1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HƢỜNG VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO
ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƢỜI DÂN
THANH HÓA TỪ NĂM 1984 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Châu Á Học
THANH HÓA TỪ NĂM 1984 ĐẾN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Châu Á Học
Mã số: 60 31 50
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:PGS.TS. Nguyễn Tƣơng Lai HÀ NỘI, 2013
3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài: 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 8
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 12
4. Phƣơng pháp nghiên cứu: 12
2.3.1 Chăm lo đào tạo Tăng Ni Phật tử trong toàn tỉnh 61
2.3.2 Xây dựng, củng cố và phát triển các Ban đại diện Phật giáo 63
2.3.3 Củng cố và phát triển tín đồ Phật tử 65
CHƢƠNG 3: VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO THANH HOÁ ĐỐI VỚI VĂN
HỌC - NGHỆ THUẬT CỦA TỈNH NHÀ TỪ NĂM 1984 ĐẾN NAY 68
3.1. Phật giáo đối với Văn học 68
3.2. Phật giáo đối với kiến trúc, điêu khắc chùa chiền 73
3.2.1.Kiến trúc điêu khắc Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (Văn Lộc, Hậu
Lộc,Thanh Hóa) 73
3.2.2. Kiến trúc điêu khắc chùa Hoa Long (Vĩnh Thịnh, Vĩnh lộc, Thanh Hóa) 76
3.2.3. Kiến trúc điêu khắc chùa Đót Tiên (Du Xuyên, Thanh Hải, Tĩnh Gia,
Thanh Hóa) 77
3.2.4. Kiến trúc điêu khác chùa Mật Đa (Phường Nam Ngạn, Thành phố Thanh
Hóa ) 79
3.2.5.Kiến trúc điêu khắc chùa Đại Bi (Phường Đông Vệ, Thành Phố
Thanh Hóa ) 80
3.2.6. Kiến trúc điêu khắc chùa Thanh Hà (Phường Trường Thi, Thành phố
Thanh Hóa) 81
5
3.2.7. Sự thay đổi trong chất lượng xây dựng chùa hiện nay 83
3.3. Phật giáo đối với Âm nhạc 85
3.4. Phật giáo đối với Sân Khấu 87
PHẦN KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 107
6
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày 01 tháng 11 năm 1984, Giáo hội Phật giáo tỉnh Thanh Hóa đƣợc thành
lập, đánh dấu sự trƣởng thành và phát triển của Phật giáo Thanh Hóa. Kể từ sau khi
thành lập, đặc biệt là trong giai đoạn hiên nay. Phật giáo Thanh Hóa đã tham gia và
có những đóng góp to lớn trong mọi lĩnh vực hoạt động của tỉnh nhà nhƣ: Chính trị,
kinh tế, giáo dục, văn hóa xã hội Điều này, khẳng định vị trí, vai trò không nhỏ
của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của ngƣời dân cũng nhƣ trong công cuộc
xây dựng quê hƣơng Thanh Hóa
Để nêu bật lên đƣợc vai trò và những đóng góp có giá trị tích cực của Phật
giáo đối với tỉnh nhà, thì việc nghiên cứu khảo sát một cách đầy đủ và có hệ thống
về Phật giáo ở Thanh Hóa là một việc làm cần thiết. Việc làm này sẽ giúp cho nhân
dân Thanh Hoá nói chung và giới Tăng Ni Phật tử Thanh Hoá nói riêng tự hào về
Phật giáo Thanh Hoá với một quá trình phát triển dài lâu cùng với những đóng góp
rất thiết thực cho đất nƣớc, cho dân tộc trong bao nhiêu năm qua mà đặc biệt là sau
khi Tỉnh hội Phật giáo Thanh Hoá đƣợc thành lập cho đến nay. Việc làm này sẽ
