Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn
-------------------------------------------------
Đỗ Thị Tiến Thành
Đảng bộ tỉnh hòa bình
lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa
từ năm 2006 đến năm 2015
LUN VN THC S LCH S
H Ni 2016
Đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn
-------------------------------------------------
Đỗ Thị Tiến Thành
Đảng bộ tỉnh hòa bình
lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa
từ năm 2006 đến năm 2015
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Mã số: 60220315
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Minh Hạnh
H Ni 2016
Đỗ Thị Tiến Thành
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................................... 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................... 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 7
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................... 8
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................................ 8
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................................... 9
Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 ........................10
1.1. Các yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình .................................................................................................. 10
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội ................................................... 10
1.1.2. Thực trạng đời sống văn hóa ở tỉnh Hòa Bình trước năm 2006 .................... 15
1.2. Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2006 đến
năm 2010 ......................................................................................................................... 19
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình ......................................................... 19
1.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng đời sống văn hóa của Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình ..................................................................................................................... 23
Tiểu kết chương 1......................................................................................................... 38
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH .........................40
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015 ........................40
2.1. Chủ trƣơng về xây dựng đời sống văn hóa của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình ....... 40
2.1.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam ....................................................... 40
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình ......................................................... 42
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Bảng
Nội dung
1
1.1
Số lƣợng gia đình đạt gia đình văn hóa 3 năm liên tục
32
2
2.1
Hoạt động phục vụ bạn đọc của hệ thống thƣ viện
50
3
2.2
Hoạt động nghệ thuật quần chúng
Số đám tang thực hiện theo nếp sống văn hóa
59
8
2.7
Số lễ hội đƣợc tổ chức trong tỉnh
60
9
2.8
Số cán bộ văn hóa tham gia bồi dƣỡng, nâng cao trình độ
62
3
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh hun đúc nên
phẩm chất cốt cách con ngƣời Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nƣớc và
đồng bộ hơn với phát triển kinh tế, xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội
Tiếp nối tinh thần đó, tại Đại hội XI (2011) Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011) chỉ rõ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
phát triển toàn diện thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân
văn, dân chủ tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời
sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng
của phát triển.
Với đƣờng lối chủ trƣơng phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nƣớc, Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình đã lãnh đạo nhân dân xây dựng đời sống văn hóa, góp phần tạo ra
môi trƣờng văn hóa lành mạnh, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Những kết quả đạt đƣợc của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong việc lãnh đạo xây
dựng đời sống văn hóa có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển kinh tế, xã hội trên
địa bàn tỉnh. Đồng thời, khẳng định sự đúng đắn của đƣờng lối chính sách xây dựng
văn hóa của Đảng nói chung và Đảng bộ tỉnh Hòa Bình nói riêng.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc, trong lãnh đạo xây dựng đời sống văn
hóa ở Hòa Bình còn có những hạn chế do những nguyên nhân chủ quan và khách
quan. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo xây dựng đời
sống văn hóa là cần thiết. Trên cơ sở đó rút ra kinh nghiệm nhằm thực hiện có hiệu
quả công tác lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Hòa Bình hiện nay.
Từ những lí do trên tôi chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo xây
dựng đời sống văn hóa từ năm 2006 đến năm 2015 làm luận văn thạc sĩ khoa học
lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa
đƣợc thực hiện trên phạm vi cả nƣớc. Có thể kể đến một số nhóm công trình tiêu
biểu nhƣ:
5
6
Dù đã có nhiều tài liệu nói về đời sống văn hóa nhƣng đến nay chƣa có công
trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh
đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2006 đến năm 2015. Tuy nhiên, các công
trình trên là nguồn tài liệu quý mà tôi có thể tham khảo để thực hiện luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong lãnh đạo, thực hiện đƣờng lối
chủ trƣơng của Đảng về xây dựng đời sống văn hóa của tỉnh Hòa Bình từ năm 2006
đến năm 2015. Trên cơ sở đó đánh giá những ƣu điểm và hạn chế, từ đó đúc rút
kinh nghiệm có giá trị tham khảo trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình tác động đến
quá trình lãnh đạo thực hiện xây dựng đời sống văn hóa.
