiều ở trong
vườn nhà, bờ ruộng. Rửa sạch vò nát, bôi hoặc nhét lá vào những chỗ răng sâu, ít ngày sau
là hết đau.
Bệnh đau dạ dày, rối lo
ạn tiêu hoá uống lá cây Cò khỉ (tên khác là Hoàn ngọc), hoặc
cây Cứt lợn hoa tím mọc dại trong vùng, hoặc tự trồng.
Khi bị đứt chân, dùng lá thuốc dấu, hoặc cỏ mồi, nõn chuối tiêu, lá xương sông. Tất cả
đều nhai nát, đắp trực tiếp vào chỗ chân, tay bị đứt thì máu cầm lại ngay vừa chống sát trùng
vết thương lại nhanh liền.
Khi mệt mỏi, mất ngủ người dân thườ
ng lấy lá cây lạc tiên mọc hoang dại trên đồi,
băm nhỏ rồi phơi thật khô cho vào đun sôi dùng như nước uống hàng ngày. Cây này mọc rất
nhiều ở trên đồi của thôn Cam Lâm.
Ngoài ra cảm, đau đầu khi trúng gió độc hay bị cảm lạnh, người Đường Lâm thường
hái lá ngải cứu, trầu không mỗi thứ một nắm và một củ gừng nhỏ đem nướng, đập nát, vò
lẫn vào nhau cùng với nửa chén rượ
u trắng đánh gió rất nhanh khỏi.
Bệnh ho cũng là bệnh thường gặp ở trẻ em được điều trị bằng cách lấy lá hẹ, lá cúc
móc, cánh hoa hồng bạch rửa sạch vò nát lấy nước pha với đường phèn cho trẻ uống.
Những người cấm khẩu, sốt cao lấy cả cây kinh giới giã nhỏ hòa với một ít đường,
muối cho uống. Nếu chỉ có kinh giới khô thì đem sắc l
ấy nước cho uống.
Nếu bị dị ứng, ngứa lấy lá kinh giới giã nhỏ xoa khắp người. Cây thì đun lấy nước
tắm.
Ngoài những bài thuốc được mô tả trên đây, ở Đường Lâm còn có nhiều bài thuốc
Nam đặc trị các chứng ho nôn ra máu, ho lao, ghẻ lở hắc lào, cảm cúm, trúng gió, bà đẻ bị
sót nhau, sai khớp, đau xương nhức nhối toàn thân và mụn nhọt…
Có thể nói Đường Lâm là một trong những làng điể
n hình ở Việt Nam còn lưu giữ
được nhiều kinh nghiệm chữa bệnh dân gian truyền thống. Làng còn có một kho dược liệu
giữ cho áo luôn vuông không bị nhàu nát khi gánh gồng vận chuyển, phục vụ cho sản xuất,
thu hoạch mùa màng.
Những lúc ở nhà người phụ nữ Đường Lâm thường mặc váy quây màu nâu hay màu
đ
en cùng với chiếc áo cánh đơn giản hoặc với cái yếm (yếm đào). Yếm có hai loại (yếm cổ
xây và yếm cổ xẻ). Loại yếm cổ xây làm rất khó vì người khâu phải khéo tay mới có thể
khâu ôm xít vào cổ được. Ngày nay loại yếm cổ xây vẫn được các bà, các chị trong vùng ưa
chuộng còn loại cổ xẻ thì ít được dùng. Trang phục truyền thống ở Đường Lâm thường chú
trọng sự thoáng mát. Trong các ngày lễ hội
ở Đường Lâm, những người tham gia đoàn tế
gồm cả đàn ông và đàn bà đều mặc trang phục riêng. Đàn bà mặc áo dài màu nâu sẫm,
quàng khăn nhung vận quần màu đen bằng vải phin đi guốc mộc, quai mây (guốc ngày xưa
được làm bằng gốc cây tre già nay được làm bằng gỗ xoan). Đàn ông đội khăn lượt thâm,
bên trong mặc áo cánh, bên ngoài mặc áo thâm. Trời nóng thì mặc áo bằng sa tanh, the, lụa
9
Trịnh Sinh, Nguyễn Thị Chịch: Âu Lạc và các tộc Việt, Khảo cổ học, số 1.1982; 16
hoặc vải nâu; trời rét thì mặc áo kép, áo bông, hoặc áo vải. Các cụ già từ 70 tuổi trở lên thì
chống gậy làm bằng cành tre nhỏ hay gỗ nhẹ. Các bà khi đi lễ chùa đeo cổ dây tràng hạt. Các
cụ ông cụ bà khi bước chân lên đình, chùa quần áo chỉnh tề, rửa chân tay sạch sẽ. Cụ nào
trong gia đình có người mới mất thì không được làng giao cho nhiệm vụ trông coi đình,
chùa trong khoảng thời gian là ba năm.
