Đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở Tây Nam Bộ (Qua tư liệu khảo cổ học) - Copy - Pdf 41

Header Page 1 of 123.

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
**********

NGUYỄN THỊ SONG THƯƠNG

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA
CƯ DÂN ÓC EO Ở TÂY NAM BỘ
(Qua tư liệu khảo cổ học)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2015

Footer Page 1 of 123.


Header Page 2 of 123.

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
**********



Nguyễn Thị Song Thương

Footer Page 3 of 123.


Header Page 4 of 123.

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ VÀ LỊCH SỬ
NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ÓC EO
1.1. Những khái niệm liên quan đến đề tài

Trang
3
8

1.2. Điều kiện hình thành văn hóa Óc Eo

8
13

1.3. Lịch sử nghiên cứu và các dấu tích văn hóa Óc Eo

23


159

KẾT LUẬN

164

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

172

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

173

PHỤ LỤC

187

Footer Page 4 of 123.


Header Page 5 of 123.

2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Footer Page 5 of 123.

DSVH


ĐBSCL

: Đồng bằng sông Cửu Long

TNB

: Tây Nam Bộ

NXB

: Nhà xuất bản

VHNT

: Văn hóa Nghệ thuật

VHTT

: Văn hóa Thông tin

VH, TT & DL

: Văn hóa, Thể thao và Du lịch

CTQG

: Chính trị Quốc gia

KHXH

3

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
1.1. Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa khảo cổ, được giới khoa học biết đến
từ cuối thế kỷ XIX. Tên gọi của nền văn hóa này do nhà khảo cổ học người Pháp
Louis Malleret đặt ra sau cuộc khai quật vào tháng 4 năm 1944 ở cánh đồng Óc Eo
(Thoại Sơn - An Giang). Cho đến nay, hàng loạt di tích ở khắp các tỉnh TNB khác
được khai quật. Các di tích khai quật đã làm lộ diện về sự tồn tại của một nền văn hóa
khảo cổ, đều có chung đặc điểm, tính chất văn hóa với khu di tích Óc Eo (An Giang).
Văn hóa Óc Eo tồn tại trong một không gian rộng và một thời gian dài, trải
qua nhiều thời kỳ khác nhau; nó được nhìn nhận là chứng cứ vật chất của một
“vương quốc” lớn có địa vực bao trùm cả một vùng Nam Đông Dương mà thư tịch
cổ Trung Quốc gọi là “Phù Nam”. Bên cạnh đó, khu di tích Óc Eo luôn được coi
như một điểm giao hội của văn hóa Đông - Tây, là “kho” hàng hoá lớn trên con
đường thương mại quốc tế, giữa hai châu lục Âu - Á. Cho đến nay, hàng trăm di
tích Óc Eo đã được phát hiện, phân bố trên diện rộng, rộng hơn về không gian,
nhiều hơn về số lượng các di tích phát hiện trước năm 1975. Thêm vào đó, số lượng
các hiện vật đã được phát hiện, sưu tầm ngày một nhiều, hiện đang lưu giữ trong
các bảo tàng trung ương và bảo tàng các tỉnh, tiêu biểu là Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam tại TP.HCM, BTAG, BTKG, BTCT, BTĐT, BTLA...
1.2. Các nguồn tư liệu quan trọng trên giúp cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu
nhiều lĩnh vực khác nhau về văn hóa Óc Eo. Đến nay, đã có hàng ngàn bài viết, sách
chuyên khảo, kỷ yếu hội nghị và các báo cáo khảo sát điều tra liên quan tới nền văn
hóa Óc Eo. Đây là kết quả nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước, nội
dung bao gồm: thông báo các phát hiện mới; tình trạng của các di tích, các loại hình
di vật phát lộ; nghiên cứu các vấn đề về nguồn gốc hình thành, sự phát triển của văn
hóa Óc Eo; các quan hệ giao lưu văn hóa và thương mại với bên ngoài... Một số khía
cạnh về đời sống văn hóa xã hội của cư dân được đề cập tới qua việc nghiên cứu các
tài liệu lịch sử và so sánh với tài liệu khảo cổ học.