góp phần đƣa ra những giải pháp để Phật giáo phát huy hơn nữa những đóng góp
hiệu quả đối với công cuộc xây dựng và phát triển xã hội, đặc biệt trong việc xây
dựng đời sống văn hóa lành mạnh cho nhân dân trong tỉnh. Đây chính là lý do để
tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa của người
dân Thanh Hóa từ năm 1984 đến nay” làm luận văn tốt nghiệp, với hy vọng giải
mã thêm các lớp trầm tích văn hóa Phật giáo ở Thanh Hóa và phát huy những giá
trị tích cực của tôn giáo này vào sự nghiệp dựng xây phát triển đất nƣớc Việt Nam
dân giàu nƣớc mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
-Ý nghĩa khoa học:
Luận văn đã khái quát đƣợc quá trình du nhập và phát triển Phật giáo vào
Thanh Hóa, nêu lên vai trò của Phật giáo trên một số lĩnh vực trong đời sống văn
hóa của ngƣời dân tỉnh Thanh. Đồng thời cũng đƣa ra một số giải pháp chủ yếu
8
nhằm phát huy những mặt tích cực, khắc phục những mặt hạn chế của Phật giáo
Văn Giàu, Nguyễn Tài Thƣ, Nguyễn Đức Sự, Trần Bạch Đằng, Hà Văn Tấn, Phan
Đại Doãn, Trần Đình Hựu…Trong tập bài tham luận này, các tác giả đã phân tích
và làm sáng tỏ mối quan hệ tác động qua lại giữa Phật giáo và lịch sử tƣ tƣởng Việt
Nam, tính chất của Phật giáo và Phật giáo Việt Nam. Đồng thời cũng đề cập đến
một số tông phái Phật giáo Việt Nam, ảnh hƣởng chủ nghĩa yêu nƣớc tới văn hóa
Việt Nam…
Năm 1988, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn “Lịch sử Phật giáo
Việt Nam” của Viện Triết học do PGS Nguyễn Tài Thƣ chủ biên. Cuốn sách đề cập
đến quá trình du nhập và Phát triển Phật giáo vào Việt Nam từ đầu công nguyên cho
đến nửa đầu thế kỷ XX.
Năm 1992, Hòa Thƣợng Thích Thanh Từ viết cuốn “ Phật giáo với dân tộc”,
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. Trong cuốn sách này tác giả giới thiệu 3 đề
tài lớn: Phần 1. Phật giáo trong mạch sống dân tộc, phần 2. Vài nét chính luân lý
Phật giáo, phần 3. Đạo Phật và tuổi trẻ.
Năm 1995, Nhà xuất bản Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản cuốn
“Đạo đức học Phật giáo” bao gồm những bài tham luận của nhiều tác giả. Nội dung
chủ yếu của cuốn sách đƣợc các tác giả đề cập là những cơ sở và các phạm trù đạo
đức của Phật giáo, những phân tích để cắt nghĩa rõ thêm nội dung của chúng nhƣ
giới, hạnh, nguyện, thiện, ác
Năm 1996, Giáo sƣ Nguyễn Phan Quang viết Cuốn “Có một nền đạo lý Việt
Nam” Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách giới thiệu đến sự hòa nhập
của đạo đức Phật giáo trong đạo lý dân gian Việt Nam. Từ đó giúp ngƣời đọc nhận
thức đƣợc vai trò cũng nhƣ những đóng góp tích cực của Phật giáo đối với nền đạo
đức dân tộc.
Năm 1996, Giáo sƣ Trần Lâm Biền viết cuốn “Chùa Việt”, Nhà xuất bản
Văn hóa Thông Tin. Tác giả đã khái quát lịch sử các Chùa Việt và quá trình thâm
nhập Phật Giáo vào Việt Nam thông qua hệ thống chùa chiền; những nghiên cứu
tính chất văn hoá, Nghệ thuật, Kiến trúc và phong cách tƣợng Phật tại các chùa Việt
Nam từ thời Lý đến thế kỷ 10.