Đến đầu thế kỷ XX, khi có sự ti
ếp xúc giao lưu với văn hoá phương Tây, các bộ âu
phục, trang phục theo kiểu phương Tây dần dần có mặt trong trang phục thường ngày của
người dân Đường Lâm. Cùng với sự phát triển của công nghiệp dệt may, hiện nay trang
phục và cách may mặc ở Đường Lâm đã thay đổi nhiều từ chất liệu, màu sắc cho đến kiểu
17
đáo sẵn có ở địa phương do quá trình phong hoá tạo nên mà không nơi nào có được. Dân địa
phương đã khai thác loại đất này làm vật liệu chính để xây nhà, xây tường bao Đá ong là
loại đất đồi màu vàng, trong thành phần có tỉ lệ sắt cao, được pha trộn với đất đá và nhiều
hợp chất khác. Ưu điểm của loại đất này là khi còn ở dưới lòng đất thì rất mềm, có thể dễ
dàng sắn được thành từ
ng viên, nhưng sau khi lấy lên khỏi mặt đất, do tác dụng của không
khí thì viên đất rắn lại, càng để dãi nắng dầm mưa viên gạch càng rắn chắc nên có độ bền
cao.
Vì thế, rất có lý khi nhiều nhà nghiên cứu đặt cho Đường Lâm cái tên “Làng Việt cổ
đá ong” với hàm ý chỉ một làng Việt cổ với nhiều di tích kiến trúc sử dụng đá ong làm vật
liệu xây dựng từ cổng làng, đường làng ngõ xóm, giếng nướ
c, nhà ở, tường bao, lăng mộ,
cống rãnh thoát nước tất cả đều được làm từ đá ong.
Kết cấu nhà ở truyền thống của người dân Đường Lâm cho thấy sự gắn bó với cảnh
quan thiên nhiên thật là mật thiết. Nhà nào cũng có sân, vườn, chăn nuôi gia súc, gia cầm,
làm nghề phụ. Hầu hết các gia đình đều chọn hướng nam hoặc ghé nam (đông nam hay tây
nam) cho căn nhà của mình với quan niệm “lấy v
ợ hiền hoà, làm nhà hướng nam” để vừa
tránh được nắng hắt vào mùa hè vừa tránh được gió mùa đông bắc.
Trung bình nhà ở Đường Lâm có diện tích trên dưới 300 m
2
và nhà nào cũng có
khuôn viên. Truyền thống này đến nay vẫn còn được duy trì. Xung quanh khuôn viên nhà ở
thường được bao bọc bằng tường đá ong trét mạch đất. Cổng nhà bao giờ cũng mở lệch về
một phía, không hướng thẳng vào gian chính giữa nhà. Đó là một phong tục kiêng kỵ khi
làm nhà ở đây. Cổng vào sân cũng xây bằng gạch đá ong, cửa cổng thường làm bằng gỗ và
có then cài tay quay. Loại then này có tác dụng người ở ngoài hay người ở trong cổng đều
có thể đóng mở ra vào giao lưu với nhau thể hiện tính cộng đồng giao hữu với nhau trong
làng.
n nay
một số ít nhà đã sửa chữa, xây kín hiên bằng gạch, trát xi măng từ nền nhà đến trần và để
cửa sổ thông ra sân hoặc dựng cửa chớp bằng gỗ thay cho cánh dại bằng tre truyền thống.