cấp cho các nhà khoa học nguồn tư liệu cập nhật về văn hóa Óc Eo.
- Trên cơ sở nguồn tư liệu văn hóa Óc Eo, luận án hướng tới việc phân định
các di tích di vật là minh chứng cho đời sống văn hóa xã hội Óc Eo. Từ đó, tìm hiểu
đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Óc Eo trong khung cảnh chung của quá
trình phát triển từ giai đoạn tiền - sơ sử lên hình thức tổ chức nhà nước ở miền
TNB; tìm hiểu sự biến đổi văn hóa của cư dân Óc Eo ở miền TNB trong quá trình
giao lưu thương mại với các nền văn minh khác, nhằm xác định những nét đặc
trưng của cư dân Óc Eo ở miền TNB.

Footer Page 7 of 123.


Header Page 8 of 123.

5

- Bằng phương pháp tiếp cận văn hóa học, công trình làm rõ những khía
cạnh đời sống văn hóa xã hội của cư dân Óc Eo ở miền TNB, góp phần nâng cao
nhận thức về đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo ở một giai đoạn lịch sử quan trọng
của vùng đất này.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các tư liệu khảo cổ học, bao gồm các di
tích trọng điểm, các sưu tập hiện vật trong các bảo tàng, các bài báo cáo khảo cổ
học, các công trình nghiên cứu di tích, di vật dưới góc độ khảo cổ học…
- Bên cạnh đó, các tư liệu thành văn như: thư tịch cổ và các công trình
nghiên cứu có liên quan đến đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo ở miền TNB là
những tài liệu bổ trợ, soi rọi thêm cho tư liệu khảo cổ học.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Dấu vết của văn hóa Óc Eo được phát hiện trong phạm vi

được đặc biệt chú trọng.
Mặc dù phương pháp phỏng vấn không được áp dụng cho các đối tượng khảo
cổ học, tác giả luận án đã tham gia một số đợt khảo sát khảo cổ học tới các di tích và
các bảo tàng, thảo luận cùng với các nhà khảo cổ học về mối liên hệ của các bộ sưu
tập với di tích và địa tầng khảo cổ học, cũng như môi trường sinh thái cổ. Từ đó có cơ
sở để phân tích và phục dựng lại đời sống văn hóa của một xã hội nay không còn.
4.3. Trong quá trình phân tích tư liệu khảo cổ học, việc đối chiếu và so sánh
với các nguồn sử liệu và tư liệu thành văn khác được thực hiện trên cơ sở áp dụng
một số kết quả nghiên cứu đa ngành về lịch sử nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng,
phương thức sản xuất, giao lưu văn hóa … nhằm nhận ra hệ thống các hình thái
biểu thị giá trị của xã hội và cư dân Óc Eo.
5. NHỮNG KẾT QUẢ VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
5.1. Luận án tổng hợp, hệ thống hoá tư liệu khảo cổ học, kết quả nghiên cứu
văn hóa Óc Eo và các nguồn tư liệu khác, nhằm cung cấp một cách cập nhật và có
hệ thống nguồn tư liệu về văn hóa Óc Eo ở TNB; giúp cho việc nhận thức nội dung
văn hóa Óc Eo ở TNB được rõ ràng hơn, nhất là lĩnh vực đời sống văn hóa - xã hội.
5.2. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, so sánh, đối chiếu những dấu tích
khảo cổ học và các sưu tập di vật của cư dân Óc Eo được phát hiện ở miền TNB,
luận án cung cấp những kiến giải về đời sống vật chất, tinh thần và làm rõ các đặc
điểm của nó nhằm có cái nhìn khách quan, toàn diện về bức tranh văn hóa thời sơ
sử ở TNB, Việt Nam.
5.3. Bằng việc so sánh, đối chiếu với các tư liệu ở các khu vực khác, luận án
xác định những đặc trưng văn hóa của cư dân Óc Eo ở TNB và sự biến đổi đời sống
văn hóa của cư dân Óc Eo trong quá trình giao lưu với các cư dân láng giềng.
Footer Page 9 of 123.


Header Page 10 of 123.