11
“Những tôn giáo phổ cập ở Thanh Hóa chung với tình hình cả nƣớc”, đã giới thiệu
về những ngƣời có công khởi dựng và phát triển Phật giáo ở Thanh Hóa và giới
thiệu về các nhà sƣ nổi tiếng của Thanh Hóa.
Năm 2008, TS. Mai Thị Hồng Hải với Báo cáo tổng kết khoa học đề tài “Vận
dụng lý thuyết văn hóa vùng và phân vùng văn hóa nhằm quản lý, bảo tồn và phát
huy sắc thái văn hóa tỉnh Thanh Hóa”, trong phần về tôn giáo tín ngƣỡng có giới
thiệu về quá trình du nhập Phật giáo vào Thanh Hóa đồng thời giới thiệu về một số
chùa nổi tiếng ở Thanh Hóa….
Năm 2009, Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản cuốn “Kỷ yếu tọa đàm kỷ
niệm 25 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa”, bao
gồm những bài viết, báo cáo về quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu
đạt đƣợc của tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa qua 25 năm thành lập (1984-2009).
Năm 2009, Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản cuốn “Chùa xứ Thanh”, tập 1
của tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa bao gồm nhiều tác giả viết, chủ yếu giới thiệu về
lịch sử các ngôi chùa trong toàn tỉnh.
Năm 2010, Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản cuốn “Chùa xứ Thanh”, tập 2
của tỉnh hội Phật giáo Thanh Hóa bao gồm nhiều tác giả viết, chủ yếu giới thiệu về
lịch sử các ngôi chùa trong toàn tỉnh.
Năm 2010, Trịnh Quốc Tuấn viết cuốn “Về Quê Thanh - Tiếp cận từ lịch sử
văn hóa xứ Thanh”, Nhà xuất bản Thanh Hóa. Phần viết về Phật giáo, tác giả đã tập
trung tìm hiểu sự đồng hành của Phật giáo cùng dân tộc, Phật giáo Thanh Hóa với
công cuộc đổi mới quê hƣơng, chặng đƣờng 25 năm phát triển của Phật giáo Thanh
Hóa.
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình, các bài viết khác gián tiếp bàn về ảnh
hƣởng của Phật giáo tới đạo đức, lối sống, văn hóa, nghệ thuật, tƣ duy của con
ngƣời Việt Nam ở các vùng, miền khác nhau trên các tạp chí Phật học, nghiên cứu
tôn giáo và một số tạp chí khác
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều khẳng định, qua hàng ngàn năm tồn tại
công trình nghiên cứu khoa học về Phật giáo nói chung, cũng nhƣ Phật giáo tỉnh
Thanh Hóa nói riêng để trình bày trong luận văn.
13
5. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Phật giáo ở Thanh Hóa nhìn từ góc độ lịch sử