Một số chuyên gia nghiên cứu nhà ở truyền thống cho rằng: “Hiên là một không gian
chuyển tiếp, trung gian giữa nội và ngoại, giữa nhà và vườn. Hiên cũng đóng vai trò khá
quan trọng trong sinh hoạt của gia đình: là nơi ph
ơi quần áo, nơi chứa đựng khoai sắn, nơi
kê gác những dụng cụ nông nghiệp, nơi người ta ngồi đan lát, vá may ”
11
Cho nên nếu nhìn
bề ngoài hiên thì khó thấy hết được giá trị lịch sử, kiến trúc của một ngôi nhà cổ ở Đường
Lâm.
Các ngôi nhà ở Đường Lâm đều được dựng theo kiểu 4 hoặc 6 hàng chân cột. Các cột
đều được dựng trên những hòn kê bằng đá. Lòng nhà của loại nhà có 4 hàng chân hẹp hơn nhà
6 hàng chân. Để mở rộng thêm không gian sử dụng nội thất, một số nhà có thêm một hàng nữa
ngoài hiên. Vì thế có những nhà có 5 hoặc 7 hàng chân c
ột. Nhà có kích thước các gian chính
lớn hơn gian phụ. Những nhà lớn 5 gian 2 chái thì ba gian chính hoặc 5 gian chính thường có
kích thước bằng nhau. Độ cao của nhà hầu hết là một tầng, nhà thường có nền hiên cao bằng
nền nhà. Mái nhà chủ yếu làm hai mái dốc, hai đầu hồi nhà được xây kín, giật cấp lên đỉnh mái.
10
Pierre Gourou: Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ. Nhà xuất bản Trẻ. Viện Viễn đông Bác cổ. tr319
11
Nguyễn Khắc Tụng: Nhà cửa các dân tộc ở trung du Bắc Bộ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1978
19
Ngói lợp mái cũng có nhiều loại khác nhau. Mái đình, chùa, miếu, nhà gỗ đa số được lợp bằng
ngói mũi hài, bên dưới lót thêm ngói vuông. Nhưng loại ngói mũi hài có kích cỡ rất nhỏ
(10x15x1,5cm), nên một ngôi nhà 5 gian thì phải cần một số lượng ngói rất lớn thì mới phủ kín
nhiều lần giữa nhà trên và nhà dưới nhưng không phải ngang qua trước bàn thờ tổ tiên. Ở
Đường Lâm cũng như ở đồng bằng sông Hồng, để tránh hoả hoạn, nhà bếp không làm liền
kề với nhà chính hoặc nối nhà chính bằng một hành lang. Một số gia đình, họ dành một
20
phần nhà bếp làm chuồng lợn hoặc chuồng gà, cũng có những trường hợp chuồng gà,
chuồng lợn nằm ở trong vườn.
Đối diện với nhà bếp và vuông góc với nhà chính, nhà ngang cũng không dính liền
vào nhà chính. Đây là loại nhà nhỏ với bộ sườn đơn giản dùng làm kho chứa dụng cụ nông
nghiệp như cày, bừa, cuốc, thuổng, máy tuốt lúa, nong, nia, rổ rá, xe đạp, v.v trước đây là
những dụng cụ cối xay, khung c
ửi, cối giã gạo.
Sân cũng là một bộ phận thiết yếu của nhà ở nông thôn có nhiệm vụ nối liền các
không gian lại với nhau tạo nên thế liên hoàn, liên tiếp, hài hoà. Nhà chính, nhà ngang, nhà
bếp cùng qua sân để ra ngõ. Sân thường có hình chữ nhật và được lát bằng gạch Bát Tràng
hoặc gạch nung. Nhằm đáp ứng nhu cầu phơi sấy nông sản và cũng đáp ứng nhu cầu vệ sinh
như tránh được nước đọng bùn lầy vào mùa mưa, b
ụi bặm vào mùa hè. Sân cũng góp phần
vào thẩm mỹ chung của một thiết kế kiến trúc, tạo nên một không gian cân đối thăng bằng
giữa nhà và vườn. Sân cũng là nơi để đưa ánh sáng vào nhà.