7

khái niệm này để làm công cụ lý luận cho nội dung luận án.
Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hoá nhân loại.
Ngay những bước đi lịch sử đầu tiên của mình, loài người đã gắn liền với văn hóa.
Nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt
so với những con vật khác trong thế giới động vật. Theo Từ điển tiếng Việt (Viện
Ngôn ngữ học, Hà Nội, 2000) [33,tr.35-36] thì từ văn hóa có 5 nghĩa:
1. Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo ra trong quá trình lịch sử (Thí dụ: kho tàng văn hóa Việt Nam).
2. Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh
thần – nói một cách tổng quát (Thí dụ: phát triển văn hóa).
3. Tri thức, kiến thức khoa học (Thí dụ: Trình độ văn hóa).
4. Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh (Thí
dụ: sống có văn hóa).
5. Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở tổng
thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Thí dụ: văn
hóa Đông Sơn).
Như vậy, có thể thấy văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa, thường được xem
xét trên nhiều khía cạnh khác nhau. Đến nay đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa,
trong đó có rất nhiều định nghĩa được các nhà khoa học ghi nhận, được nhiều giáo
trình công bố, mà chúng tôi thấy phù hợp với nội dung của luận án.
Quan niệm văn hóa của nguyên Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor
nêu ra nhân dịp phát động “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” (1988 - 1997):
Footer Page 11 of 123.


Header Page 12 of 123.

9

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của



Header Page 13 of 123.

10

Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng, mỗi định nghĩa
đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa. Từ góc độ
tiếp cận và mục đích nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã cố gắng làm sáng tỏ
những yếu tố căn cốt nhất của văn hóa. Còn theo quan điểm của tôi, với hướng nghiên
cứu một nền văn hóa khảo cổ, thì Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất (văn hóa vật
thể) và tinh thần (phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động, sản
xuất, được tích luỹ từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ở đây, tôi xem xét các giá trị tinh thần không phải ở những phong tục tập
quán, tôn giáo tín ngưỡng và những giá trị văn hóa hiện hữu, mà tiếp cận nó thông
qua những sản phẩm vật chất (văn hóa vật thể) đã nằm sâu dưới lòng đất để làm rõ
yếu tố tinh thần trong đó.
Khảo cổ học là ngành khoa học nghiên cứu những nền văn hóa của loài
người qua quá trình phục chế, tìm hiểu tài liệu và phân tích những dữ liệu như: di vật,
di tích, hài cốt… Mục đích của khảo cổ học là đưa ra những lời giải đáp đầy đủ về
nguồn gốc, sự phát triển và tiến trình tiến hoá, bề dày lịch sử của loài người và của
văn hóa loài người. Đây là môn khoa học duy nhất đã thu thập và giải mã những
thông tin về thời tiền sử. Nó giúp cho con người hiểu biết về đời sống văn hóa - xã
hội của cư dân cổ đại [101, tr.29].
Văn hóa khảo cổ: là nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác
định trên cơ sở tổng thể của một nhóm di tích khảo cổ có những đặc điểm giống
nhau, phân bố liền khoảnh, tồn tại trong một khung thời gian nhất định, có một số
về đặc trưng di tích, di vật ổn định phân biệt rõ với các văn hóa khác và chủ nhân
của chúng thường là một tộc người nhất định [118, tr.14-15].
Trong một nền văn hóa khảo cổ có thể tồn tại nhiều loại hình văn hóa khác

các thủ lĩnh khác (chư hầu). Lãnh vực của vương quốc Phù Nam bao trùm một vùng
rộng lớn, gồm phía Nam Việt Nam, Malaysia, một phần Campuchia và Thái Lan.
Đời sống văn hóa là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam từ
những năm 80, tuy nhiên đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa nào thống nhất, có
tính chất thuyết phục.
Theo tác giả Trần Độ thì “phải hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng, không
bó hẹp tính văn hóa vào một số lĩnh vực đời sống văn hóa nào đó mà coi đời sống
văn hóa là một khái niệm rộng rãi, bao quát mọi mặt của đời sống xã hội: sản xuất,
trao đổi, tiêu dùng, nhận thức, sáng tạo” [36; tr.24].
Theo GS.TS Hoàng Vinh “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã
hội, mà đời sống xã hội là một phức thể của những hoạt động sống của con người,
nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó”. Trong đó “Nhu cầu vật

Footer Page 14 of 123.