Chƣơng 2: Vai trò của Phật giáo Thanh Hóa đối với đời sống sinh hoạt cộng đồng
và tƣ tƣởng của nhân dân từ năm 1984 đến nay
Chƣơng 3: Vai trò của Phật giáo Thanh Hoá đối với văn học - nghệ thuật của tỉnh
nhà từ năm 1984 đến nay 14
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
PHẬT GIÁO Ở THANH HÓA NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ
1.1 Khái quát chung về lịch sử Phật giáo ở Thanh Hóa.
Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, vào khoảng thế kỷ VI (trƣớc Công
nguyên) ở miền Bắc Ấn Độ do Thái tử Tất Đạt Đa (Siddharta: 563 - 483 trƣớc công
nguyên), con trai của Tịnh Phạn Vƣơng (Suđhodana) trị vì một xứ nhỏ ở trung lƣu
sông Hằng là Ca Ty La Vệ (nƣớc Nê Pan ngày nay) sáng lập. Cuộc sống giàu sang
nơi cung đình khiến ông không hề hay biết những gì đang diễn ra với bao bi kịch
kiếp ngƣời ngoài xã hội. Cho đến khi trực tiếp đi ra ngoài thành và tận mắt chứng
kiến nỗi khổ của kiếp ngƣời, Thái tử Tất Đạt Đa quyết noi gƣơng các đạo sĩ tu theo
và qua Triều Tiên, vào Nhật Bản và xuống nƣớc ta. Chuyện cổ tích Chữ Đồng Tử
học đạo của một nhà sƣ Ấn Độ, các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Ma
Nƣơng Phật Mẫu xuất hiện cùng thời với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra)
trong khoảng các năm 168-189 đã minh chứng cho dấu ấn của đạo Phật thời kỳ đầu
truyền bá tại Việt Nam. Cho đến khoảng thế kỷ thứ II (sau công nguyên), nƣớc ta
đã hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay) là trụ sở
Phật giáo quan trọng và lớn nhất của cả nƣớc.
Hòa cùng dòng chảy của cả nƣớc, Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa cũng rất
sớm, dung hội cả Bắc Tông (Đại thừa) và Nam Tông (Tiểu thừa). Từ buổi đầu du
nhập, Phật giáo đã hòa quyện cùng với sắc thái văn hóa xứ Thanh, tạo cho Phật
Giáo Thanh Hóa có những sắc thái riêng, dung hội các dòng tƣ tƣởng và tín ngƣỡng
địa phƣơng, nhƣng không làm biến dạng những nét riêng có trong Hoằng Dƣơng
Phật pháp của Phật giáo.
Đối với sự du nhập của Phật giáo ở Thanh Hóa, hiện nay chƣa có tài liệu nào
nói chính xác mốc thời gian Phật giáo có mặt tại nơi đây. Nhƣng qua sử sách ghi
chép lại, qua các văn bia ở chùa cổ thời Lý, Trần và qua sự phân tích các dấu viết
liên quan đến Phật giáo thời kỳ đầu có mặt trên đất Thanh Hóa, chúng ta có thể
khẳng định rằng Phật giáo du nhập vào Thanh Hóa từ những thế kỷ đầu sau công
16
nguyên. Thời kỳ này, Thanh Hóa chịu ảnh hƣởng trực tiếp Phật giáo từ Ấn Độ sang
thông qua đƣờng biển. Các nhà sƣ Ấn Độ đã theo chân các thuyền lái buôn đi dọc
bờ biển Nam Dƣơng đến bán đảo Đông Dƣơng, và Thanh Hóa là một trong những
địa điểm dừng chân của các nhà sƣ Ấn Độ để truyền đạo. Điều này đƣợc minh
chứng qua hai dấu tích liên quan đến Phật giáo buổi đầu du nhập vào Thanh Hóa đó
là vết chân Phật ở đền Độc Cƣớc và đặc trƣng những tƣợng ngƣời đƣợc tìm thấy ở
Lạch Trƣờng ( huyện Hậu Lộc – Thanh Hóa).
Đền Độc Cƣớc nằm trên mỏm Cổ Giải dãy Trƣờng Lệ (Sầm Sơn, Thanh
Hóa) và thờ vị thần chỉ có nửa ngƣời bên phải, chỉ có một mắt, một tay, một chân
(gọi là thần Độc Cƣớc). Theo truyền thuyết vị thần này đã tự xé mình làm hai phần,
chứng lịch sử cho sự diễn ra một cơ tầng Việt Ấn đậm nét trong giai đoạn đầu Phật
giáo du nhập vào Thanh Hóa.
Bên cạnh đó, thông qua các dữ liệu lịch sử đƣợc ghi chép trong sử sách, văn
bia…thì từ thế kỷ thứ VII trở đi, Ái Châu (tên gọi của tỉnh Thanh Hóa giai đoạn
đầu) nói riêng và Giao Châu nói chung đã bắt đầu du nhập hai phái Thiền tông của
Phật giáo Trung Quốc, đó là phái Nam Phƣơng và phái Quan Bích. Hai phái Thiền
tông này là cơ sở chủ yếu của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ độc lập sau này.