- Hệ thống hóa quan điểm, chủ trƣơng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình về xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2006 đến năm 2015.
- Phân tích quá trình Đảng bộ tỉnh Hòa Bình chỉ đạo thực hiện xây dựng đời
sống văn hóa từ năm 2006 đến năm 2015.
- Đánh giá các thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn
lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Hòa Bình từ năm 2006 đến năm 2015.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Chủ trƣơng, quá trình thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về xây dựng đời
sống văn hóa và tình hình đời sống văn hóa tỉnh Hòa Bình dƣới sự lãnh đạo của
Đảng bộ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
sống văn hóa trên địa bàn tỉnh.
Bƣớc đầu rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của
Đảng bộ tỉnh, góp phần nâng cao chất lƣợng công tác này ở địa phƣơng.
8
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3
chƣơng.
Chƣơng 1: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình xây dựng đời
sống văn hóa từ năm 2006 đến năm 2010.
Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đẩy mạnh lãnh đạo xây dựng đời sống văn
hóa từ năm 2011 đến năm 2015.
Chƣơng 3: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đẩy mạnh lãnh đạo xây dựng đời sống văn
hóa từ năm 2011 đến năm 2015.
9
Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA
BÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
1.1. Các yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa
của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc của Tổ quốc, cách thủ đô Hà Nội 73 km theo
quốc lộ 6, Hòa Bình đƣợc cả thế giới biết đến là cái nôi của văn hóa Hòa Bình, vùng
đất sinh sống của ngƣời Việt cổ cách đây hàng vạn năm. Hòa Bình là một tỉnh miền
núi có vị trí địa lí quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên miền núi. Tỉnh
thành phố. Nguồn cung cấp nƣớc lớn nhất của Hòa Bình là sông Đà chảy qua các
huyện Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Cao Phong, Kỳ Sơn, thành phố Hòa Bình với
tổng chiều dài 151 km. Hồ Hòa Bình với diện tích mặt nƣớc khoảng 8.000 ha, dung
tích 9,5 tỷ m3, ngoài nhiệm vụ cung cấp nƣớc cho Nhà máy Thủy điện Hòa Bình
phát điện còn có nhiệm vụ chính là điều tiết và cung cấp nƣớc cho vùng Đồng bằng
sông Hồng. Ngoài ra, Hòa Bình còn có 3 con sông lớn nữa là sông Bôi, sông Bƣởi
và sông Bùi, cùng khoảng 1.800 ha ao hồ, đầm nằm rải rác trên địa bàn tỉnh. Đây
cũng nơi trữ nƣớc, điều tiết nƣớc và nuôi trồng thủy sản tốt.
Hòa Bỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm trung bình 60%,
cao nhất tới 90% vào tháng 8 và tháng 9 và khoảng 75% vào tháng 11, tháng 12,
thuận lợi cho cây trồng vật nuôi sinh trƣởng và phát triển. Tuy nhiên khí hậu
Hòa Bình có sự bất thƣờng trong thời tiết nhƣ: mƣa, nắng trái quy luật nhƣ
thƣờng gặp ở miền bắc Việt Nam. Đây cũng là những hạn chế cho hoạt động sản
xuất và đời sống.
Rừng Hòa Bình có nhiều loại gỗ, tre, bƣơng, luồng, cây dƣợc liệu quý nhƣ dứa
dại, xạ đen, củ bình vôi... Động vật rừng có một số loài thú nhƣ: Gấu, lợn rừng, khỉ,
cày, cáo, rùa núi, nai rừng nhƣng số lƣợng không lớn. Ngoài ra các khu vực rừng
phòng hộ, phần lớn diện tích rừng trồng thuộc các dự án trồng rừng kinh tế hiện nay
đã đến kỳ khai thác và tiếp tục đƣợc trồng mới mở rộng diện tích, hứa hẹn khả năng
xây dựng các nhà máy chế biến quy mô lớn.