Header Page 15 of 123.

12

chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể, còn nhu cầu tinh
thần giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức một nhân cách văn
hóa” [153, tr.149]. Như vậy, ở đây tác giả nhìn nhận đời sống văn hóa gắn liền với
những nhu cầu cơ bản của con người, con người không thể tách rời hai nhu cầu thiết
yếu, đó là nhu cầu về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng chỉ có
ý nghĩa tương đối vì thực chất, nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần thường thống
nhất với nhau trong hoạt động sống của con người.
Theo GS. TS Đỗ Huy “đời sống văn hóa là hoạt động sản xuất của con người
trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Sản xuất của con người không chỉ duy
nhất tạo ra cuộc sống cá nhân, còn tạo ra đời sống nhiều người khác. Hoạt động sản

đạo, ý thức cộng đồng, tinh thần khoan dung, đề cao nghĩa tình, đạo lý, lạc quan,
yêu đời. Đó là các giá trị về đạo đức, pháp lý và thẩm mỹ của dân tộc như lương
tâm, phẩm giá, danh dự, trách nhiệm…Với đề tài này thì đời sống văn hóa tinh thần
(những phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, các loại hình nghệ thuật…) được
thể hiện thông qua các di vật, tức là thông qua đời sống vật chất.
Như vậy, đời sống văn hóa mà chúng ta hiểu ở đây là một lát cắt trong đời
sống chung của xã hội. Nó là tổng hoà của những yếu tố đời sống vật chất và đời
sống tinh thần do con người sáng tạo ra.
1.2. Điều kiện hình thành văn hóa Óc Eo
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Vùng ĐBSCL ngày nay là địa phận của 13 tỉnh, thành phố gồm: Long An,
Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, An Giang, Kiên
Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, với diện tích tự nhiên khoảng
40.604 km2. Phía Đông Bắc giáp vùng Đông Nam Bộ, Tây Bắc giáp Campuchia, Tây
Nam giáp vịnh Thái Lan, Đông Nam giáp Biển Đông. Được xác định từ vĩ độ 8030’
Bắc - 10040’ Bắc và kinh độ 104026’ Đông - 106040’ Đông. Nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo, có nền nhiệt độ cao và ổn định. Nhiệt độ
trung bình phổ biến khoảng từ 25 - 280C. Một năm chia làm hai mùa: mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.
Vùng TNB có hai con sông lớn chảy qua: sông Tiền (ở phía Bắc) và sông
Hậu (ở phía Nam) là hạ lưu của hệ thống sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Trạng
(Trung Quốc).
Sông Tiền nhận 2/3 lưu lượng nước của sông Mê Kông, từ biên giới Campuchia
đến cửa sông dài khoảng 200 km, chạy qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long,
Trà Vinh, Bến Tre. Đến Cai Lậy (Tiền Giang), sông Tiền chia làm bốn con sông đổ ra
biển bằng 6 cửa: sông Mỹ Tho (Cửa Đại, Cửa Tiểu); sông Cổ Chiên (cửa Cổ Chiên,
cửa Cung Hầu); sông Hàm Luông (cửa Hàm Luông) và sông Ba Lai (cửa Ba Lai).
Footer Page 16 of 123.



dọc sông Hậu và sông Tiền có địa hình tương đối cao hơn (1 - 3m) do quá trình bồi
đắp phù sa. Dựa vào phân vùng sinh thái đất nông nghiệp, vùng ngập lũ TNB có thể
chia thành 4 tiểu vùng chính: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, khu vực Tây
sông Hậu và khu vực giữa sông Tiền - sông Hậu [5, tr.3-4].
Footer Page 17 of 123.


Header Page 18 of 123.