4. Đi lại
Việc đi lại của người dân làng Đường Lâm xưa nay đều rất đơn giản và thuận tiện
bằng cả đường sông và đường bộ. Sông Hồng và sông Tích chảy qua địa phận của làng nên
ng
ười dân đi lại chủ yếu bằng thuyền bè để vận chuyển, trao đổi hàng hoá nông sản, vật liệu
xây dựng từ miền xuôi lên miền ngược và sang các tỉnh lân cận. Làng nằm liền kề với
đường quốc lộ 32, nối liền Hà Nội - trung tâm của cả nước. Nên giao thông đường bộ ở đây
cũng tương đối thuận tiện. Đường làng ngõ xóm ở Đường Lâm có kết cấu đường hình
x
ương cá gồm một trục đường chính với rất nhiều ngõ nhỏ thông với nhau. Người làng có
2. Những bài thuốc dùng để chữa trị nhiều căn bệnh do tác động tiêu cực của môi
trườ
ng tới sức khoẻ con người cũng được chế biến từ các lá, củ cây, các loại lá nấu nước
uống hàng ngày cũng là sản vật tại chỗ. Điều dễ nhận ra là người dân Đường Lâm không chỉ
biết tận dụng cây lá và thảm thực vật quanh mình để chọn làm bài thuốc chữa bệnh và bảo
vệ sức khoẻ của mình, mà còn coi như một lễ thức văn hoá đối vớ
i những loại lá cây mà con
người chọn để nấu nước uống thường ngày cho mình như tục uống nước lá mùng 5 tháng 5.
3. Trang phục của người Đường Lâm trong quá khứ cũng như hiện nay chủ yếu tận
dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương. Các loại khăn khố, nón, áo, váy tất
cả đều được rất chú ý tới việc bảo vệ con người trước sự xâm hạ
i của tự nhiên.
4. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, Đường Lâm hôm nay vẫn giữ được nhiều kiến trúc,
kết cấu không gian nhà ở truyền thống của một làng cổ thuần Việt. Nét đặc sắc của ngôi nhà
ở Đường Lâm chính là sự kết hợp hài hoà giữa điều kiện tự nhiên vốn có với những kinh
nghiệm dân gian của ông cha đúc kết được từ ngàn đời xưa để
xây dựng nên những ngôi nhà
truyền thống mang đặc trưng kết cấu ngôi nhà của cư dân nông nghiệp cổ, chưa bị tác động
nhiều của lối sống đô thị.
Tất cả các giải pháp kiến trúc: chọn hướng nhà, cấu trúc tường, mái, quy hoạnh
sân vườn, sử dụng mầu sắc, kết hợp không gian nội ngoại thất đều là sự tích hợp những kinh
nghiệm quý báu của người dân Đườ
ng Lâm trong ứng xử với môi trường tự nhiên qua
trường kỳ lịch sử.
22
6. Làng cổ Đường Lâm là một hiện tượng văn hoá đặc sắc nên đã trở thành đối tượng
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau. Tuy nhiên, khi
tiếp cận nghiên cứu làng như một không gian văn hoá trong mối quan hệ tương tác giữa đời
sống văn hoá sinh hoạt của người dân Đường Lâm với điều kiện tự nhiên và môi trường
[10]. Bảng thống kê của Hợp tác xã Đường Lâm, Hà Tây, 1998
[11]. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây - Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Bảo tồn, tôn tạo và
xây dựng khu di tích Đường Lâm. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 2005
[12].Haudricourrt, André - Georges and Louis Hđdin: L
’
Homme et les plantes cultivees,
Pari: A.M Metailie, 1987
[13]. Keshyo Monogatarri: Truyện kể về nghệ thuật trang điểm, tr210 - 21