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn thì sƣ Pháp Hiền ( ? – 626, thuộc đời
Đƣờng của Trung Quốc) đã “đi giảng đạo, dựng chùa khắp mọi nơi ở Phong Châu
(Sơn Tây) Hoan Châu (Nghệ An), Tràng Châu (Ninh Bình) và Ái Châu (Thanh
Hoá)”. Đồng thời, theo Thiền uyển tập anh ngữ lục, thì sƣ Pháp Hiền, đệ tử của phái
Nam Phƣơng, cũng đã cho xây nhiều tháp ở các chùa tại Trƣờng Châu, Ái Châu
(Thanh Hoá)…để đựng 5 hoàn xá lị Phật do Tùy Cao Tổ ban sang. Cuốn Đại
Đường cầu pháp cao tăng truyện của tác giả Nghĩa Tĩnh, có ghi tên 6 vị sƣ Việt
Nam từng sang Ấn Độ cầu pháp thỉnh kinh, trong đó có hai vị sƣ quê ở Ái Châu là
Pháp sƣ Trí Hành và Thiền sƣ Đại Thặng Đăng. Hai vị sƣ này đều thông hiểu chữ
Phạn, có phạn danh và bƣớc chân của họ đã trải dài từ Trung Hoa đến Ấn Độ. Pháp
sƣ Trí Hành tên phạm là Prajnadeva, đã từng xuống Nam Hải đến nƣớc Ấn Độ, hoạt
động truyền bá ở phía Bắc Hằng Hà và mất ở chùa Tính Giả vào khoảng năm 50
tuổi. Thiền sƣ Đại Thặng Đăng có tên phạm Mahayana- Pradija, thủa bé theo cha
18
mẹ đi thuyền đến lƣu vực sông Menam rồi mới xuất gia. Sau theo sứ nhà Đƣờng là
Diễn Tự vào kinh đô nhà Đƣờng học đạo với tam tạng Pháp sƣ Huyền Trang (đời
Đƣờng Thái Tông 627- 649). Ở Trƣờng An vài năm, sƣ đã xem hết sách kinh mà
vẫn muốn đi lễ thánh tích, liền vƣợt biển sang Srilanca qua Nam Ấn, Đông Ấn,
Trung Ấn rồi đến Malaca. Sƣ viên tịch ở chùa Bát nết bàn (Parinirnana,
Kucinagara) lúc 60 tuổi…
Thông qua các cứ liệu lịch sử nêu trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, vào
khoảng thế kỷ thứ VI, thứ VII sau công nguyên, ở Ái Châu (Thanh Hoá), Đạo Phật
hộ và cho phép của nhà vua, chùa chiền đƣợc mở rộng, số lƣợng Tăng Ni Phật tử
ngày càng tăng lên. Nhà vua còn sai sứ sang Trung Quốc xin kinh Tam Tạng về
truyền dạy trong chùa, mở rộng đến chúng sinh. Do đó, trong triều đình thì đạo Phật
là rƣờng cột, ngoài xã hội thì tràn ngập không khí đạo Phật, “dân chúng quá nửa
làm sãi, chỗ nào cũng có chùa chiền” (lời bàn của Lê Văn Hƣu trong Đại Việt Sử ký
toàn thƣ). Đây cũng là thời kỳ vàng son của Phật giáo xứ Thanh, hàng loạt các ngôi
chùa đƣợc xây dựng mới hoặc tu sửa lại, các sinh hoạt văn hóa cũng nhƣ tập tục dân
gian đều mang đậm sắc thái Đạo Phật, điều này góp phần phong phú hơn đời sống
văn hóa tinh thần của nhân dân xứ Thanh. Trong thời kỳ này, vùng đồng bằng và
ven biển phía Bắc Thanh Hóa đã trở thành một trung tâm Phật giáo lớn của khu
vực, với các cổ tự nổi tiếng nhƣ: Chùa Hƣơng Nghiêm (Giáp Bối Lý) một kiến trúc