15

Quá trình hình thành và biến đổi của vùng TNB cùng với những đặc điểm về
môi trường sinh thái là một trong những yếu tố rất cần thiết để hiểu hơn về sự phân
bố và cuộc sống của các cộng đồng cư dân vùng này qua các thời kỳ lịch sử.
Theo các nhà địa chất, quá trình hình thành vùng đất TNB diễn ra trong thời
gian khá dài và phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quá trình biển tiến,
biển thoái, vận động của vỏ trái đất qua hàng trăm triệu năm, các hoạt động bào
mòn và tích tụ… đã tạo nên những vùng sụt lún như vùng Đồng Tháp Mười hay
vùng trồi lên cao như dãy Bảy Núi (An Giang), đảo Phú Quốc (Kiên Giang)…
Trong đó, các đợt biển tiến, biển thoái có tác động mạnh mẽ nhất đến sự hình thành
vùng đất Nam Bộ [PL1.2, tr.190].
Đợt biển tiến đầu tiên cách nay khoảng 11.000 đến 6.000 năm thì đạt đến
mức cực đại, cao hơn mực nước biển hiện tại 4 - 5m. Thời điểm đó, toàn vùng TNB
ngày nay tràn ngập nước mặn, trở thành vịnh biển nông rộng lớn. Những ngọn đồi,
quả núi trong vùng Bảy Núi (An Giang), Hà Tiên (Kiên Giang) đều trở thành những
hòn đảo nhấp nhô trong vịnh biển. Giai đoạn biển tiến này đã phân hoá đồng bằng
thành nhiều vùng có đặc điểm khác nhau: biển nông, biển nông ven bờ, đầm lầy ven
biển… Tại các vùng biển nông ven bờ động vật thân mềm, da gai, san hô phát triển
rất phong phú... Đặc biệt, thời kỳ này hình thành và phát triển phong phú thực vật
nhiệt đới, tạo điều kiện cho sự hình thành các vùng chứa than bùn rộng lớn ở thời

của các dòng chảy ngày càng bồi tụ mạnh về phía biển.
Tiếp đến, từ khoảng giữa thế kỷ VI, lại bắt đầu đợt biển tiến mới kéo dài đến
800 năm (từ khoảng năm 550 đến khoảng năm 1150 SCN), với mực nước biển dâng
cao trung bình +0,8m. Nước mặn đã tràn ngập các vùng đất thấp ven biển, có thể xâm
nhập sâu vào những vùng trũng không có hệ thống giồng cát che chắn (vùng rừng U
Minh, Tứ Giác Long Xuyên). Ngoài ra, nước mặn còn theo các sông rạch, lan toả
vào các vùng trũng trong lòng châu thổ (vùng Đồng Tháp Mười). Sự xâm nhập của
nước biển đã ảnh hưởng đến cảnh quan tự nhiên, môi trường sinh thái tại những địa
bàn thấp trũng của châu thổ. Đến giữa thế kỷ XII về sau, mực nước biển dần hạ thấp
rồi dừng lại ở mức hiện tại. Vùng TNB bước vào thời kỳ phát triển mới theo chiều
hướng không ngừng mở rộng, phù hợp với quy luật tự nhiên của nó [27, tr.20-21].
Theo thư tịch cổ: Khang Thái và Chu Ứng là quan triều đình nhà Ngô thời
Tam Quốc (230 - 280) được cử đi sứ đến nước Phù Nam. Khi về nước, hai vị quan
này viết một vài quyển sách nói về chuyến đi của mình đến đất nước Phù Nam như:
Phù Nam ký, Phù Nam thổ tục, Phù Nam thổ tục truyện, Phù Nam dị vật chí. Tuy
nhiên, các sách này đều đã thất lạc, chỉ còn biết đến qua các trích dẫn trong một số
thư tịch cổ được ghi chép từ thế kỷ V - VI SCN như: Lương Thư, Nam Tề Thư, Tuỳ
Thư, Đường Thư... Những nội dung này đã cho chúng ta những hình dung về địa
Footer Page 19 of 123.


Header Page 20 of 123.