11
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Hòa Bình, từ điều kiện về khí hậu, tài
nguyên… đã tạo cho tỉnh nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Cùng với truyền thống lao động cần cù sáng tạo của nhân dân các dân tộc trong
tỉnh, chủ trƣơng chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc, những điều kiện về
địa lí, tự nhiên sẽ góp phần tạo nên chuyển biến tích cực cho Hòa Bình trên mọi
phƣơng diện nhằm thực hiện mục tiêu: Dân giàu, tỉnh mạnh, xã hội dân chủ, công
sống ở hầu khắp các huyện trong tỉnh. Đa phần dân số trong độ tuổi lao động. Quy
mô dân số và lực lƣợng lao động của tỉnh sẽ đặt ra nhu cầu lớn về đời sống văn hóa,
đặc biệt là loại hình văn hóa công cộng, loại hình văn hóa nghệ thuật mới và thông
tin.
Hòa Bình tự hào là quê hƣơng của nền văn hóa Hòa Bình - nền văn hóa của cƣ
dân nông nghiệp sơ khai cách đây hàng vạn năm, đánh dấu bƣớc ngoặt quan trọng
trong tiến trình hình thành, phát triển của loài ngƣời. Từ nền văn hóa Hòa Bình qua
nền văn hóa Bắc Sơn đến Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Đông Sơn in đậm dấu ấn tại
nhiều di chỉ khảo cổ trên đất Hòa Bình, chứng tỏ cƣ dân trên đất Hòa Bình đã góp
phần xây dựng nền văn minh nông nghiệp của đất Việt.
Các dân tộc tụ cƣ trên đất Hòa Bình có sắc thái văn hóa riêng, thể hiện qua
nhiều phƣơng diện: kho tàng văn học dân gian, dân ca, các lễ hội truyền thống,
trang phục… Song nhân dân các dân tộc miền núi đều có đặc trƣng chung là cần cù
lao động, nghị lực, thật thà, chân chất, giàu lòng nhân ái và mến khách.
Cùng chung sức đồng lòng với nhân dân cả nƣớc trong tiến trình hàng nghìn
năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, lại sống ở địa bàn có vị trí quan trọng, địa thế hiểm
yếu nên nhân dân các dân tộc Hòa Bình có truyền thống yêu nƣớc đấu tranh rất lâu
đời. Ngay từ những năm đầu công nguyên, nhiều thủ lĩnh và nhân dân trong vùng
đã tham gia cuộc khởi nghĩa của hai bà Trƣng chống quân xâm lƣợc Đông Hán khi
hai bà Trƣng lập căn cứ huyện Lƣơng Sơn. Tiếp đó nhân dân Hòa Bình đã có nhiều
đóng góp trong cuộc kháng chiến chống quân Minh vào thế kỷ XV, chống quân
Mãn Thanh thế kỷ XVIII. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,
Hòa Bình đã cùng nhân dân cả nƣớc chiến đấu giành độc lập tự do cho Tổ quốc.
Không chỉ có truyền thống yêu nƣớc chống giặc ngoại xâm, nhân dân Hòa
Bình còn có truyền thống đấu tranh chống ách áp bức bóc lột của triều đình phong
kiến thối nát. Đất Hòa Bình từng là căn cứ của các cuộc khởi nghĩa nông dân do
13
14
tỉnh có cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp, đang chuyển dịch sang hƣớng công nghiệp
và dịch vụ, tốc độ đô thị hóa còn chậm. Kết cấu kinh tế xã hội này đã quy định
những điều kiện và đặc điểm của quá trình xây dựng đời sống văn hóa trong tỉnh.