bề thế với tâm niệm “ngàn năm không mai một” nhƣ văn bia ở chùa đã ghi tạc; chùa
Báo Ân (núi An Hoạch) đƣợc Lý Thƣờng Kiệt sai Vũ Thùa Thao đi dò tìm đá suốt
19 năm mới xây cất bằng sự hƣng công của nhân dân cả vùng; chùa Linh Xứng xây
dựng từ năm 1008 đến năm 1010 dƣới chân núi Ngƣỡng Sơn (nay là xã Hà Ngọc,
Hà Trung) hoành tráng tới mức “trước của chính treo chuông vàng, một tiếng chày
kình ngân vang khắp chốn” (Thơ văn Lý – Trần); chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh
(Hậu Lộc) đƣợc trùng tu trên nền cũ, năm 1116 Lý Nhân Tông đi tuần du Phƣơng
Nam đã nghỉ lại Thanh Hóa. Để kỷ niệm chuyến đi này của nhà vua, Chu Công đã
xuất lĩnh dân cƣ, già trẻ giúp sức xây dựng lại chùa; chùa Đông Sơn (ở làng Đông
Sơn, TP Thanh Hóa) dựng dƣới chân núi Long Đại do danh sƣ Quan Thiệu họ
Phạm trụ trì xây cất ở một vùng sơn thủy hữu tình, là chốn tiêu dao của vua Trần
20
Dụ Tông, Phạm Sƣ Mạnh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông…; chùa Hƣng Phúc
(Quảng Hùng, Quảng Xƣơng) là ngôi chùa không chỉ là nơi tu hành, tụng kinh niệm
Phật, mà còn là chứng tích ghi nhớ chiến công của quân và dân Thanh Hóa trong
cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1285…
Từ thời Lê Sơ trở đi, Nho giáo đƣợc triều đình trọng dụng, ngày càng khẳng
định vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội ngƣời Việt. Phật giáo không còn giữ vai trò
Thành, Ngọc Lặc, Lang Chánh…Riêng ở Cẩm Thủy, có tới hàng chục ngôi chùa
đƣợc xây dựng hòa vào cảnh trí thiên nhiên trong các hang động núi đá vôi, cạnh
các dòng suối. Một hệ thống chùa chiền đƣợc chú trọng phát triển bên cạnh các đình
làng, nghè, phủ, đền, miếu nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa, tâm linh phong phú, đa
dạng của nhân dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, với tinh
thần “cả nước cho tuyền tuyến”, Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Thanh
Hóa nói riêng đều chú trọng vào công tác phục vụ cho cuộc đấu tranh thống nhất đất
nƣớc, giành lại nền độc lập của dân tộc hơn là mở rộng, phát triển Phật giáo. Hƣởng
ứng cuộc đấu tranh của toàn dân tộc, nhiều nhà sƣ trẻ đã “cởi áo cà sa, khoác chiến
bào” ra nhập quân đội, dũng cảm không ngại gian khó, hy sinh chiến đấu chống lại
kẻ thù xâm lƣợc. Các nhà sƣ cao niên ở địa phƣơng thì đứng ra đoàn kết nhân dân,
giúp đỡ bộ đội, động viên các Phật tử tăng gia sản xuất, chống chiến tranh phá hoại
của kẻ địch, góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ
quốc. Đồng thời nhiều ngôi chùa trên đất Thanh Hóa là cơ sở cách mạng, là nơi che
dấu, nuôi dƣỡng cán bộ cách mạng, thƣơng bệnh binh, là những địa chỉ tin cậy và
cơ sở liên lạc của cách mạng xứ Thanh nhƣ: Chùa Trần (Hà Trung) là nơi thành lập
chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Hà Trung, chùa Vĩnh Thái (Nông Cống)
là địa điểm liên lạc và là nơi che chở cho các chiến sĩ cách mạng, chùa Đông Tác là
ga tạm, nơi tập kết hàng hóa chi viện cho tiền tuyến, chùa Mật Đa là trạm cứu chữa
thƣơng binh trong những ngày Hàm Rồng rực lửa
Chiến tranh kết thúc, đất nƣớc thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà. Đây
là yếu tố và bối cảnh thuận lợi, khơi dậy nguyện vọng thiết tha thống nhất Phật giáo
của toàn thể Tăng Ni, Phật tử. Để thực hiện nguyện vọng thống nhất của toàn thể
Tăng Ni, Phật tử cả nƣớc, Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam đã đƣợc
22
tổ chức từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 11 năm 1981 tại chùa Quán Sứ - Hà Nội, Giáo
hội Phật giáo Việt Nam chính thức thành lập trong sự đoàn kết nhất trí cao của Tăng
Ni, Phật tử Việt Nam và của toàn thể đại hội. Ở Thanh Hóa, thực hiện nghị quyết
Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ nhất, Tăng Ni, Phật tử tỉnh Thanh Hóa đã tích
bia (bia chùa Hƣơng Nghiêm, bia chùa Linh Xứng, bia chùa Sùng Nghiêm), thì chỉ
cho chúng ta biết những nhân vật tiêu biểu sau:
Lê Lương (?-?)
Lê Lƣơng là Sƣ tổ của Nhà sử học vĩ đại Lê Văn Hƣu (theo Lê gia chính
phả), hiện không rõ năm sinh, năm mất của ông. Theo Văn bia chùa Hƣơng Nghiêm
lƣu giữ, thì Lê Lƣơng sống dƣới thời Đinh Tiên Hoàng. Ông là nhà hào phú đất Cửu
Chân (tức Thanh Hoá) lúc bấy giờ, đƣợc ca ngợi là “nhà thường chứa hơn trăm lẩm
thóc, môn khách thường có tới ba nghìn”. Lê Lƣơng đƣợc đánh giá là một ngƣời
nhân đức, thiện Phật, ông thƣờng mở kho thóc phát chẩn cứu dân khi gặp đói kém,
thiên tai mất mùa, do đó đƣợc nhân dân vùng Ái Châu xƣng tụng công đức. Biết
ông là ngƣời có đạo nghĩa, Vua Đinh Tiên Hoàng bèn phong cho ông tƣớc Kim Tử
Quang lộc đại phu, cho làm chức Đô dịch sứ quán Cửu Chân. Đến thời Vua Lê Đại
Hành cũng theo nhƣ thế mà phong sắc cho ông. Trong Bản xã tiên hiền và Lê gia
Chính phả còn ghi Lê Lƣơng đƣợc ban Trấn Quốc công - Bộc xạ Tướng công. Vài
nét ghi chép ít ỏi này đã cho thấy Lê Lƣơng là ngƣời vốn có tƣ chất thiện tâm, là
một nhân vật nổi bật ở quận Cửu Chân vào thời đầu nền tự chủ của nƣớc Đại Cồ
Việt dƣới triều vua Đinh.
Điều đáng chú ý và khẳng định công lao của Lê Lƣơng trong việc phát triển
Phật giáo Thanh Hóa là ông đã “dốc lòng vì việc thiện, tôn sùnq tượng giáo”. Tuy
ông không phải là một nhà sƣ, nhƣng ông lại là một ngƣời “có đạo tâm” chân niệm
Đạo Phật và có công khởi dựng Phật giáo xứ Thanh vào cuối thế kỷ X. Văn bia
chùa Hƣơng Nghiêm còn ghi rõ công tích Lê Lƣơng đã xuất của nhà, xây dựng ba
ngôi chùa lớn ở quận Cửu Chân (Thanh Hoá) lúc bấy giờ, bao gồm chùa Hƣơng
Nghiêm, chùa Trinh Nghiêm và chùa Minh Nghiêm. Hiện nay, trong ba ngôi chùa
mà Lê Lƣơng đứng ra xây dựng chỉ còn lại một tấm bia của chùa Hƣơng Nghiêm
còn lƣu giữ, giúp chúng ta hình dung lại quy mô, cảnh trí của chùa, không khí sinh
24
hoạt Đạo Thiền lúc bấy giờ ở Thanh Hoá, cũng nhƣ đánh dấu điểm “xƣa nhất” còn
lại dấu tích khởi dựng Phật Giáo xứ Thanh với nhân vật Lê Lƣơng.
Ngoài hai ngôi chùa kể trên đƣợc chính Lý Thƣờng Kiệt chủ trƣơng xây
dựng, ông còn quan tâm chăm sóc và tu bổ các ngôi chùa khác ở trong trấn phủ lúc
bấy giờ nhƣ: chùa Hƣơng Nghiêm, chùa Sùng Nghiêm Trong thời gian Lý
Thƣờng Kiệt trấn nhậm Thanh Hoá, có thể nói Phật giáo xứ Thanh đƣợc tạo điều
kiện phát triển và đạt tới độ cực thịnh, tạo nên bản sắc văn hoá tâm linh hƣớng Phật
trên toàn cõi, đƣợc văn bia ở các chùa Hƣơng Ngiêm, Báo Ân, Linh Xứng ghi chép
lại:
“Khánh thành bày tiệc, mời bậc cao tăng đọc kinh Vô thượng, chứng phép
báu vô sinh. Đem quả phúc này dâng cho dường mối của Thánh thượng sánh với
mặt trời, mặt trăng luôn luôn vằng vặc, cùng với núi sông mãi mãi vững bền lại
mong các đợi chủ làm việc hết lòng thành tín, nguyện lực đừng quên. Mọi người
đều giác ngộ bản tâm, bước sang bờ cực lạc ”. (Văn bia chùa Hƣơng Nghiêm).
Hay:
“Ôi! Cõi tịnh thờ Phật có thể gọi là hoàn thành vậy. Nhân ngày tốt mở tiệc
khánh thành. Bọn người mũ ni, kẻ sĩ áo thâm như mây kéo tới. Cửa ngoài mở hội
Thái Hoà triệt bỏ những đồ vật quý. Sửa soạn tiệc chay, tuyên đọc lời kinh Vô
thượng thức tỉnh chúng sinh”. (Văn bia chùa Linh Xứng)
Chu Công và Chu Văn Thường (? - ?)
Đây là hai nhân vật hiện không rõ năm sinh, năm mất, cũng nhƣ danh tính
đầy đủ. Theo tìm hiểu, thì Chu Công giữ chức Thông phán, sau khi Lý Thƣờng Kiệt
đƣợc gọi về triều đình thì ông mới “vâng chiếu chì tín giữ quận phù, quyên thống
lĩnh các việc châu quận” (Văn bia chùa Sùng nghiêm). Chu Văn Thƣờng thì giữ
chức Thự mẫn thƣ lang, quản câu ngự phủ, đổng trung thƣ kiện biên tu, kiêm coi
việc quan huyện Cửu Chân tại Thanh Hoa (Văn bia chùa Báo Ân). Cũng có nhiều
dữ liệu còn cho rằng, Chu Công và Chu Văn Thƣờng là cùng một ngƣời. Vì cả hai
ngƣời đều họ Chu, một ngƣời mang danh hiệu chung (“Công”), một ngƣời có cả tên
lót và tên thật (“Văn Thƣờng”), điều này khiến nhiều ngƣời nghi ngờ hai cái tên đều