17

hình, thiên nhiên và môi trường sinh thái vùng TNB thời bấy giờ (tương đương với
thời kỳ biển thoái kéo dài khoảng 800 năm SCN).
Theo Nam Tề Thư: Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh
lớn phía Tây biển lớn, diện tích rộng hơn 3.000 dặm, nước ấy có một con sông lớn
chảy theo hướng tây ra biển [120, tr.268]. Theo Lương thư: Nước phù Nam cách

18

Một số thư tịch cổ ghi lại cảnh quan vùng TNB từ thế kỷ XII trở về sau đều
có những mô tả khá giống nhau như: ký sự của Châu Đạt Quan trong“Chân Lạp
phong thổ ký” có đoạn viết: Từ Chân Bồ (Bà Rịa hay Vũng Tàu) theo hướng
Khôn-Thân (Tây Nam - 1/6 Nam), đi ngang qua biển Côn Lôn và vào cửa sông.
Sông này có hàng chục ngả, nhưng chỉ có thể vào được cửa thứ tư (Cửa Tiền
Giang vào Mỹ Tho ngày nay), các ngả khác có nhiều bãi cát thuyền lớn không đi
được. Nhìn lên bờ thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng,
thoáng qua không dễ gì biết được lối vào [116, tr.22]. Có đoạn khác lại viết: Bắt
đầu vào Chân Bồ hầu hết cả vùng đều là bụi rậm của khu rừng thấp, những cửa
rộng của con sông lớn chạy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những cây
cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú xum xuê. Tiếng chim hót và thú vật
kêu vang dội khắp nơi. Vào nửa đường trong cửa sông, mới thấy lần đầu cánh
đồng ruộng bỏ hoang, không có một gốc cây nào. Xa hơn tầm mắt chỉ toàn là cỏ
cây đầy rẫy. Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tụ họp từng bầy trong vùng này. Tiếp
đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm [116, tr.73]… Đây là
quang cảnh của vùng TNB mà Châu Đạt Quan ghi lại trong chuyến đi sứ đến nước
Chân Lạp vào khoảng năm 1296 - 1297 SCN.
Vào cuối thế kỷ XVIII, trong cuốn sách “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn có
những mô tả: Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ cửa biển Cần Giờ, Soài Lạp, Cửa Đại,
Cửa Tiểu… toàn là rừng rậm hàng mấy trăm dặm [27, tr.24]. Qua mô tả từ các thư
tịch cổ cho thấy, từ thế kỷ thứ XII đến cuối thế kỷ XVIII vùng TNB phát triển theo
chiều hướng ngày càng hoang dã, cảnh vật thiên nhiên như chưa từng có ai khai phá.
Về khí hậu, theo các nhà nghiên cứu, những đặc điểm của các nhóm cổ sinh
đặc biệt là bào tử phấn hoa, cùng với đặc điểm của lớp vỏ phong hoá cổ có thể xác
định được khí hậu thời kỳ Pleistocen ở đồng bằng Nam Bộ có chế độ nhiệt đới gió
mùa rất rõ [34, tr.16-17]. Thảm thực vật toàn vùng đã phản ánh điều kiện khí hậu
thời kỳ Óc Eo mang tính nhiệt đới có sự xen kẽ nóng khô và nóng ẩm.
Như vậy, có thể thấy, điều kiện thiên nhiên và khí hậu những thế kỷ đầu

các di cốt người phát hiện trong cuộc khai quật tại An Sơn năm 2009 đã được phân
tích bằng nhiều phương pháp khác nhau. Kết quả cho thấy có 3 người trưởng thành
(1 nữ 40-49 tuổi, 1 nữ 20-29 tuổi, 1 nam 30-39 tuổi), 3 trẻ em từ 1-4 tuổi và 1 thiếu
niên từ 10-14 tuổi. Việc phân tích nhân chủng cũng đi đến nhận định rằng trong khi
người An Sơn có các chỉ số răng gần gũi với răng của cư dân Jomon và Hoà Bình
thời kỳ Holocene, các số đo sọ cũng cho thấy sự gần gũi với cư dân Đông Sơn thời
kỳ Đồ Đồng, người Việt và những người Đông Á hiện đại. Điều đó gợi ý rằng cư
dân An Sơn bảo lưu một số đặc điểm gien của các nhóm cư dân bản địa Đông Nam

Footer Page 22 of 123.


Header Page 23 of 123.