Hòa Bình là cái nôi của văn hóa Việt - Mƣờng cổ, là một trong số ít vùng đất
có nền văn hóa lâu đời ở Việt Nam, vùng đất chứa đựng nhiều nét văn hóa, những
tập quán đặc sắc của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, là cơ sở để bảo tồn xây
dựng phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, hệ thống sông, hồ, rừng, các di sản vật thể và
phi vật thể phong phú, Hòa Bình có thể xây dựng đƣợc bản sắc, sự khác biệt về mặt
văn hóa và du lịch, góp phần xây dựng cốt cách văn hóa của con ngƣời Hòa Bình,
đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
1.1.2. Thực trạng đời sống văn hóa ở tỉnh Hòa Bình trước năm 2006
Trong xây dựng đời sống văn hóa, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã có những chỉ
đạo sát sao nhằm từng bƣớc xóa bỏ những tàn dƣ lạc hậu của chế độ cũ để lại và
dần xác lập những yếu tố mới của nền văn hóa XHCN.
Thời kì chung tỉnh Hà Sơn Bình, Đại hội đại biểu tỉnh Hà Sơn Bình lần I
(1977) đã xác định phƣơng hƣớng nhiệm vụ 2 năm 1977 - 1978 và đến năm 1980
là: “Tăng cƣờng đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc…
tiến hành mạnh mẽ và đồng thời ba cuộc cách mạng… Phấn đấu xây dựng Hà Sơn
Bình thành tỉnh giàu đẹp và kiên cƣờng cách mạng” [6, tr. 498]. Đại hội nhấn mạnh
trong 2 năm 1977 - 1978, phấn đấu đạt các mục tiêu cơ bản, trong đó phải “Cải
thiện một bƣớc đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động”.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Sơn Bình lần II (1979) tiếp tục xác định mục
tiêu nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đến năm
1980, công tác văn hóa và thông tin cổ động có bƣớc phát triển, từng bƣớc góp phần
xây dựng nền văn hóa mới, gia đình văn hóa mới và con ngƣời mới XHCN. Cuộc
Những năm 1986 - 1991, các hoạt động văn hóa thông tin tuyên truyền và
phát thanh đƣợc chỉ đạo tập trung vào phục vụ 3 chƣơng trình kinh tế lớn, xây dựng
nếp sống văn hóa mới, đấu tranh chống tiêu cực… Hai năm một lần, tỉnh tổ chức
thành công ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc, các hội diễn văn nghệ quần
chúng; tổ chức và tham gia các triển lãm thành tựu kinh tế, văn hóa. Các huyện thị
16
trong tỉnh đều chỉ đạo có kết quả phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Ở
308 cơ sở xã, phƣờng trong tỉnh có trên 300.000 ngƣời tập luyện thể dục thƣờng
xuyên [6, tr. 601]. Dù có nhiều tiến bộ trong đời sống văn hóa, song các tệ nạn xã
hội còn nhiều, nhất là các hủ tục trong ma chay cƣới xin, khôi phục đình chùa miếu
mạo, nhà thờ mang tính mê tín có chiều hƣớng phát triển. Đạo đức xã hội nhiều mặt
suy thoái. Tệ nạn nghiện hút, mại dâm trỗi dậy ở các địa bàn thị xã.
Để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đƣa Nghị quyết Đại hội VII của Đảng vào
cuộc sống, phấn đấu thực hiện “dân giàu, nƣớc mạnh”, tháng 9/1991 Quốc hội
quyết định chia tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Tây.
Tháng 3/1992 Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần XI đã đề ra mục tiêu,
nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Đảng bộ trong những năm 1991 - 1995, trong đó
có mục tiêu “Nâng cao chất lƣợng y tế, văn hóa giáo dục, tăng cƣờng sức khỏe cho
mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh” [6, tr. 621]. Tháng 3/1993 Hội nghị lần thứ 4 Ban
Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XI) họp quán triệt tinh thần và nội dung các nghị
quyết Hội nghị Trung ƣơng 4. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của tỉnh, Hội nghị đề ra
kế hoạch và biện pháp cụ thể thực hiện nghị quyết Trung ƣơng 4 về lĩnh vực văn
hóa - văn nghệ là: “Đẩy mạnh hoạt động sáng tác văn thơ, ca, kịch phục vụ nhiệm
vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, sinh đẻ kế hoạch… chống lại các hủ tục
mê tín dị đoan; Phấn đấu 50% số xã có đội thông tin, đội cồng chiêng, đội bóng,
30% số xã có đội điền kinh, mỗi xã có 1 đội văn nghệ, mỗi huyện có một đội thông
tin lƣu động” [6, tr. 635].