20

Á sớm hơn, nhưng cũng xuất phát từ một quá trình di cư từ các khu vực khác của
Đông Á [155, tr.165].
Tại địa điểm Giồng Phệt (Thành phố Hồ Chí Minh), trong đợt khai quật
tháng 2 năm 1993 đã phát hiện 59 mộ chum nhưng cho đến nay, chưa có kết quả
xác định. Vào tháng 4 năm 1993, các nhà khảo cổ tiếp tục phát hiện 5 mộ táng và 1
mộ vò, tuy nhiên, các di cốt không còn nguyên vẹn. Đến cuối năm 1993, cũng tại
địa điểm này, các nhà khảo cổ học tiếp tục phát hiện 3 mộ đất và 3 mộ chum. Trong
đó, có một bộ di cốt có hộp sọ còn tương đối nguyên được xác định giới tính nam,
khoảng 50-60 tuổi, có quan hệ gần gũi với sọ của người Mongoloid, cư dân Đông
Sơn (nhóm loại hình Đông Nam Á).
Tại địa điểm Giồng Cá Vồ, các cuộc khai quật trong các năm 1993, 1994 và
1997 đã phát hiện 359 mộ chum và mộ đất, trong đó 24 sọ (13 sọ nam và 11 sọ nữ)
đã được Nguyễn Lân Cường đưa đi nghiên cứu. Tuy nhiên chỉ 6 sọ có đủ yếu tố xác
định nhân chủng, trong đó có 5 sọ nữ khá gần với những sọ nữ thuộc nhóm loại

người cổ. Trong đó, sọ kí hiệu ĐT.84.TS.X.03 có dáng rất giống sọ Cạnh Đền (sọ
Thnal Mroy 24.359, nữ 30 tuổi). Lê Trung Khá cho rằng, sọ ở Gò Tháp và Cạnh
Đền thuộc cùng thời kì văn hóa Óc Eo hay sớm muộn hơn đôi chút, có nhiều nét
tương tự sọ nữ cổ ở An Sơn và Samrongsen và mang đặc điểm của người Thượng,
nhóm người được xếp vào tiểu chủng hay loại hình nhân chủng Indonesien. Di duệ của
lớp người này hiện nay vẫn còn ở Đông Nam Á lục địa và hải đảo [59, tr.247-250].
Một sọ cổ (OE84.TS.X01) của cá thể nam, khoảng 30 tuổi phát hiện ở Lung
Lớn cũng có dáng dấp giống sọ Gò Tháp nhưng kích thước lớn và thô hơn. Kết quả
nghiên cứu cho thấy sọ có thể có cùng niên đại với sọ Gò Tháp và Cạnh Đền, thuộc
chủng Indonesian [59, tr.247-250].
Tại di tích Nhơn Thành (Cần Thơ), phát hiện 1 sọ nam khoảng 55-60 tuổi và 2 sọ
trẻ em khoảng 8-11 tuổi, được Nguyễn Quang Quyền xác định thuộc loại hình Thượng
hoặc Việt. Cũng tại di tích này, 2 sọ khác của một nam và một nữ, đều ở độ tuổi 60
được Nguyễn Lân Cường và nguyễn Kim Thuỷ xác định thuộc nhóm người Việt.
Tại địa điểm Gò Cây Tung (An Giang), trong các cuộc khai quật năm 19931994 đã phát hiện 19 ngôi mộ và có tới 23 cá thể, có niên đại khoảng thế kỉ 6-5
TCN đến 4-5 SCN. Các di cốt đã được xác định gồm 7 nữ, 9 nam và 7 cá thể không
xác định, hầu hết các cá thể ở độ tuổi 20-50, 1 cá thể gần 70 tuổi. Các sọ thuộc loại
ngắn, mặt thuộc loại rộng trung bình, nghiêng về hẹp ở nữ và rộng ở nam, được cho
là gần gũi với sọ của cư dân Thái Lan, Việt và cư dân Đông Sơn cổ (nhóm loại hình
Đông Nam Á), khác biệt hẳn với người Thượng và người Khmer [19, tr.188-189].
Như vậy, từ những nghiên cứu nhân chủng, chủ yếu phát hiện trong các di
tích tiền Óc Eo và Óc Eo sớm, có thể thấy sự có mặt của nhiều nhóm tộc người khác
Footer Page 24 of 123.


Header Page 25 of 123.

22

nhau trên vùng đất Nam Bộ. Trong đó, các nhà nghiên cứu nhân chủng cho rằng,




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status