sở phát triển sâu rộng và có tác dụng thiết thực. Năm 2005, toàn tỉnh có 60% số hộ;
47.6% xóm, bản; 73% trƣờng học, 59% khối cơ quan huyện, thị và 80% đơn vị
trong lực lƣợng vũ trang đạt tiêu chuẩn văn hóa [26, tr. 37]. Phong trào thể thao
quần chúng đƣợc mở rộng. Số ngƣời luyện tập thể thao chiếm 16% dân số toàn tỉnh.
Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh mở thêm nhiều chuyên mục mới, tăng thời lƣợng
phát sóng, từng bƣớc đáp ứng nhu cầu thƣởng thức của nhân dân. Đặc biệt năm
2005, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh đã phát chƣơng trình tiếng Mƣờng trên cả
hai hệ phát thanh và truyền hình, góp phần đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao
của đông đảo nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Trong những năm 1975 - 2005, dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ Hòa Bình, công
tác xây dựng đời sống văn hóa đã đạt đƣợc những thành tựu nhất định. Tuy nhiên
18
vẫn còn nhiều khó khăn hạn chế nhƣ: Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa, gia
đình văn hóa chƣa thật vững chắc, còn nặng về hình thức. Các thiết chế văn hóa
phục vụ cho nhu cầu vui chơi giải trí còn thiếu, chƣa đƣợc quan tâm, đầu tƣ đúng
mức. Đội ngũ làm công tác văn hóa, nhất là ở các làng, bản có trình độ cao còn ít,
chƣa phát huy hết vai trò của mình. Hoạt động văn hóa thể thao chƣa thƣờng xuyên,
hiệu quả chƣa cao. Các hủ tục trong việc cƣới, việc tang vẫn còn tồn tại…
Những hạn chế trên đặt ra yêu cầu bức thiết, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
phải có những chủ trƣơng, chính sách và biện pháp phù hợp để nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, tỉnh
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
1.2. Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2006
đến năm 2010
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
1.2.1.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tháng 4 năm 2006, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã diễn ra.
vào từng khu dân cƣ, từng gia đình, từng ngƣời, hoàn thiện hệ giá trị mới của con
ngƣời Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thồng của dân tộc và tiếp thu tinh hoa
văn hóa của loài ngƣời, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại. Nâng
cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân
dân” [23, tr. 213]
Đại hội đã đƣa ra các định hƣớng về phát triển văn hóa: “Xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội và con ngƣời trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế. Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung
tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội.
Xây dựng đời sống văn hóa tiên tiến, thúc đẩy sáng tạo văn hóa và xây dựng thiết
chế văn hóa. Đặc biệt nâng cao văn hóa lãnh đạo và quản lý, văn hóa trong kinh
doanh… chống những hiện tƣợng phản văn hóa, phi văn hóa.
Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trƣờng văn hóa
lành mạnh. Bồi dƣỡng các tài năng văn hóa, khuyến khích sáng tạo nhiều tác phẩm
20
văn học, nghệ thuật tiêu biểu có giá trị cao về tƣ tƣởng và nghệ thuật, tƣơng xứng
với sự nghiệp giữ nƣớc và dựng nƣớc, đổi mới và phát triển dân tộc. Nâng cao chất
lƣợng và mở rộng diện phổ biến các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu hƣởng thụ
văn hóa ngày càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân.
Phát triển mạnh và nâng cao chất lƣợng các hoạt động thông tin, báo chí, phát
thanh, truyền hình, xuất bản và phát hành sách trên tất cả các vùng, chú ý nhiều hơn
đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin với bƣớc đi
thích hợp cho từng loại hình, từng vùng. Huy động các nguồn lực và sức sáng tạo
trong xã hội để đầu tƣ xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa, tổ chức các
hoạt động văn hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham